Khách hàng: Kính thưa Luật sư, Luật sư hãy phân tích giúp tôi về các quy phạm có tính chất khuyến khích tại 03 cấu thành tội phạm riêng biệt trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999) và một số đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm được ghi nhận trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

Nhằm thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và để góp phần tích cực cho việc phát hiện, điều tra một số loại tội phạm nhất định nên nhà làm luật Việt Nam đã kế thừa nguyên văn các quy phạm của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam là Bộ luật năm 1985 và tiếp tục ghi nhận các biện pháp tha miễn có tính khuyến khích đối với người phạm tội tương ứng tại 03 cấu thành tội phạm thuộc Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Cụ thể 03 cấu thành tội phạm đó được thể hiện như phân tích dưới đây:

1. Cấu thành tội phạm thứ nhất thuộc Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Tại khoản 3 Điều 80 “Tội gián điệp” đã ghi nhận quy phạm về dạng miễn trách nhiệm hình sự mang tính khuyến khích bắt buộc (mà không phải là tùy nghi) như quy phạm tương ứng tại khoản 3 Điều 74 Bộ luật Hình sự (năm 1985)

"Điều 80. Tội gián điệp

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

3. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự."

.

2. Cấu thành tội phạm thứ hai thuộc Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Thừa kế hai quy phạm nhân đạo của Bộ luật Hình sự đàu tiên của Việt Nam (năm 1985) (quy định tại đoạn 1, 2 khoản 5 Điều 227) nên Bộ luật Hình sự (năm 1999) (quy định tại đoạn 1, 2 khoản 6 Điều 289 “Tội đưa hối lộ”) cũng đã tiếp tục ghi nhận nguyên văn hai quy phạm tương ứng mang tính khuyến khích bắt buộc (đoạn 1) và mang tính khuyến khích tùy nghi (đoạn 2), mà cụ thể như sau:

a. Quy phạm mang tính bắt buộc cho “Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trưốc khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ” (đoạn 1). Như vậy, nếu xét về bản chất pháp lý thì đây là quy phạm loại trừ tính tội phạm của hành vi.

b. Quy phạm mang tính tùy nghi cho “Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ” (đoạn 2).

 

3. Cấu thành tội phạm thứ ba thuộc Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Thừa kế quy phạm nhân đạo của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) (quy định tại khoản 2 Điều 247) nên tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật Hình sự (năm 1999) về “Tội không tố giác tội phạm” đã tiếp tục ghi nhận quy phạm về hai dạng tha miễn mang tính tùy nghi (mà không phải là bắt buộc) cho “Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt”.

Cụ thể:

"Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt."

 

4. Đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm được ghi nhận trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Về một số đặc điểm cơ bản của các cấu thành tội phạm được ghi nhận trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999) như sau:

a. Việc quy định chế tài là hình phạt bổ sung trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999) có hai điểm mới và khác so với Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1985), những điểm mới và khác đó cụ thể như sau:

- Nếu như trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1985) nhà làm luật đã quy định hình phạt bổ sung với tư cách là chế tài chung đối với các cấu thành tội phạm cụ thể trong cùng một nhóm tội phạm tương ứng (gồm 12 nhóm tội phạm) tại điều cuối cùng của từng chương (ngoại trừ Chương XII - chương cuối cùng của Bộ luật Hình sự (năm 1985) là không quy định chế tài này, thì trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999) nhà làm luật giữ lại cách quy định như vậy chỉ đối vối chương đầu tiên của Bộ luật đó.

- Có thể hiểu ngoài Chương I thì trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999), Nhà làm luật đã thay đổi bằng cách quy định hình phạt bổ sung đối vối từng tội phạm cụ thể tại khoản cuối cùng của mỗi điều tương ứng với từng cấu thành tội phạm cụ thể; Ngoại trừ đối với 05 cấu thành tội phạm trong Chương XXIV cuối cùng của Bộ luật Hình sự (năm 1999) cũng như trong Chương XII cuối cùng của Bộ luật Hình sự (năm 1985) là không quy định chế tài này.

b. Bộ luật Hình sự (năm 1999) khác với Bộ luật Hình sự (năm 1985), Bộ lụật Hình sự (năm 1999) chỉ có 10 điều luật tương ứng với 11 tội phạm cụ thể khác nhau trong 07 chương thuộc Phần riêng được ghi nhận theo hướng chỉ bao gồm một cấu thành tội phạm cơ bản (mà không có các cấu thành tội phạm giảm nhẹ, tăng nặng, rất nặng hoặc đặc biệt tăng nặng trong từng điều luật tương ứng, đó là các điều 94 (Chương XII), 130 (Chương XIII), 150 (Chương XV), 167 (Chương XVI), 265, 274 (Chương XX), 287 (Chương XXI), 341-344 (Chương XXIV) Bộ luật Hình sự (năm 1999).

