Pháp luật dân sự gồm hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân. Các quy phạm pháp luật dân sự vừa có tính hệ thống vừa có tính độc lập tương đối.

Quy phạm pháp luật dân sự là những quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra để điều chỉnh quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của luật Dân sự để các quan hệ đó phát sinh, thay đổi, chấm dứt phù hợp với ý chí của Nhà nước.

1. Cấu tạo quy phạm pháp luật dân sự

Quy phạm pháp luật dân sự được cấu tạo bởi các phần: giả định, quy định và chế tài. Quy phạm pháp luật dân sự và điều luật trong văn bản pháp luật dân sự không đồng nghĩa với nhau. Có thể một điều luật chứa đầy đủ các cấu thành của quy phạm song cũng có thể chỉ có một bộ phận (giả định, quy định, chế tài). Cũng có thể chế tài được quy định ở phần khác, thậm chí ở văn bản pháp luật khác. Cũng cần lưu ý, quy phạm pháp luật dân sự và điều luật trong văn bản pháp luật dân sự không đồng nghĩa với nhau. Có thể một điều luật chứa đầy đủ các cấu thành của quy phạm song cũng có thể chỉ có một bộ phận (giả định, quy định, chế tài), cũng có thể chế tài được quy định ở phần khác, thậm chí ở văn bản pháp luật khác.

Phần giả định: Là bộ phận quy định địa điểm, thời gian, chủ thể, các hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong thực tế mà nếu hoàn cảnh, tình huống đó xảy ra thì các chủ thể phải hành động theo quy tắc xử sự mà quy phạm đặt ra. Đây là phần nêu lên trường hợp sẽ áp dụng quy phạm đó.

Phần quy định: là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật và không thể thiếu. Nó nêu lên quy tắc xử sự mà mọi người phải thi hành khi xuất hiện những điều kiện mà phần giả định đã đặt ra.

Phần chế tài: là bộ phận chỉ ra những biện pháp tác động mà Nhà nước sẽ áp dụng đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy tắc xử sự đã được nêu trong phần giả định của quy phạm và cũng là hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể phải gánh chịu khi không thực hiện đúng nội dung tại phần quy định.

Giá trị cốt lõi nhất của quy phạm pháp luật dân sự là định hướng cho các chủ thể về hành vi xử sự của mình sao cho xử sự đó phù hợp với trật tự chung của xã hội, phù hợp vởi lợi ích quốc gia và không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

>> Xem thêm:  Nguồn của luật dân sự là gì ? Phân loại nguồn của luật dân sự ?

2. Các loại quy phạm pháp luật dân sự

Tùy theo cách thức quy định trong các quy phạm, quy phạm pháp luật dân sự được phân chia thành các loại sau đây:

Thứ nhất, quy phạm định nghĩa. Để xác định về vấn đề mà luật cần và đang điều chỉnh, nhà làm luật thường xây dựng các điều luật để mô tả về nó thông qua khái niệm, phạm vi và thậm chí là mô tả đặc điểm của vấn đề đó. Những điều luật có chức năng này thường được gọi là quy phạm định nghĩa, đó là quy phạm nêu ra khái niệm và phạm vi giới hạn của một vấn đề nhất định.

Ví dụ, Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

"'Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

hay Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định".

Thông qua quy phạm định nghĩa, các chủ thể hiểu được về thuật ngữ cũng như nội hàm của vân đề được quy định.

Thứ hai, quy phạm mệnh lệnh. Trong những hoàn cảnh mà nếu chủ thể xử sự khác với xử sự mà luật đã quy định sẽ có nguy cơ gây thiệt hại đến lợi ích của chủ thể khác, lợi ích quốc gia, lợi ích chung của xã hội thì ứng xử của chủ thể buộc phải tuyệt đối tuân theo chuẩn mực mà quy phạm pháp luật đã đề ra. Cách ứng xử mà luật quy định như là một “mệnh lệnh” đối với mọi chủ thể khi nằm trong hoàn cảnh đã được luật dự liệu.

Do đó, quy phạm mệnh lệnh là quy phạm nêu ra cách xử sự duy nhất và bắt buộc các chủ thể phải tuân theo khi tham gia quan hệ dân sự hoặc trong hoàn cảnh do quy phạm này điều chỉnh. Đối với quy phạm mệnh lệnh, các chủ thể buộc phải tuân thủ mà không được làm khác. Các quy định mệnh lệnh thường cấu tạo bằng một chủ ngữ và có từ “phải” đi kèm, theo sau đó là hành vi, xử sự mà chủ thể đó cần thực hiện và tuân theo. Ví dụ như, Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tên gọi của pháp nhân được quy định như sau:

“ỉ. Pháp nhân phải có tên gọi bằng tiếng Việt.

2. Tên gọi của pháp nhân phải thể hiện rõ loại hình tố chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động.

3. Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự”.

Thứ ba, quy phạm tùy nghi. Trong thực tế, để thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ của mình, các chủ thể có thể lựa chọn nhiều cách ứng xử khác nhau, miễn sao việc thực hiện đó phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của từng chủ thể mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội. Trong các trường hợp này, luật cho phép các chủ thể tùy ý lựa chọn cách ứng xử trong phạm vi các cách đã được luật đề ra hoặc cho phép các chủ thể tự do lựa chọn bất cứ cách ứng xử nào cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình. Như vậy, quy phạm tùy nghi được hiểu là quy phạm cho phép các chủ thể được lựa chọn cách xử sự phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình để thực hiện quan hệ dân sự. Luật pháp trao quyền tự do cho các chủ thể trong việc tham gia, thực hiện các quan hệ dân sự nhưng sự “tùy nghi” mà pháp luật cho phép khi các chủ thể ứng xử có thể nằm trong giới hạn đã được xác định trong quy phạm pháp luật. Các cách ứng xử này không xâm phạm lợi ích của quốc gia, lợi ích xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác. Quy phạm pháp luật tùy nghi được phân thành hai loại như sau: Một là, quy phạm tùy nghi lựa chọn. Quy phạm tuỳ nghi lựa chọn là quy phạm nêu ra nhiều cách xử sự cụ thể và các chủ thể được phép lựa chọn một trong những cách đó để xử sự khi tham gia quan hệ dân sự. Việc lựa chọn cách thức xử sự nào do các bên thỏa thuận theo ý chí, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của họ. Quy phạm tùy nghi lựa chọn giúp cho các chủ thể có nhiều sự lựa chọn so với các quy phạm mệnh lệnh.

Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Dân sự năm 2015:

>> Xem thêm:  Phân tích những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự hiện nay ?

“Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tố hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự..."

Theo quy định này thì khi các tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự có một trong hai sự lựa chọn sau đây: một là, các thành viên của tổ chức tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự; hoặc hai là, các thành viên ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch. Hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ đế thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.

Như vậy, với số tiền đặt cọc, bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc có thể giải quyết theo một trong hai cách thức sau đây: Một là, bên nhận đặt cọc trả lại tiền đặt cọc cho bên đặt cọc hoặc Hai là, bên nhận đặt cọc vẫn giữ lại khoản tiền đặt cọc để thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bên đặt cọc. Trường hợp này số tiền đặt cọc được khâu trừ vào số tiền mà bên đặt cọc phải thanh toán cho bên nhận đặt cọc; Hai là, quy phạm tùy nghi thỏa thuận. Khác với quy phạm tùy nghi lựa chọn, quy phạm tùy nghi thỏa thuận cho phép các chủ thể tự do định đoạt, lựa chọn trong xử sự của mình. Nếu như quy phạm tùy nghi lựa chọn giới hạn quyền lựa chọn của chủ thể trong phạm vi các cách ứng xử mà quy phạm đã đề ra thi quy phạm tùy nghi thỏa thuận không giới hạn. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, quyền tự định đoạt của chủ thể không được xâm phạm quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội. So với quy phạm mệnh lệnh, quy phạm tùy nghi lựa chọn thì quy phạm tùy nghi thỏa thuận trao quyền tự quyết cho các chủ thể trong quan hệ nhiều nhất. Các chủ thể được thỏa thuận về các nội dung trong quan hệ miễn sao không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật Dân sự. Luật Dân sự với tính chất là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính chất bình đẳng, tự do thỏa thuận trong đời sống xã hội nên các quy phạm tùy nghi thỏa thuận được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự tương đối lớn. Ví dụ, khoản 1 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thoả thuận”.

Với quy định này, các bên có thể thỏa thuận địa điểm giao tài sản theo ý chí của họ.

