1. Quy định của pháp luật về hành vi lừa đảo qua mạng internet ?

Kính thưa luật sư Minh Khuê :mong các luật sư tư vấn giúp em ,hiện tại em ở macau nhưng có mua điện thoại qua Facebook của 1 nguoi đàn ông ở nuoc ngoài và khi em chuyển tiền vào địa chỉ họ cho nhưng họ ko gởi điện thoại cho em vậy giờ em nên phải làm như nào và có kiện họ về tội lừa đảo chiếm đojt tài sản ko ạh ?
Em cảm ơn nhiều

Trả lời:

Trong trường hợp này, bạn có quyền làm đơn tố cáo về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gửi đến Công an huyện để điều tra, làm rõ có yếu tố cấu thành tội phạm hay không.

Chào luật sư ạ, e hiện đang là chủ cửa hàng dịch vụ cầm đồ,hiện tại e có 1 khách hàng cầm 1 chứng minh nhân dân và thẻ atm của ngân hàng VPbank a này là nhân viên của ngân hàng, một vài lần đầu anh ta cầm rata ít rồi lại chuộc ra tạo lòng tin nên sau này lúc anh ta nói có công việc gấp nên e đã cầm giúp với số tiền là 7 triêu đồng, nhưng anh ta đã nghỉ việc và không chuộc thẻ ra, xin luật sư tư vấn ở trường hợp này e có thể báo lên công an anh ta tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ạ,nếu được thì chi tiết như thế nào ạ. Em xin cảm ơn !!

>> Trong trường hợp này, với số tiền bị chiếm đoạt là 7 triệu đồng và hành vi gian dối của khách hàng đó, bạn có quyền làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan điều tra cấp huyện về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bên cơ quan điều tra sẽ điều tra, thu thập chứng cứ để làm rõ hành vi này có phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có, họ sẽ khởi tố vụ án, khởi tố bị can để xử lý.

Chào luật sư minh khuê, xin hỏi: Tình hình là tôi có giao dịch trược tuyến với 1 người số tiền 500 nghìn đồng để mua một số mặt hàng.nhưng khi tôi chuyển tiền thì người này không giao hàng và từ đó tôi không liên lạc được nữa và người đó sống tại đà năng.còn tôi thì đang ở băc ninh. giao dich qua ngân hàng vietcombank và có lịch sử nói chuyện trên skyper. bây giờ tôi muốn tố cáo để lấy lại tiền của mình thì phải làm thế nào gửi đơn như thế nào.tôi không thể đi vào đà nẵng được. xin tư vấn để đạy cho những kẻ lừa đảo này 1 bài học.vì sau tối chắc sẽ còn nhiều người khác nưa xin cảm ơn luật sư

>> Với tình huống trên, tôi đưa ra hướng tư vấn như sau. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản 500 nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng

- Có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 500 nghìn đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt

- Có thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 500 nghìn đồng nhưng đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

Thưa luật sư, xin tư vấn lừa đảo chiếm đoạt tài sản ? Cảm ơn!

Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Có tính chất chuyên nghiệp;

C) Tái phạm nguy hiểm;

D) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân :

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chẳng là em có nhờ 2 người làm trong vtc game mua súng trong game online crossfire. Em đã chuyển cho 1 người 1triệu và 1 người 1triệu 1. Nhưng e giao dịch xong thì họ chặn fb em. E gọi điện thoại thì họ không bắt máy. Với số tiền họ lừa đảo như vậy. Có thể kết tội họ lừa đảo không luật sự. Các tin nhắn em gửi qua fb họ e đều lưu lại bằng cách chụp màn hình.

Với 1 triệu 100 nghìn đồng, người này có thể bị truy cứu Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

Thưa luật sư, xin hỏi: Em là người bàn hàng online trên mạng ạ , nhưng có người lạ vào cmt nói những điều không hay , họ đòi tạt axit , họ còn nói là sẽ tung ảnh sex lên trên mạng , nhưng thật sự e không biết người ta đó là ai , họ còn cmt vào các bạn bè của e , rồi nói là e lừa đảo, e muốn công an vào điều tra được không ạ ?

Bạn có thể tố cáo người này về hành vi vu khống: "Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm"

Cơ quan điều tra sẽ điều tra xác minh.

Thưa luật sư, xin hỏi: ở nhà tôi trong gia đình có một người là chú của tôi. người đó đã đi cờ bạc, cá độ đá banh rất nhiều lần, mỗi lần số tiền ít nhất cũng trên 50 triệu. Còn ăn cắp tài sản trong nhà như tiền; vàng; xe máy đem đi cầm,bán... Ngoài ra còn ra ngoài lừa đảo gạt tiền của người khác. Trong gia đình ai cũng đã quen những chuyện đó cũng không biết giải quyết sao. Luật sư cho hỏi có thể tố cáo tội danh nào liên quan đến cờ bạc, chiếm đoạt tài sản, lừa đảo người khác. Và mức hình phạt có thể đưa ra như thế nào. Xin luật sư tư vấn giúp, Cám ơn.

Do bạn chưa nêu rõ nên tôi xin đưa ra khung hình phạt nhẹ nhất theo quy định Bộ luật hình sự như sau:

Điều 248*. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Điều 139*. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Điều 138*. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Thưa luật sư, Em muốn hỏi: Em mua hàng trên mạng facebook gửi tiền đi 2.660.000đ như người bán hàng không gữi hàng, cũng không trả lại tiền em có thể yêu cầu công an tìm người lừa đảo đó đòi lại tiền của mình không ạ! e có đủ số điện thoại, tài khoản chuyển tiền và giấy gửi tiền. Hành vi này có bị xử lí được không ạ?

Bạn có quyền tố cáo hành vi này về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền chiếm đoạt như trên. Tuy nhiên, hành vi này có bị xử lý theo hình sự hay không còn phụ thuộc vào chứng cứ và sự điều tra của cơ quan điều tra

Xin chào luật sư! Nhờ luật sư tư vấn giúp em trường hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản sau: trong thời gian vừa qua em có mua hàng qua mạng xã hội facebook. Do tin tưởng vào người bán hàng nên em đã chuyển khoản trước cho họ 1 triệu 2 trăm nghìn đồng chẵn. Nhưng khi chuyển khoản xong thì không thể liên lạc với họ được. Em cũng đã liên lạc với một người đang ở Lào Cai và được biết người này cũng đã bị lừa giống em, và chỉ là nộp thẻ điện thoại qua tin nhắn fb. Em giờ chỉ có thông tin qua tin nhắn fb và tài khoản Đã gửi từ iPhone của tôi Vậy luật sư cho em hỏi em có thể tố cáo hành vi lừa đảo này của họ không và nếu nộp đơn tố cáo thì em phải nộp ở công an tỉnh Nghệ An hay là công an ở Tp Hồ Chí Minh ạ! Em kính mong luật sư tư vấn giúp em. Em xin cảm ơn!

Với 1 triệu 200 nghìn đồng, người này có thể bị truy cứu Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ e có đặt 1 chai thuốc cai thuốc lá của nhà thuốc thanh nghị qua mạng internet. Sau khi nhận hàng thì em xem giúp mẹ mới phát hiện ra chai thuốc này là giả k phải của nhà thuốc đúng. Các kẻ lừa đảo có thủ đoạn là tạo 1 fanpage trên facebook giả danh là báo dân trí, cùng với đó chúng hack lượt like và comment giả để lười người dân. Mẹ e bị chúng lừa mất 469.000vnđ. Luật sư cho e hỏi với các tình tiết trên thì có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để xử lý hình sự không ạ ? Đã gửi từ iPhone của tôi

Với 469 nghìn đồng, người này có thể bị truy cứu Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở đâu ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê, cháu tên là H hiện tại cháu đang ở Thanh Hóa. Cháu có kinh doanh mặt hàng thời trang trẻ em ạ. Cháu có bán và kinh doanh luôn trên mạng xã hội facebook. Qua sự tìm hiểu thì cháu biết được 1 trang fage chuyên chạy quảng cáo facebook để bán hàng. Cháu có thuê anh T để chạy quảng cáo cho cháu với số tiền là 1.650.000 đồng.
Hiện cháu vẫn giữ biên lai và chụp màn hình khi chuyển tiền cho anh T. Tiền thì cũng đã chuyển rồi nhưng hiện tại thời gian cũng lâu rồi anh T vẫn không chạy cho cháu, nhắn tin gọi điện anh T cũng không nghe máy. Và khi nào nghe thì cũng cứ hứa ẫm ờ cho qua. Rồi ngày qua ngày cũng không thấy đâu. Cháu có yêu cầu nếu không chạy quảng cáo cho cháu được thì đề nghị hoàn tiền cho cháu. Nhưng anh T vẫn không trả lại tiền. Vậy thưa luật sư cho cháu hỏi. Hiện tại anh T có công ty ở địa chỉ cụ thể cháu biết tại Hà Nội, vẫn đang làm ăn bình thường.
Vậy cháu muốn kiện anh T tội lừa đảo được không ? Không chỉ mình cháu mà cả chị cháu cũng bị anh T lừa số tiền 2.470.000 đồng và nhiều người khác cũng bị lừa. Bây giờ cháu phải làm sao ạ ?
Cháu cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn nhận định thì hành vi của anh ta là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi: Hành vi chiếm đoạt xảy ra; Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp; Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Ngoài ra, số tiền bạn bị T lừa là 1.650.000 đồng, chưa đủ cấu thành tội phạm tuy nhiên nếu bạn có căn cứ T còn lừa dối nhiều người nữa và tổng số tiền lừa đảo trên 2 triệu đồng T sẽ phải chịu trách nhiệm hình sư. Khoản 1, T có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy bạn gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú để yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quyền khởi kiện vụ án

Theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".

Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:

a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.

3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án".

Bạn cần thực hiện đúng theo quy định pháp luật về hình thức và nội dung đơn khởi kiện. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Trường hợp vì lý do khách quan mà không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp. Bạn bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Vấn đề gửi đơn khởi kiện đến Tòa án tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này".

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết".

Vì vậy, yêu cầu của bạn với anh ta là hoàn toàn hợp pháp nên bạn có thể làm đơn khởi kiện đòi lại tiền và các khoản thiệt hại tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để yêu cầu bị đơn thành toán. Bạn phải gửi kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Cụ thể, trong trường hợp của bạn thì hồ sơ khỏi kiện bao gồm: Đơn khởi kiện (theo mẫu); Bản photo công chứng chứng minh nhân dân của bạn; Bản photo giấy (khi nào Tòa án yêu cầu trình biên lai và chụp màn hình khi chuyển tiền cho anh T thì mới trình bản gốc cho Tòa xem).

Đơn tố cáo

Ngoài ra, bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi người đó đang cư trú để được giải quyết. Cơ quan công an sẽ giúp bạn điều tra, làm rõ vụ việc này. Cụ thể:

Hình thức tố cáo tại Điều 19 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

"Điều 19. Hình thức tố cáo

1. Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.

2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

3. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo".

Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Kiện tội lừa đảo tài sản nhưng không biết bị đơn ở đâu ?

Thưa luật sư cho tôi hỏi một việc sau đây là: tôi bị một người trên facebook giả danh là một người khác. Tôi đã tin tưởng và chuyển cho họ 50 triệu VNĐ. Tôi không biết địa chỉ của họ, tôi chỉ có tên facebook và số tài khoản ngân hàng của họ. Vậy, tôi có thể đưa họ ra toà vì tội chiếm đoạt tài sản không ?
Kính mong luật sư trả lời câu hỏi của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Với những thông tin mà bạn cung cấp, trường hợp bạn đang gặp phải là bị một người giả danh người khác, đưa ra thông tin gian dối để bạn chuyển giao số tiền 50 triệu VNĐ cho họ, sau đó thì không liên lạc được với người này. Do đó, chúng tôi cho rằng, ở đây tồn tại một hành vi gian dối, cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

"Thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản" theo quy định của Điều 139 BLHS tức là một người đã đưa ra thông tin sai lệch, làm cho người khác tin đó là sự thật và chuyển giao tài sản cho họ. Giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự là từ 2 triệu đồng trở lên, với giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trường hợp của bạn, bạn bị người khác lừa đảo chiếm đoạt số tiền 50 triệu đồng, bạn muốn pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình là điều hoàn toàn chính xác. Để có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình bạn phải có đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người đó gửi đến cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra hành vi phạm tội. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng đó là khi bạn gửi đơn tố cáo hành vi phạm tội thì bạn phải gửi kèm theo giấy tờ, tài liệu chứng minh trên thực tế xảy ra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản để cơ quan công an làm căn cứ tiến hành hoạt động điều tra, xác minh.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, bạn không biết người có hành vi lừa đảo bạn là ai mà bạn chỉ biết tên facebook và thông tin tài khoản của người này, khi bạn gửi đơn tố cáo hành vi lừa đảo thì bạn hoàn toàn có thể gửi kèm theo các thông tin, tài liệu này để cơ quan công an làm căn cứ tiến hành hoạt động điều tra, xác minh.