c. Bộ luật Hình sự (năm 1999) có tất cả 90/267 điều luật trong Phần riêng của Bộ luật Hình sự (năm 1999) ghi nhận về các tội phạm cụ thể tại tất cả các chương khác nhau được nhà làm luật mô tả theo hướng ghép nhiều (từ 02 trở lên) hành vi phạm tội ngay trong tên gọi của từng tội danh bằng cách sử dụng các dấu phẩy (,) hay từ “hoặc” tại chính tiêu đề (tên gọi) của từng điều luật tương ứng, đó là các điều 91 (Chương XI), 99, 101-109, 120 (Chương XII), 125-126, 128-129 (Chương XIII), 143 (Chương XIV), 146-1148, 151-152 (Chương XV), 154- 158, 164-164b, 169, 170a, 172, 180-181a (Chương XVI), 190, 191a (Chương XVII), 192, 194-196, 201 (Chương XVIII), 211, 219-221, 224-226-226a-226b-227, 230, 231-236, 238-239, 242, 246-247, 249, 252 (Chương XIX), 258,265-269,271-272,274-275 (Chương XX), 280- 281, 283, 291 (Chương XXI), 303, 308-309, 311-312 (Chương XXII), 315, 319, 330, 332, 335 và 340 (Chương XXIII) Bộ luật Hình sự (năm 1999).

d. Bộ luật Hình sự (năm 1999) có tất cả 07/267 điều luật trong Phần riêng của Bộ luật Hình sự (năm 1999) ghi nhận về các tội phạm cụ thể tại 05/13 chương khác nhau được nhà làm luật quy định theo hướng ghép 02 cấu thành tội phạm vào chung 01 điều luật bằng cách sử dụng lại lần thứ hai từ “tội” ngay sau dấu phẩy (,) đầu tiên sau tên gọi của tội danh thứ nhất tại cùng tiêu đề của điều luật tương ứng về các điều 263-264 (Chương XX), 286-287 (Chương XXI), 327-328 (Chương XXIII) và 344 (Chương XXIV). Có nghĩa là, trong cùng một điều luật nhưng ghi nhận đến hai tội danh.

e. Việc quy định chế tài xử phạt nghiêm khắc nhất. Tại thời điểm thông qua vào năm 1999, Bộ luật Hình sự Việt Nam thứ hai đã ghi nhận hình phạt tử hình tại 29 cấu thành tội phạm giống như tại thời điểm thông qua Bộ luật Hình sự (năm 1985).

Tuy nhiên, sau đó 10 năm trong lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, trong xu thế chung về nhân đạo hóa pháp luật hình sự ở mỗi quốc gia và trên cơ sở cam kết tuân thủ theo các điều ước quốc tế về nhân quyền, cũng như theo khuyến cáo của Liên hợp quốc thì pháp luật hình sự nước ta giảm xuống chỉ còn 22 cấu thành tội phạm có quy định tử hình.

f. Việc quy định chế tài xử phạt nhẹ nhất (hình phạt cảnh cáo) trong Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999) về cơ bản giống như Bộ luật Hình sự (năm 1985) có một số cấu thành tội phạm ít nghiêm trọng (chủ yếu là trong Chương XV) đã ghi nhận tại 06/07 điều như: Điều 146, khoản 1 Điều 147, các điều 148-149, 151-152 Bộ luật Hình sự (năm 1999)

 

5. Một số điểm mới thuộc Phần riêng có liên quan đến Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999)

Về một số điểm mới thuộc Phần riêng (mà ở các mức độ khác nhau) có liên quan đến Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999). Việc phân tích khoa học nội hàm của một số quy phạm trong Phần riêng có liên quan đến Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) cho thấy, lần đầu tiên nhà làm luật nước ta đã có những quy định như sau:

a. Phi tội phạm hóa đối với một số hành vi mà trước đây Bộ luật Hình sự (năm 1985) quy định là tội phạm như: các tội chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa (Điều 86); phá hủy tiền tệ (Điều 98); lạm sát gia súc (Điều 184); sản xuất hoặc buôn bán rượu, thuốc lá trái phép (Điều 183),...

b. Tăng nặng hơn mức tối thiểu (hoặc tối đa) của hình phạt so với các mức hình phạt đã quy định tại các điều tương ứng của Bộ luật Hình sự (năm 1985) trong một loạt chế tài đối với những tội phạm được ghi nhận tại các điều 93, 97, 100, 120, 135-137, 141, 147, 159, 163, 171, 195-196, 198, 204-205, 208, 211, 214-215, 218- 219, 236, 239, 245, 248-249, 265, 269, 274, 283, 289-290, 293-303, 310, 314, 335-337 Phần riêng Bộ luật Hình sự (năm 1999).

c. Quy định theo hướng giảm nhẹ hơn loại hoặc (và) mức tối thiểu hoặc tốì đa của hình phạt đối với một số tội phạm mà trong Phần riêng Bộ luật Hình sự năm 1985 đối với những tội phạm đó nhà làm luật đã quy định loại hoặc (và) mức hình phạt nặng hơn trong một loạt chế tài đối với những tội phạm được ghi nhận tại các điều 114, 139, 142, 144, 153-158, 160-162, 164-166, 169, 173, 177- 181, 188-190, 193, 202-203, 208-209, 212-213, 216-217, 229, 247, 250, 253, 255, 259, 262, 266-267, 276, 281-282, 284-285, 306, 313, 319, 324 Bộ luật Hình sự (năm 1999).

Trân trọng!