1. Khái quát biện pháp tạm giam 

- Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

- Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

- Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

- Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

>> Xem thêm:  Quyền cơ bản của công dân là gì ? Ý nghĩa và nội dung quyền cơ bản của công dân ?

a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

b) Tiếp tục phạm tội;

c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;

d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

- Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

- Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.

 

2. Quyền của Bị can, bị cáo khi đưa ra lời khai

Trong hoạt động hỏi cung, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị can, bị cáo “không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội” (Điều 60, Điều 61). Quy định này bảo đảm cho bị can, bị cáo bị tạm giam thực hiện quyền được im lặng. Ngoài ra, quy định về việc ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hoạt động lấy lời khai, hỏi cung và trước khi hỏi cung, cơ quan điều tra phải thông báo thời gian, địa điểm hỏi cung cho người bào chữa, kiểm sát viên biết để tham gia (Điều 183, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), đã bảo đảm sự khách quan, công khai trong hoạt động tố tụng. Điều này giúp người bị tạm giam tự tin hơn trong việc cung cấp thông tin và đề xuất các biện pháp để bảo vệ mình.

 

>> Xem thêm:  Công dân là gì ? So sánh quyền con người và quyền công dân

3. Quyền của đương sự hoặc người đại diện của họ trong hoạt động giám định, định giá tài sản

Trong hoạt động giám định, định giá tài sản, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ; được xem kết quả, được bảo đảm thời hạn (các Điều 207 đến Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Quy định này bảo đảm cho người bị tạm giam quyền yêu cầu trưng cầu giám định, định giá lại để không bị thiệt hại, vì điều này liên quan đến hậu quả của tội phạm và trách nhiệm hình sự, trách nhiệm bồi thường dân sự mà người bị tạm giam phải gánh chịu. Thực tế thường thấy, người bị tạm giam thực hiện quyền yêu cầu giám định lại, định giá lại tài sản ở giai đoạn xét xử khi có hướng dẫn, tư vấn của người bào chữa là luật sư. Bị can, bị cáo thường không thực hiện quyền yêu cầu giám định lại, định giá lại vì họ không biết mình có quyền đó và cũng không có điều kiện để thực hiện các quyền này.

 

4. Quyền người bị tạm giam trong một số trường hợp nhất định

Theo quy định từ Điều 201 đến Điều 204 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, hoạt động khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra phải có sự tham gia của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải lập biên bản, chụp bản ảnh, lập biên bản lưu giữ đầy đủ dấu vết, mô tả dấu vết, để bảo đảm quyền cho người bị tạm giam khi xem xét lại các tình tiết mình bị buộc tội. Trong một số trường hợp, người bị tạm giam có thể được chứng kiến cuộc khám nghiệm hiện trường và đóng vai trong hoạt động thực nghiệm điều tra, nhằm kiểm tra, đối chiếu tính xác thực của tình tiết vụ án.

 

5.Các quyền khác một chủ thể bị áp dụng biện pháp tạm giam

a. Các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói quy định tại các Điều 189, 190, 191 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bắt buộc Kiểm sát viên phải tham gia giám sát để đảm bảo điều tra viên thực hiện đúng thủ tục, trình tự tố tụng.

b. Biện pháp điều tra đặc biệt được thiết lập mới tại Chương 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, các điều kiện để được áp dụng các thủ tục đặc biệt như: ghi âm, ghi hình bí mật, nghe điện thoại bí mật, thu thập bí mật dữ liệu điện tử, chỉ được áp dụng đối với những loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền và việc áp dụng phải do cơ quan cấp tỉnh áp dụng, có sự phê chuẩn của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh… đã tránh được tình trạng lạm dụng, vi phạm các quyền được bảo mật về thư tín, điện tín, bí mật đời tư của con người.

c. Các hoạt động điều tra khác như: tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, bắt buộc chữa bệnh, kết thúc điều tra được quy định cụ thể, rõ ràng, đã khắc phục tình trạng lạm dụng kéo dài thời hạn giải quyết, gây bất lợi, thiệt hại cho người bị tạm giam.

>> Xem thêm:  Các trường hợp được phép bắt giữ người theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện nay

 

6. Một số bất cập trong quy định về bảo đảm quyền của người đang bị tạm giam 

Ta có thể nhận xét rằng các quy định về bảo đảm quyền của người đang bị tạm giam trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn một số bất cập sau đây:

a. Chế định biện pháp cưỡng chế nói chung, biện pháp tạm giam trong Tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng ta thấy còn thiếu đồng bộ, chưa thể hiện chủ trương giảm tỷ lệ tạm giam trước khi xét xử. Trong nhiều năm, quy định của pháp luật Tố tụng hình sự nước ta về căn cứ, điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam còn thiếu cụ thể. Trong đó, quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thay thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam chưa chặt chẽ, như được áp dụng, thay thế, hủy bỏ “khi cần thiết”, hoặc là “có thể” tạm giam.

=> Chính điều này tạo điều kiện cho việc lạm quyền trong tạm giam kéo dài, ảnh hưởng đến quyền con người của người bị tạm giam. 

b. Trong Khoản 1 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng”. Quy định thiếu cụ thể này đã gây trở ngại về mặt tâm lý cho người có thẩm quyền, vì nếu như không áp dụng biện pháp tạm giam đối với người phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, có thể để xảy ra bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc bỏ trốn thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lại có nguy cơ bị xử lý về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (Điều 360 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, thông thường cứ phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam.

c. Quy định của khoản 2 Điều 125 và khoản 7 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về trách nhiệm của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án trong việc hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác còn mang tính thụ động, như căn cứ để hủy bỏ “khi thấy không còn cần thiết”, “hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác”. Trường hợp nào là cần thiết và không cần thiết phải tạm giam chưa được điều luật giải thích, phụ thuộc vào ý thức chủ quan của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án, làm cho thực tế người bị tạm giam được huỷ bỏ, thay thế bằng biện pháp khác chiếm tỷ lệ rất thấp.

Đối với Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, VKS có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”. Quy định này không xác định rõ căn cứ để áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Vì vậy, trên thực tế, khi vụ án được chuyển đến Viện kiểm sát để truy tố, cán bộ, Kiểm sát viên thường tiếp tục đề xuất ra lệnh tạm giam mà không đề xuất thay đổi biện phạm tạm giam sang biện pháp khác (cấm đi khỏi nơi cứ trú, bảo lãnh, đặt tiền cho bị can). Việc thay thế biện pháp tạm giam sang biện pháp khác trong giai đoạn truy tố làm cho cán bộ, Kiểm sát viên dễ bị nghi ngờ có tiêu cực vì không có căn cứ pháp lý rõ ràng.

Tại Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Sau khi thụ lý vụ án,… việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định; đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam … thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa”. Quy định này không xác định rõ căn cứ tạm giam trong giai đoạn xét xử, nhưng lại cho phép Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và Hội đồng xét xử quyết định một cách dễ dàng “nếu thấy cần tiếp tục tạm giam” là chưa bảo đảm quyền lợi của bị tạm giam, của bị cáo.

Theo quy định của Điều 119 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án được áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử dựa trên các lý do: bảo đảm việc bị cáo không bỏ trốn, cản trở hoạt động xét xử, có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại. Tuy nhiên, căn cứ để hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam bằng biện khác lại tạo ra sự tùy nghi cho Tòa án. Đó là Tòa án có quyền thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi cần thiết nhằm bảo đảm cho việc xét xử, dẫn đến bị can, bị cáo bị tạm giam một cách không cần thiết, làm cho họ khó tiếp cận các quyền như quyền tự bào chữa, quyền được nghiên cứu tài liệu, quyền thu thập chứng cứ gỡ tội để tranh tụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

>> Xem thêm:  Quyền con người là gì ? Đặc điểm, phân loại các quyền con người

Theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo; thời hạn tạm giam bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án...”. Quy định về căn cứ tiếp tục tạm giam của điều luật “xét thấy cần tiếp tục” mang tính tuỳ nghi, theo nhận định chủ quan của Hội đồng xét xử, dẫn đến thực tế: bị cáo đang bị tạm giam thì đương nhiên cứ tiếp tục bị tạm giam. Đây là nguyên nhân của thực trạng người bị tạm giam trong giai đoạn sau khi tuyên án, chờ thi hành án chiếm tỷ lệ cao.

 

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).