Quy phạm pháp luật dân sự là những quy định của Nhà nước về cách xử sự của các chủ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Điều kiện và hoàn cảnh rất đa dạng, cho nên, cách xử sự của các chủ thể cũng rất phong phú và đa dạng. Trong nhiều trường hợp, pháp luật không chỉ dự liệu những xử sự cụ thể mà còn đưa ra khung, giới hạn của các xử sự đó hoặc chỉ đưa ra khung pháp lí mà trong phạm vi khung đó, các chủ thể có thể tuỳ ý lựa chọn cách thức xử sự phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sao cho có lợi nhất. Tuỳ theo cách thức quy định trong các quy phạm, người ta có thể phân chia các quy phạm luật dân sự thành những loại quy phạm sau:

2.1 Quy phạm định nghĩa

Là những quy phạm trong đó nêu ra khái niệm và nêu nội dung khái niệm đó. Quy phạm định nghĩa xác định phạm vi một sự kiện và giới hạn áp dụng sự kiện đó. Thông thường quy phạm, điều luật dạng này thể hiện dưới dạng “X là...”. Ví dụ: “Đại diện là...” (Điều 134 BLDS năm 2015); “thời hạn là...” (Điều 144 BLDS năm 2015); “thời hiệu là... ” (Điều 149 BLDS năm 2015).

2.2 Quy phạm mệnh lệnh

Là loại quy phạm nêu ra cách xử sự bắt buộc của chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự. Xử sự này có thể là một hành vi bắt buộc phải thực hiện, thông thường được diễn tả từ các điều luật dưới dạng “phải”...

Ví dụ: “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng kí thì phải tuân theo quy định đó” (khoản 2 Điều 119 BLDS năm 2015).

Loại quy phạm này có những trường hợp thể hiện dưới dạng duy nhất một sự kiện, ví dụ: “Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt”. Quy phạm mệnh lệnh cũng được thể hiện dưới dạng quy định một hành vi bị cấm không được làm.

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật là gì ? Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự ?

Ví dụ: “Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác" (khoản 4 Điều 3 BLDS năm 2015).

về nguyên tắc, quy phạm mệnh lệnh là những quy định dứt khoát, các bên tham gia không thể thoả thuận để thay đổi các quy phạm đó. Những loại quy phạm này không phổ biến, không đặc trưng cho các quy phạm pháp luật dân sự bởi các quan hệ dân sự rất đa dạng, phong phú (về chủ thể, khách thể, nội dung). Thông thường, những quy phạm mệnh lệnh được quy định trong trường hợp: nếu làm khác đi thì không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia mà còn ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội, Nhà nước, đến quyền và lợi ích của người khác.

2.3 Quy phạm tuỳ nghi lựa chọn

Là những quy phạm nêu nhiều cách xử sự khác nhau, trong đó các chủ thể tham gia có thể lựa chọn một trong các cách đã nêu.

Ví dụ: “Trong trường hợp bên bán giao vật với số lượng nhiều hơn số lượng đã thoả thuận, thì bên mua có quyển không nhận phần dôi ra; nếu nhận, thì phải thanh toán theo giá thoả thuận phần dôi ra” (khoản 1 Điều 437 BLDS năm 2015).

Trong trường hợp này, pháp luật đưa ra các cách xử sự khác nhau và người có quyền có thể lựa chọn một trong các cách đó. Loại quy phạm này là dạng “trung chuyển” giữa quy phạm mệnh lệnh và quy phạm tuỳ nghi (tiểu mục d). Bởi vì ở đó các chủ thể chỉ được phép lựa chọn trong các cách xử sự đã được quy định. Mặt khác, nó cũng tạo cho các chủ thể các cách lựa chọn khác nhau, tạo điều kiện các chủ thể phát huy được quyền tự định đoạt của mình.

2.4 Quy phạm tuỳ nghi

Khác vói các quy phạm đã nêu trên (dự liệu bắt buộc, dự liệu lựa chọn có hạn chế), các quy phạm tuỳ nghi theo thoả thuận cho phép các chủ thể tự định đoạt. Giới hạn sự tự định đoạt này bị hạn chế bởi các nguyên tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng. Ví dụ: “Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thoả thuận” (Điều 277 BLDS năm 2015). Thoả thuận là cốt lõi của mọi hợp đồng dân sự, ở đây các chủ thể được toàn quyền quyết định về quan hệ mà họ tham gia. Loại quy phạm này phổ biến trong các quy phạm pháp luật dân sự. Ngay cả trong trường hợp pháp luật có quy định một cách xử sự nào đó thì trước tiên phải được áp dụng theo sự thoả thuận của các bên và được thể hiện dưới dạng: "... Nếu không có thoả thuận khác... ”, “bên thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ nếu các bên không có thoả thuận khác”.

Như vậy, việc thoả thuận có thể giống, có thể khác các quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, thừa kế, tranh chấp tài sản dân sự ... Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bộ luật dân sự là gì ? Phân biệt luật dân sự với các ngành luật khác ?

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Luật dân sự là gì ? Phân tích đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật dân sự ?