1. Khái niệm quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự làm nảy sinh nhiều quan hệ khác nhau giữa toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và những người liên quan. Các quan hệ này phát sinh trong tố tụng dân sự - từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến khi thi hắnh xong bản án, quyết định của toà án. Các chủ thể tham gia vào các quan hệ này với những động cơ, mục đích nhất định nhưng nhận thức của họ rất khác nhau dẫn đến cách xử sự của họ có thể khác nhau. Để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành.án dân sự nhanh chóng và đúng đắn, luật tố tụng dân sự đã tác động lên các quan hệ này bằng việc quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các quan hệ đó, tức là điều chỉnh nó. Theo lý luận Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật thì quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội. Do vậy, các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự nói trên là quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là quan hệ giữa toà án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng; người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và những người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự và được các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh.

Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật. Tuy vậy, tính đa dạng và phong phú của các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự đã dẫn đến Sự đa dạng và phong phú của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Như tất cả các quan hệ pháp luật khác, các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự đều được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở nền kinh tế xã hội.

2. Thành phần của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, Khách hể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, Nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự không có sự bình đẳng giữa các chủ thể, trong đó có Tòa án, Cơ quan thi hành án là các chủ thể có vai trò quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân sự. Vụ việc dân sự là vụ việc phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Tòa án giải quyết.Vụ việc dân sự được chia làm 2 loại: vụ án dân sự và việc dân sự.
Vụ án dân sự là việc có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự mà họ không thể thương lượng được nên nhờ Tòa án giải quyết.
Việc dân sự là loại vụ việc dân sự mà phát sinh, chấm dứt, thay đổi các quan hệ pháp luật phải do tòa án xem xét quyết định như: Tòa án xem xét yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết; bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích hay đã chết; yêu cầu hủy bỏ việc kết hôn trái pháp luật,…

3. Thành phần của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

Là một yếu tố cấu thành cơ bản của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tính đa dạng của các quan hệ được các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh dẫn đến tính đa dạng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tuy vậy không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc xác định đúng các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.
Cũng như các quan hệ pháp luật khác quan hệ pháp luật tố tụng dân sự gồm 3 thành phần: Chủ thể, khách thể và nội dung.
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
Chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) thì chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản và người liên quan.
Tùy theo mục đích,vai trò tham gia tố tụng dân sự của các chủ thể này mà pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
Căn cứ vào mục đích tham gia tố tụng và địa vị pháp lí của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có thể phân thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Các chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự, tổ chức thi hành án dân sự, kiểm soát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng như tòa án, viện kiểm sát.
Nhóm 2: Các chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác như đương sự, người đại diện của đương sự.
Nhóm 3: Các chủ thể tham gia tố tụng để hỗ trợ tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự như người làm chứng, người giám định và người liên quan.
Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là việc giải quyết quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các đương sự hay việc giải quyết quan hệ pháp luật nội dung có chứa đựng những sự kiện pháp lý mà tòa án có nhiệm vụ xác định.
Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự có đầy đủ những đặc điểm của khách thể quan hệ pháp luật:
– Là cái mà các chủ thể mong muốn đạt được.
– Là động lực thúc đẩy các chủ thể tham gia quan hệ.
Khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự còn có đặc điểm riêng là lợi ích vật chất không hoàn toàn chi phối việc tham gia quan hệ của tất cả các chủ thể. Trong nhiều trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự xuất phát từ nghĩa vụ do pháp luật quy định.
Nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
Nội dung của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự gồm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

4. Quyền tố tụng dân sự là gì?

Quyền tố tụng dân sự là cách xử sự mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện. Tùy theo mục đích,tính chất tham gia tố tụng của các chủ thể mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho mỗi chủ thể các quyền tố tụng dân sự nhất định. Trong đó các quyền của tòa án,viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có tính chất đặc biệt,mang tính quyền lực nhà nước,ngoài các cơ quan ngày không thể chủ thể nào có.

5. Nghĩa vụ tố tụng dân sự là gì?

Nghĩa vụ tố tụng dân sự là cách xử sự bắt buộc mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tùy theo yêu cầu của việc giải quyết và tính chất tham gia tố tụng của các chủ thể mà pháp luật tố tụng dân sự quy định cho mỗi chủ thể các nghĩa vụ tố tụng dân sự nhất định. Trong đó,việc quy định cụ thể nghĩa vụ tố tụng dân sự của các đương sự là vấn đề rất cần thiết,tạo được điều kiện thuận lợi cho tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự.
=> Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của các chủ thể trong quá trình tố tụng dân sự có ý nghĩa tạo nên sự vận động và phát triển của tố tụng dân sự. Để đảm bảo được điều này luật tố tụng dân sự đã quy định việc áp dụng chế tài pháp lý đối với các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ

6. Đặc điểm của quan hệ pháp luật tổ tụng dân sự

Là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật, quan hệ pháp luật tố tụng dân sự mang đầy đú các đặc điểm của quan hệ pháp luật là quan hệ có ý chí, xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, nội dung được cấu thành bởi quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện được bảó đảm bằng sự cưỡng chế nhà nước. Tuy vậy, do quan hệ pháp luật tố tụng dân sự cụ thể là quan hệ nảy sinh giữa các chủ thể nhất định cổ quyền và nghĩa vụ pháp lý nên ngoài những đặc điểm chung của quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa, quan hệ pháp luật tố tụng dân sự còn có những đặc điểm riêng sau:

- Toà án thường là một bên của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Toà án là chủ thể đặc biệt duy nhất được thực hiện quyền lực của Nhà nước để giải quyết vụ việc dân sự, có quyền ra các quyết định buộc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan phải thi hành. Đê thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình toà án tham gia vào hâu hết các quan hệ nảy sinh trong tổ tụng nên trở thành chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

- Các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự phát sinh trong tố tụng và do luật tố tụng dân sự điều chỉnh. Việc giải quyết vụ việc dân sự làm phát sinh các quan hệ khác nhau giữa những cơ quan, tổ chức và những người tham giạ vào quá trình đó. Các quan hệ này được các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh nên trở thành quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Tuy vậy, dối với những quan hệ phát sinh ngoài tố tụng thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự nên không phải là các quan hệ pháp luật tố tụng dân Sự. Trên thực tế, quá trình giải quyết vụ , việc dân Sự có thể phát sinh nhiều quan hệ khác nữa như quan hệ giữa đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ttong việc công chứng, chứng thực bản sao các giấy tờ tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự; chửng thực việc uỷ quyền V.V.. Các quan hệ này cũng không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng dân sự mà thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính. Chỉnh vì thế, những quan hệ phát sinh trong quá trình tố tụng nhưng phải được luật tố tụng dân sự điều chỉnh mới là quan hệ pháp luật tô tụng dân sự.

- Các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự phát sinh, tồn tại trong một thể thống nhất. Tuỵ trong tố tụng, địa vị pháp lý của các chù thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự khác nhau nhưng hoạt động tổ tụng các chủ thể đều liên quan đến việc thực hiện mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, mỗi hành vi tố tụng của một chủ thể đều liên quan đến nhau, dẫn đến những hậu quả pháp lý đổi với nhiều chủ thể khác và góp phần tạo nên sự vận động và phát triển của quá trình tố tụng.

Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện thì toà án phải xem xét việc thụ lý vụ án. Khi giải quyết vụ án, toà án có quyền triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia tố tụng ... Chính điều này đã làm cho các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ tụng dân sự gắn kết lại với nhau, tồn tại cùng nhau.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê