1. Quyền của phụ nữ theo luật quốc tế

Phụ nữ là nhóm đông nhất trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương (do hơn một nửa nhân loại là phụ nữ) nên vấn đề quyền của phụ nữ thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế. Trên thực tế, cuộc đấu tranh cho các quyền của phụ nữ diễn ra trên thế giới từ rất sớm. Nhiều tài liệu cho thấy, ngay từ thời kỳ cách mạng tư sản Pháp (thế kỷ XVIII), ở châu Âu đã xuất hiện các phong trào đấu tranh của phụ nữ chống lại sự bóc lột kinh tế và sự phân biệt đối xử với họ trên phương diện chính trị, xã hội. Về sau, các phong trào đó được gọi chung là phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ (feminism). Xét chung, phong trào đòi bình quyền cho phụ nữ và các phong trào đấu tranh giai cấp và giải phóng dân tộc là những cuộc vận động mang tính toàn cầu nhằm xoá bỏ ba hình thức bất bình đẳng chủ yếu trong xã hội loài người mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã xác định, đó là bất bình đẳng về chủng tộc, giai cấp và giới. Cũng như vấn đề quyền con người nói chung, các cuộc đấu tranh vì quyền của phụ nữ cũng được bắt đầu từ cấp độ quốc gia rồi dần phát triển trở thành những phong trào quốc tế, có ảnh hưởng và tác động đến pháp luật quốc tế. Trên phương diện pháp lý quốc tế, vấn đề bảo vệ phụ nữ đã trở thành nội dung của nhiều công ước do ILO ban hành từ đầu thế kỷ XX. Mặc dù vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ mới chỉ được chính thức đề cập trong luật quốc tế kể từ khi Liên hợp quốc ra đời. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 lần đầu tiên khẳng định sự ‘bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn ông...” . Ba năm sau đó (1948), UDHR xác lập nguyên tắc nền tảng là tất cả mọi người đều được hưởng các quyền và tự do một cách bình đẳng, không có bất cứ sự phân biệt nào về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, ngôn ngữ, quan điểm chính trị và các yếu tố khác (các Điều 1 và 2). Tiếp theo UDHR, một loạt điều ước quốc tế đã được Liên hợp quốc thông qua nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái, bao gồm Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952; Công ước về quốc tịch của phụ nữ khi kết hôn năm 1957; Công ước về đăng ký kết hôn, tuổi tối thiểu khi kết hôn và việc kết hôn tự nguyện năm 1962... Nguyên tắc bình đẳng nam nữ cũng được khẳng định trong cả hai điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người năm 1966 là ICCPR và ICESCR (Lời nói đầu và các Điều 2(2), Điều 3 của hai công ước này)...

2. Bình đẳng về các quyền giữa phụ nữ và đàn ông

Các văn kiện kể trên bước đầu đã xác lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm bảo đảm vị thế bình đẳng của phụ nữ với đàn ông trong cương vị chủ thể của các quyền con người, nhưng chưa đưa ra được những giải pháp để bảo đảm cho họ hưởng thụ đầy đủ các quyền đó trên thực tế. Vì vậy, năm 1967, Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Văn kiện này là tiền đề cho sự ra đời của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18-12-1979. Công ước này có hiệu lực từ ngày 3-9-1981, tính đến tháng 8-2011, đã có 187 quốc gia thành viên152, là một trong hai điều ước quốc tế về quyền con người có số lượng quốc gia thành viên cao nhất (chỉ đứng sau Công ước về quyền trẻ em). Tuy nhiên, CEDAW cũng là một trong số các điều ước quốc tế về quyền con người có số lượng quốc gia bảo lưu (một số điều khoản) cao nhất. Đây chính là một trong những trở ngại chính trong việc hiện thực hóa các quyền bình đẳng của phụ nữ trên thực tế, cho dù CEDAW hiện đã được hầu hết quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc gia nhập. Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ II tổ chức ở Viên (Áo) năm 1993 đã tái khẳng định trong văn kiện chính thức cuối cùng (Tuyên bố Viên và Chương trình hành động) rằng: “Quyền con người của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời của các quyền con người phổ biến” (đoạn 18 phần I). Với sự khẳng định này, cuộc đấu tranh vì các quyền bình đẳng của phụ nữ được lật sang một trang mới, theo đó, tất cả những mối quan tâm của phụ nữ sẽ được lồng ghép vào các chương trình, hoạt động về quyền con người. Ngoài các hội nghị quốc tế chung về quyền con người, từ 1975 đến 1999, bốn Hội nghị thế giới về phụ nữ đã được tổ chức (ở Mêhicô năm 1975, ở Côpenhagen (Đan Mạch) năm 1980, ở Nairôbi (Kênia) năm 1985, và ở Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1995) đã thảo luận và đưa ra nhiều giải pháp thúc đẩy và bảo vệ có hiệu quả các quyền, cơ hội và vị thế bình đẳng của phụ nữ. Để thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với vấn đề quyền của phụ nữ, Liên hợp quốc đã lấy giai đoạn 1975- 1985 là “Thập kỷ của Liên hợp quốc về Phụ nữ.”

3. CEDAW – văn kiện quốc tế quan trọng nhất về quyền con người của phụ nữ

CEDAW là một trong 9 công ước quốc tế quan trọng nhất hiện nay về quyền con người của Liên hợp quốc (core international human rights instruments). Mặc dù vậy, CEDAW không xác lập các quyền con người mới cho phụ nữ, mà thay vào đó, Công ước này đề ra những cách thức, biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền con người mà họ đã được thừa nhận trong những điều ước quốc tế trước đó. Cụ thể, Công ước chỉ ra những lĩnh vực mà có sự phân biệt đối xử nặng nề với phụ nữ như hôn nhân gia đình, quan hệ dân sự, lao động việc làm, đời sống chính trị, giáo dục đào tạo.., đồng thời, xác định những cách thức, biện pháp để xóa bỏ những sự phân biệt đối xử đó. Theo cách tiếp cận của CEDAW, bình đẳng giới (hay bình đẳng nam nữ) không có nghĩa là đối xử với phụ nữ giống như đối xử với nam giới trong mọi trường hợp (mô hình bình đẳng hình thức), bởi điều này trên thực tế chỉ làm tăng thêm sự phụ thuộc của phụ nữ với nam giới, do phụ nữ là nhóm yếu thế hơn nam giới. CEDAW cũng không áp dụng mô hình bình đẳng giới mang tính chất bảo hộ phụ nữ, mà theo đó, sự bảo vệ phụ nữ được dựa trên sự chấp nhận địa vị phụ thuộc của phụ nữ với đàn ông. Thay vào đó, CEDAW sử dụng mô hình bình đẳng thực chất (hay còn gọi là cách tiếp cận mang tính điều chỉnh). Theo mô hình này, bình đẳng giới không mang ý nghĩa đơn giản là cào bằng sự tham gia, đóng góp của nam giới và phụ nữ trong mọi hoạt động, mà có nghĩa là phụ nữ và nam giới được công nhận vị thế như nhau trong xã hội và cùng có các điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy khả năng, tham gia đóng góp và hưởng thụ thành quả phát triển của quốc gia trên mọi lĩnh vực.

4. Bình đẳng nam nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền con người

Liên quan đến khái niệm bình đẳng nam nữ, Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (cơ quan giám sát thực hiện ICESCR), trong Bình luận chung số 16 thông qua tại phiên họp lần thứ 30 năm 2005 của Ủy ban (về quyền bình đẳng của nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa nêu ở Điều 3 ICESCR)253 đã nhấn mạnh rằng, bình đẳng nam nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền con người là một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong tất cả các văn kiện quốc tế về lĩnh vực này. Bản chất của quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật nhân quyền quốc tế là nhằm để bảo đảm không có sự phân biệt đối xử vì lý do giới tính trong việc hưởng thụ tất cả các quyền con người (các đoạn 1 và 3). Cũng theo Ủy ban, khái niệm bình đẳng nam nữ cần được hiểu là bình đẳng thực chất. Nó đòi hỏi sự bình đẳng của phụ nữ được thực hiện không chỉ trong pháp luật (bình đẳng hình th ức) và cả trên thực tế, tức là các chính sách, pháp luật phải có tác dụng làm giảm thiểu những thiệt thòi của phụ nữ trên thực tế (các đoạn 6 và 7).

5. Những văn kiện và cơ chế quốc tế để bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương

Thứ nhất, giống như tất cả các mọi người, thành viên của các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội cũng được hưởng các quyền áp dụng chung cho toàn nhân loại mà được ghi nhận trong UHDR, ICCPR và ICESCR, tuy nhiên, do vị thế yếu hơn của họ, các nhóm này rất dễ bị vi phạm các quyền hoặc gặp khó khăn trong việc hưởng thụ các quyền. Thực tế đó làm nảy sinh nhu cầu xây dựng những văn kiện pháp lý quốc tế với những quy định cụ thể và chi tiết hơn để bảo vệ và thúc đẩy quyền của các nhóm này. Thứ hai, hệ thống các quy phạm và cơ chế quốc tế về quyền con người nói chung về cơ bản là không đủ, thậm chí, đôi khi không phù hợp nếu áp dụng một cách máy móc với các nhóm người dễ bị tổn thương. Đơn cử, quyền về việc làm là một trong các quyền cơ bản của tất cả mọi người, tuy nhiên, nếu không có những quy định cụ thể về việc áp dụng quyền này với những người chưa thành niên thì có thể sẽ dẫn đến bảo trợ cho việc lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em. Hoặc trong hệ thống các quyền và tự do cơ bản của con người không có nhiều quyền rất cần thiết cho trẻ em (ví dụ như quyền được chăm sóc, giáo dưỡng, được học tiểu học miễn phí...), cho phụ nữ (ví dụ như các quyền về sức khỏe sinh sản...), cho người khuyết tật (ví dụ như quyền được hỗ trợ về việc đi lại...), người sống chung với HIV (ví dụ như quyền không bị cưỡng bức xét nghiệm và được giữ bí mật về kết quả xét nghiệm HIV...), người tị nạn, người tìm kiếm nơi lánh nạn (ví dụ như quyền không bị đẩy trả lại nước gốc nếu việc đó khiến họ có thể bị tàn sát, ngược đãi...), người thiểu số (ví dụ như quyền được giữ gìn bản sắc văn hóa của cộng đồng họ...), người bản địa (ví dụ như quyền được bảo tồn và hưởng lợi trên đất đai của tổ tiên họ...)... Như đã đề cập ở trên, vấn đề quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương cấu thành một bộ phận quan trọng trong luật nhân quyền quốc tế. Hệ thống văn bản quốc tế về vấn đề này hiện có hàng trăm văn kiện không chỉ do Liên hợp quốc mà còn do nhiều tổ chức liên chính phủ quốc tế thành viên của Liên hợp quốc, đặc biệt là UNESCO, ILO... thông qua. Mặc dù vậy, chương này chỉ giới thiệu và phân tích khái quát những quy phạm quốc tế chủ yếu về quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương nhất, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống chung với HIV/AIDS và người thiểu số.