Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Lao động 2012

Luật Bảo hiểm xã hội 2014

Nghị định 05/2015/NĐ_CP hướng dẫn bộ luật lao động

II. Nội dung tư vấn

Trợ cấp thôi việc loại trợ cấp mà NSDLĐ phải trả khi chấm dứt HĐLĐ với NLĐ đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên cho thời gian làm việc mà NSDLĐ và NLĐ không phải tham gia hoặc không đủ điều kiện tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

I. Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc

Người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên mà chấm dứt hợp đồng lao động thuộc một trong các trường hợp sau:

- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

II. Cách tính tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 48 BLLĐ 2012, đối với mỗi năm làm việc người lao động được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Tiền trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian làm để tính trợ cấp thôi việc x tiền lương tháng làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc x 1/2

>> Xem thêm:  Hình thức kỷ luật sa thải và buộc thôi việc khác nhau ở điểm nào ?

Trong đó:

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Căn cứ theo hướng dẫn tại Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ_CP:

+ Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội; 

+ Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; 

+ Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc. 

- Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Lưu ý: Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã. 

III. Thời hạn giải quyết 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trợ cấp thôi việc cho người lao động. Thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Tôi được doanh nghiệp cử đi đào tạo đại học tại chức vẫn hưởng lương cơ bản, khi đó tôi có ký cam kết sau khi học xong về tôi sẽ phục vụ cho doanh nghiệp 10 năm. Nay tôi đã phục vụ đủ 10 năm và tôi xin chấm dứt HĐLĐ. Vậy tôi xin hỏi tôi có được trợ cấp 1 năm = 1/2 tháng lương cho thời gian được cử đi đào tạo hay không? Khi đó NLĐ chưa được tham gia BHTN, mà chỉ tham gia các BHXH, BHYT theo Luật BHXH trước năm 2009.

 Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ_CP, thời gian mà người lao động được người sử dụng lao động cử đi học được tính là thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động. Như vậy, nếu trong thời gian này, bạn chưa được tham gia BHTN thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc (tức mỗi năm làm việc được nửa tháng tiền lương) cho thời gian đó khi chấm dứt hợp đồng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật.

Tôi làm việc và cty cho đi học đại học thời gian 5 năm, cty cho chi phi.́ trong thoi gian học phải đảm bảo hoàn thành công việc va phải làm bù nếu vào thoi điểm cty có làm việc ngoài giờ,thỏa thuận làm việc cho cty 5 năm sau khi học xong. Cty vẫn trả lương cho những ngày đi học có làm bù hoặc ko, làm việc và hướng dẫn cấp dưới qua điện thoại ...nhưng riêng thời gian 1 tháng đi thực tập là ko có lương...,chi phí cho tài liệu cũng ko hoàn toàn... vậy có đc coi là cty lo toàn bộ chi phí ko. Sau khi học xong tôi đã làm việc dc 1 năm,do thay đổi nơi ở tôi đã làm đơn nghi việc,hiện tại cty chưa giải quyết và đang bàn bạc để đưa ra mức đền bù chi phí đào tạo và tiền lương trong thời gian đi học . Hiên nay tôi vẫn đi làm và đã bàn giao hết công việc. Vậy tôi có dc hưởng chế độ thôi việc va nhận sổ bảo hiểm theo đúng luật dc ko?

Căn cứ theo thỏa thuận giữa bạn với công ty về thời gian công tác sau thời điểm được cử đi học là 5 năm, do đó thời gian làm việc của bạn tại công ty ít nhất là 5 năm, nếu không đáp ứng được điều kiện này thì bạn sẽ phải bồi thường về chi phí đào tạo theo hợp đồng đào tạo nghề. Tuy nhiên, vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động của bạn lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về hợp đồng lao động. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ_CP, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp gia đình chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động. Do đó, trong trường hợp công ty không đồng ý cho bạn thôi việc, bạn vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lý do trên và phải tuân thủ quy định về thời hạn báo trước phụ thuộc vào loại hợp đồng lao động mà bạn đã ký kết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 BLLĐ, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc, như vậy nếu bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì vẫn được chi trả trợ cấp thôi việc. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 47 BLLĐ, sau khi chấm dứt hợp đồng lao động: "Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động." 

Chồng tôi làm việc tại công ty than va đã nghỉ việc ngang năm 2006 xin hỏi luật sư giờ chồng tôi muốn lấy lại sổ bảo hiểm xã hội thì có lấy được không ạ? Va phải làm thủ tục gì?

 Theo quy định khoản 3 Điều 47 BLLĐ, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Căn cứ theo quy định này, trách nhiệm chốt sổ và trả lại sổ BHXH cho người lao động không phụ thuộc vào việc người lao động thôi việc có đúng pháp luật hay không. Chồng bạn có thể đến trụ sở của công ty mình đã làm việc để yêu cầu trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho mình.

>> Xem thêm:  So sánh sự khác nhau giữa trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp mất việc làm ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư lao động - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người lao động bị tạm giam có được coi là lý do để công ty chấm dứt hợp đồng lao động ?