- Thứ nhất, đưa ra khái niệm mới về thương lượng tập thể:

Thay vì quy định mục đích thương lượng tập thể như Bộ luật Lao động năm 2012, thì Điều 65 Bộ luật Lao động năm 2019, đã đưa ra khái niệm thương lượng tập thể, làm cơ sở lý thuyết để quy định các vấn đề nội dung, chủ thể, nguyên tắc, quy trình thương lượng tập thể. Theo đó, thương lượng tập thể là việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động với một bên là một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động nhằm xác lập điều kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

- Thứ hai, bổ sung một số nội dung thương lượng tập thể:

Nếu như Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ quy định 5 nội dung thương lượng tập thể tại Điều 70, thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã mở rộng hơn các nội dung thương lượng tập thể. Theo đó, bổ sung thêm 3 nội dung quy định tại khoản 5, 6, 7 Điều 67. Đó là nội dung về:

i) Điều kiện, phương tiện hoạt động của tổ chức đại diện người lao động; mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động;

ii) Cơ chế, phương thức phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động;

iii) Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ thai sản, nghỉ hằng năm; phòng, chống bạo lực và quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

- Thứ ba, bổ sung quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp:

Cùng với việc quy định mới tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở - “là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp” - Điều 68 Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định cụ thể quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp (bao gồm tổ chức công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp). Cụ thể:

Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số người lao động trong doanh nghiệp theo quỵ định củạ Chính phủ. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đáp ứng quy định thì tổ chức có quyền yêu cầu thương lượng là tổ chức có số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp. Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể khi được tổ chức đại diện người lao động có quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý. Trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không có tổ chức nào đáp ứng quy định thì các tổ chức có quyền tự nguyện kết hợp với nhau để yêu cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số thành viên của các tổ chức này phải đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định.

>> Xem thêm:  Bàn về khái niệm cơ chế 3 bên trong lĩnh vực luật lao động

- Thứ tư, bổ sung quy định thời gian thương lượng tập thể và thương lượng tập thể không thành:

Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định thời gian thương lượng tập thể. Theo đó, thời gian thương lượng tập thể không được quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quy định như vậy là phù hợp với thực tế, tránh việc thương lượng kéo dài làm tốn kém thời gian, tiền bạc và không hiệu quả của các bên.

Cùng với quy định quy trình thương lượng tập thể rõ ràng hơn và bảo đảm tính khả thi hơn, Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định một điều luật riêng về thương lượng tập thể không thành (Điều 71), nhằm đưa ra hướng giải quyết sau thương lượng. Cụ thể: Thương lượng tập thể không thành thuộc một trong các trường hợp: Một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thương lượng; Đã hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng mà các bên không đạt được thỏa thuận; Chưa hết thời hạn 90 ngày kể từ ngày bắt đầu thương lượng nhưng các bên cùng xác định và tuyên bố về việc thương lượng tập thể không đạt được thỏa thuận. Khi thương lượng không thành, các bên thương lượng tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật này. Trong khi đang giải quyết tranh chấp lao động, tổ chức đại diện người lao động không được tổ chức đình công.

- Thứ năm, bổ sung quy định thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia:

Trước đây, Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định về thỏa ước lao động tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, song không quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ở các phạm vi nàỹ, vì thế việc thực thi trong thực tế có nhiều vướng mắc và không thông nhât. Khăc phục bât cập đó, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cụ thể về thương lượng tập thể ngành và thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia. Theo đó, nguyên tắc, nội dung thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thực hiện như nguyên tắc thương lượng tập thể nói chung. Quy trình tiến hành thương lượng tập thể ngành, thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia do các bên thỏa thuận quyết định, bao gồm cả việc thỏa thuận tiến hành thương lượng tập thể thông qua Hội đồng thương lượng tập thể. Trường hợp thương lượng tập thể ngành thì đại diện thương lượng là tổ chức công đoàn ngành và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành quyết định. Trường hợp thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thì đại diện thương lượng do các bên thương lượng quyết định trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận.

Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Bộ luật Lao động quy định về thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia thông qua Hội đông thương lượng tập thê. Theo Điêu 73 Bộ luật: Trên cơ sở đồng thuận, các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia có thể yêu cầu ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc nơi do các bên lựa chọn trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia thương lượng có trụ sở chính tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tiến hành thương lượng tập thể. Khi nhận được yêu cầu của các bên thương lượng tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng thương lượng tập thể để tổ chức việc thương lượng tập thể. Thành phần Hội đồng thương lượng tập thể bao gồm:

a) Chủ tịch Hội đồng do các bên quyết định và có trách nhiệm điều phối hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể, hỗ trợ cho việc thương lượng tập thể của các bên;

b) Đại diện các bên thương lượng tập thể do mỗi bên cử. số lượng đại diện mỗi bên thương lượng tham gia Hội đồng do các bên thỏa thuận;

c) Đại diện ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng thương lượng tập thể tiến hành thương lượng theo yêu cầu của các bên và tự chấm dứt hoạt động khi thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp tham gia được ký kết hoặc theo thỏa thuận của các bên. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Hội đồng thương lượng tập thể.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động hiện nay, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư lao động giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng, tận tâm và chuyên nghiệp nhất.

>> Xem thêm:  Năm 2021, Viên chức sinh con thứ 3 thì có bị ảnh hưởng gì không ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định mới luật lao động về đối thoại tại nơi làm việc ? Điểm mới của thỏa ước lao động tập thể ?