Những điều cần lưu ý: Bạn hoàn toàn có thể yêu cầu cơ quan công an bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn, tuy nhiên bạn vẫn phải cung cấp những thông tin liên quan để cơ quan công an làm căn cứ tiến hành điều tra, xác minh.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Bị lừa "Chạy công chức" liệu có đòi được tiền không?

Vào khoảng tháng 8/2017 tôi có đưa 150 triệu cho chị A để xin việc vào công chức, do là chỗ quen biết từ trước nên khi giao tiền em không có viết giấy biện nhận tiền, ... Vậy giờ e có thể viết đơn kiện được không thưa luật sư nếu kiện thì tỉ lệ đòi lại dc tiền bao nhiêu %?
Luật sư tư vấn và hướng dẫn em cách giải quyết ạ, cụ thể như sau: Vào khoảng tháng 8/2017 tôi có đưa 150 triệu cho chị A để xin việc vào công chức (dự kiến tháng 12/2017 sẽ thi công chức) nhưng do là chỗ quen biết từ trước nên khi giao tiền em không có viết giấy biện nhận tiền, đến tháng 10/2017 chị A lại đòi thêm tiền vì chị nói bên trên họ đòi thêm nên em gửi tiền thêm cho chị A 40 triệu nữa (tổng 190 triệu) cũng ko viết giấy vay tiền. Đến khi có kết quả thi công chức em không trúng tuyển thì em đòi lại tiền nhưng chị A chỉ đưa được cho em là 100 triệu còn thiếu 90 triệu, sau đó đòi thêm 1 tháng nữa thì chị A đưa thêm 10 triệu còn thiếu 80 triệu, nhưng từ đó đến nay đã hơn 1 tháng chị ấy không trả số tiền còn thiếu, em gọi điện nhắn tin thì chị ấy không trả lời, em đến nhà thì chị A lảng tránh đi vào phòng ngủ ko tiếp em và thách thức em kiện ra tòa, vì chị A cho rằng em ko có bằng chứng.
Vậy giờ e có thể viết đơn kiện được không thưa luật sư (không có viết giấy vay tiền, chỉ có các tin nhắn zalo giao dịch qua lại với nhau), nếu kiện thì tỉ lệ đòi lại dc tiền bao nhiêu % ?

>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến qua tổng đài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo như những thông tin mà bạn cung cấp thì Chị A đã nhận số tiền 190 triệu đồng của bạn, tuy nhiên không chạy được vào công việc đã hứa. Hiện nay chị ấy đã trả cho bạn số tiền là 110 triệu đồng và số tiền còn thiếu là 80 triệu đồng.

Sau khi nghiên cứu quy định của pháp luật, thì Chúng tôi xác định hành vi của chị A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc xác định tội dạnh dựa vào các căn cứ khác nhau, nếu chị A sử dụng thủ đoạn gian dối gây lòng tin đối với bạn, làm bạn tin tưởng mà trao tài sản cho chị A. Để chiếm đoạt được số tiền đó, chị A phải dùng thủ đoạn gian dối trước. Chính thủ đoạn gian dối là nguyên nhân làm bạn tin tưởng mà trao tài sản. Còn nếu chị A sau khi nhận tiền mới thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt của bạn. Sự gian dối chiếm đoạt tài sản sảy ra sau khi nhận được tài sản nên lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là bội tín phản bội lòng tin của bạn.

- Trường hợp 1: Nếu chị ấy thuộc trường hợp Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì theo điểm đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì chị A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt từ 02 đến 07 năm.

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

- Trường hợp 2: Còn nếu chị ấy thuộc trường hợp là Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, chị A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt từ 02 đến 07 năm.

“ Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.”

