Trả lời:

Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”

Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 quy định các trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất bao gồm:

“1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhàn, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

2.   Tổ chức kinh tế khống được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

3.  Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử đụng đất trồng lúa.

4.  Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai năm 2013 thì cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp sẽ chỉ thuộc đối tượng không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa. Do vậy, người thừa kế không trực tiếp sản xuất nông nghiệp vẫn được nhận thừa kế quyền sử dụng các loại đẫt nông nghiệp khác.

Mỡ rộng: Như đã phân tích ở trên, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, ta thấy cơ bản không có hạn chế trong việc thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp (Điều 179 và Điều 191 Luật Đất đai năm 2013).

Tuy nhiên, pháp luật giai đoạn trước lại có những nét khác biệt, cụ thể:

Bộ luật dân sự năm 1995 quy định chi tiết điều kiện để được nhận thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp và chia thành các trường hợp khác nhau:

Trường hợp 1: Điều kiện được thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản (Điều 740 Bộ luật dân sự năm 1995):

“Người có đủ các điều kiện sau đây thì được thùa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật dối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản:

1.   Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích;

2.   Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đắt đai”.

- Trường hợp 2: Thừa kế quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở (Điều 743 Bộ luật dân sự năm 1995):

“Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất làm nghiệp để trồng rừng, đất ở, sau khi chết có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Tuy nhiên, quy định điều kiện và cách phân chia như trên phần nào không phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, đến Luật Đất đai năm 2003 đã không đặt ra điều kiện khác nhau trong việc thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Cụ thể, khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai năm 2003 quy định:

“Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trường hợp người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó”.

Hướng quy định này tại Luật Đất đai năm 2003 tiếp tục được kế thừa tại Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 734: “Cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai”') và sau này là Luật Đất đai năm 2013 (Điều 179).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)