2. Về dân sự

Trong trường hợp của bạn thì theo như quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 giao dịch dân sự giữa bạn và chị A có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội do đó giao dịch này sẽ bị vô hiệu. Đồng thời, giao dịch giữa bạn và chị A không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền đòi lại số tiền nói trên. Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chị A đang cư trú để yêu cầu giải quyết. Đồng thời bạn cần chuẩn bị các giấy tờ chứng cứ chứng minh việc chị A đã nhận tiền như: Ghi âm cuộc gọi, ảnh chụp tin nhắn… để thuận lời cho mình trong quá trình giải quyết.

“Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Thưa luật sư em có một thắc mắc mong luật sư giải đáp.Em từ quê lên thành phố HCM lập nghiệp, thất nghiệp quá lâu lâm vào đương bế tắt, có anh rủ em hùm vốn để đá banh trên mạng. Em biết đó là việc làm phạm pháp, công việc chỉ nói bằng miệng, không có giấy tờ gì cả, anh ta nói em bỏ vốn ra anh làm, lợi nhuận chia đôi, nạp tài khoản anh ta là bắt đầu liền, em vay mượn bạn bè được 20 triệu.

Khi em biết anh ta không phải làm như lúc đầu mà anh ta lấy 10 triệu nạp và 10 triệu trả nợ người ta, tài khoản chỉ được 10 triệu. Em không muốn tiếp tục và muốn rút lại thì anh ta nói tiền 10 triệu tài khoản và 10 triệu thế chấp nhà mạng không lấy lại được phải đợi hết 30 ngày mới lấy lại được. Em muốn trình báo công an, em biết em cũng không tránh được tội.

1.Cho e hỏi nếu truy cứu em bị tội gì?

2.Anh ta lợi dụng 20 triệu của em, nạp 10triệu còn 10triệu còn lại anh ta trả nợ.Cho em hỏi anh ta có phạm tội cờ bạc và lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không? Vì mọi việc kinh doanh anh ta điều làm cả. vì chia 5.5 laptop của em. Nếu bắt có phải laptop của e sẽ bị công an thu giữ không.

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.Đ.T

Trả lời:

Thứ nhất: Về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bạn.

Đối với Tội đánh bạc được quy đinh tại điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

Hơn theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2010/NQ – HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự về Tội đánh bạc được quy định như sau:

Điểm b khoản 4 Điều 1 quy định:

“…Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa... thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa... (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa... trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.”

Cấu thành tội phạm

- Chủ thể: Cá nhân có năng lực TNHS và đủ 16 tuổi.

- Khách thể: An ninh, an toàn công cộng.

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý.

- Hành vi khách quan: Hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền hay hiện vật.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, bạn đã hùm vốn với số tiền là 20 triệu để tham gia đá banh trên mạng, nếu thỏa mãn yếu tố cấu thành nêu trên bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định tại điều 248 BLHS.

Thứ hai: Về việc anh tham gia cùng bạn có phạm tội đánh bạc và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Theo như thông tin mà bạn cung cấp anh này có rủ bạn hùm vốn để đá banh trên mạng, bạn đã đưa cho anh ta 20 triệu để anh ta để anh ta làm.

Hành vi đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi số tiền hay hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc tuy dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Ngoài hành vi đánh bạc, nếu người đánh bạc còn rủ rê, lôi kéo người khác tham gia cùng đánh bạc thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về các tội tương ứng.

Như vậy, nếu thỏa mãn những yếu tố cấu thành như đã phân tích nêu trên thì anh ta có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 2009 quy định:
"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó

1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội .Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

b)Về hậu quả
Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

2. Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
3. Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý
Tuy nhiên cần lưu ý:
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo.

Như vậy, theo như thông tin mà bạn cung cấp thì anh ta đã dùng số tiền 20 triệu đồng của bạn không chỉ thực hiện cho việc đánh bạc mà còn trích 10 triệu ra để trả nợ và nói là thế chấp 10 triệu đối với nhà mạng. Theo đó, nếu anh ta không chịu trả tiền cho bạn, mà đủ yếu tố cấu thành như đã phân tích nêu trên bạn có thể khởi kiện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS. Vì vậy trong trường hợp này bạn cần xác định bạn của bạn có hành vi gian dối với vấn đề bạn và mục đích của hành vi gian dối này là gì.

Thứ ba: Về việc tịch thu chiếc máy laptop của bạn.

Căn cứ Điều 77 Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11:

"Điều 76. Xử lý vật chứng

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Như vậy trong trường hợp này nếu trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền nếu xét thấy vật chứng trên không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì laptop sẽ được trả cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo