1. Khái niệm quyền dân tộc tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền tự mình định đoạt những công việc thuộc về vận mệnh của dân tộc mình, như lập ra một nhà nước dân tộc riêng, độc lập, hoặc cùng với các dân tộc khác thành lập một nhà nước nhiều dân tộc trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.

Quyền của một dân tộc tự quyết định là một nguyên tắc chung trong luật pháp quốc tế hiện đại (thường được coi là quy tắc jus cogens ), ràng buộc, như vậy, trên Liên Hợp Quốc như là sự giải thích có thẩm quyền các tiêu chuẩn của Hiến chương. Nó tuyên bố rằng một dân tộc, dựa trên tôn trọng nguyên tắc bình đẳng quyền và bình đẳng công bằng của cơ hội, có quyền tự do lựa chọn chủ quyền của họ và tình trạng chính trị quốc tế mà không có sự can thiệp.

Khái niệm này lần đầu tiên được thể hiện trong những năm 1860, và lan truyền nhanh chóng sau đó. Trong và sau Thế chiến thứ nhất, nguyên tắc được khuyến khích bởi cả Vladimir Lenin và Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson. Sau khi công bố điểm mười bốn của mình vào ngày 8 tháng 1 năm 1918, ngày 11 tháng 2 năm 1918, Wilson tuyên bố: "các nguyện vọng quốc gia phải được tôn trọng, người dân bây giờ có thể bị chi phối và cai trị chỉ bởi sự đồng ý của họ." Quyền tự quyết không chỉ là một cụm từ; nguyên tắc bắt buộc của hành động".

Trong thế chiến II, nguyên tắc được đưa vào Hiến chương Đại Tây Dương, được ký vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, bởi Franklin D. Roosevelt, Tổng thống Hoa Kỳ, và Winston Churchill, Thủ tướng Anh, người đã cam kết Tám điểm chính của Hiến chương. . Nó được công nhận là một quyền hợp pháp quốc tế sau khi nó được liệt kê rõ ràng như là một quyền trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Nguyên tắc không nêu rõ quyết định được đưa ra như thế nào, cũng không phải kết quả là gì, cho dù đó là độc lập, liên bang, bảo vệ, một số hình thức tự chủ hoặc đồng hóa đầy đủ.[9] Nó cũng không nêu rõ sự phân biệt giữa các dân tộc - cũng như những gì tạo nên một con người. Có các định nghĩa mâu thuẫn và tiêu chí pháp lý để xác định nhóm nào có thể yêu cầu quyền tự quyết định một cách hợp pháp.

Bằng cách mở rộng, thuật ngữ tự quyết định có nghĩa là sự lựa chọn tự do của một hành vi của riêng mình mà không có sự ép buộc bên ngoài.[

Quyển dân tộc tự quyết được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế hiện nay.

2. Sự hình thành nguyên tắc

– Tôn trọng quyền của các dân tộc được tự do lựa chọn con đường và hình thức phát triển là một trọng những cơ sở quan trọng để thiết lập các quan hệ quốc tế. Quyền này được thể hiện một cách tập trung nhất trong nguyên tắc dân tộc tự quyết, dựa trên nền tảng chủ quyền dân tộc.

– Ra đời trong giai đoạn khi mà quá trình phi thuộc địa hóa đã đạt tới đỉnh điểm, nguyên tắc dân tộc tự quyết đã thể hiện vai trò của Liên hợp quốc trong quá trình đấu tranh cho quyền của các dân tộc. Đồng thời, nguyên tắc này đã hướng tới việc chống chủ nghĩa thực dân, tập trung chú ý vào việc giải phóng các dân tộc khỏi ách đô hộ.

– Ngày nay, quyền dân tộc tự quyết được hiện thực hóa trong đời sống quốc tế thông qua các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm: quyền được độc lập của dân tộc; quyền bình đẳng với các dân tộc khác; quyền được sống trong hòa bình, an ninh, phát triển bền vững…Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết đã trở thành nguyên tắc pháp lý quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác như: Tuyên bố về trao trả độc lập cho các nưpớc và dân tộc thuộc địa năm 1960; hai Công ước về các quyền dân sự chính trị, quyền kinh tế-xã hội-văn hóa năm 1966; tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế.

3. Nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết

* “Quyền dân tộc tự quyết” được hiểu là việc một dân tộc hoàn toàn tự do trong việc tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. Khoản 2 điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận “phát triển quán hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và dân tộc tự quyết”. Như vậy, khái niệm “dân tộc tự quyết” được nhắc đến trong Hiến chương Liên hợp quốc không phải là quyền tự quyết của dân tộc theo nghĩa là sự tập hợp của các sắc tộc hoặc quyền tự quyết của các dân tộc thiểu số trong từng quốc gia. Quyền dân tộc tự quyết ở đây chỉ thuộc về nhân dân theo nghĩa là tất cả dân cư thường xuyên sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định – chủ thể luật quốc tế.

* Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã khẳng định “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thực thể hiện quyền dân tộc tự quyết”. Như vậy, nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau:

– Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện;

– Tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế xã hội;

– Tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài;

– Quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ và ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự;

– Tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý.

Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng.

Ngoại lệ của nguyên tắc

Nguyên tắc này không thừa nhận bất kỳ ngoại lệ nào.

4. Quy định về quyền dân tộc tự quyết trong các văn bản quốc tế

Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trở thành nguyên tắc pháp lý quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc và nhiều văn bản quốc tế quan trọng khác.

Cụ thể, nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết được thể hiện trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc với tư cách là một trong những mục đích hoạt động của tổ chức này với nội dung: “phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”.

Trong điều 55 của Hiến chương, nguyên tắc dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Như vậy, quan hệ giữa các dân tộc được xác định trong Hiến chương chính là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền, trong đó các dân tộc bình đẳng và mỗi dân tộc đều có quyền tự định đoạt vận mệnh của mình.

Bằng Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 14-12-1960, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”, Điều 2 Nghị quyết đã chỉ rõ rằng: “tất cả các dân tộc đề có quyền tự quyết, trong đó có quyền thiết lập chế độ chính trị và thực hiện sự phát triển kinh tế – xã hội và văn hóa của mình”.

Trong Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế, Liên Hiệp Quốc cũng đã khẳng định: “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó, cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết”, và “Mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền này, phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc”.

5. Tư tưởng của V.I.Lênin về quyền dân tộc tự quyết

V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa rất rõ ràng, quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc chính là quyền tự quyết về chính trị: “Quyền dân tộc tự quyết có nghĩa là quyền phân lập về mặt Nhà nước của các dân tộc đó ra khỏi tập thể dân tộc khác, có nghĩa là sự thành lập một quốc gia dân tộc độc lập”, Người nói rõ hơn: “Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dân tộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặt chính trị, khỏi dân tộc áp bức họ”. Như vậy, quyền dân tộc tự quyết là quyền của một dân tộc có thể tách ra trở thành một quốc gia dân tộc độc lập với việc tự quyết định thể chế chính trị của mình khỏi một dân tộc khác đang áp bức họ.

Giá trị của tư tưởng V.I.Lênin về quyền dân tộc tự quyết chính là luôn đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Không phải Ông ủng hộ bất cứ một dân tộc nào trong một quốc gia thống nhất đòi tách ra thành lập quốc gia riêng biệt mà V.I.Lênin chỉ ủng hộ việc tách ra thành một quốc gia riêng biệt khi dân tộc đó bị áp bức, bóc lột bằng các biện pháp bạo lực. Bối cảnh mà V.I.Lênin đưa ra vấn đề quyền dân tộc tự quyết là sự áp bức dân tộc đang tràn lan, phổ biến ở cả nước Nga và trên thế giới. Nước Nga Sa hoàng là nhà tù của các dân tộc, chủ nghĩa Đại Nga đang lấn lướt, nô dịch các dân tộc khác trong nước Nga “ở nước Nga, sự áp bức mà những người dị tộc ấy phải chịu đựng, còn nặng nề hơn nhiều so với ở các quốc gia lân cận”. V.I.Lênin cho rằng, việc thừa nhận quyền dân tộc tự quyết ở nước Nga là vấn đề cấp bách vì những người dị tộc đang phải sống ở những vùng ngoại vi, sự áp bức mà những dị tộc ấy phải chịu đựng còn nặng nề hơn nhiều so với các quốc gia lân cận và những dân tộc bị áp bức sống ở những vùng ngoại vi có những người đồng tộc ở bên kia biên giới được hưởng sự độc lập dân tộc nhiều hơn. “Ở Nga, nơi mà hơn 100 triệu người, chiếm ít ra là 57% dân số, đều thuộc các dân tộc đi áp bức... điều tuyệt đối có tính chất bắt buộc đối với những người dân chủ - xã hội, vì những nhiệm vụ dân chủ và xã hội chủ nghĩa của họ, là phải thừa nhận cho các dân tộc bị chế độ Nga hoàng áp bức, được tự do tách khỏi nước Nga”; “Chính là những đặc điểm lịch sử cụ thể của vấn đề dân tộc ở Nga khiến ở nước ta, trong thời kỳ chúng ta đang trải qua, việc thừa nhận quyền dân tộc tự quyết có một tầm quan trọng đặc biệt”.

Trong bối cảnh của thế giới thời kỳ của V.I.Lênin sống, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa, biến các quốc gia, dân tộc nhỏ yếu hơn trở thành thuộc địa của mình, hay nói cách khác, tình trạng áp bức của quốc gia này lên quốc gia khác cũng là rất phổ biến “Một phần lớn của châu Á, bộ phận đông đảo nhất của thế giới, hiện đang ở trong tình trạng, hoặc là thuộc địa của các “cường quốc lớn”, hoặc là quốc gia hết sức bị phụ thuộc và bị áp bức về mặt dân tộc”. Trong bối cảnh của nước Nga và thế giới đang có sự áp bức dân tộc bằng bạo lực như vậy, V.I.Lênin đã nói đến quyền dân tộc tự quyết. Như vậy, quyền dân tộc tự quyết được đặt ra khi có điều kiện, chứ không phải lúc nào cũng nói đến quyền dân tộc tự quyết. Điều kiện đó chính là khi sự áp bức dân tộc đang diễn ra và người dân không thể chịu đựng được cuộc sống đó “chỉ quyết định phân lập ra khi nào sự áp bức dân tộc và những xung đột dân tộc làm cho cuộc sống chung tuyệt đối không thể chịu được, làm cho mọi thứ quan hệ kinh tế bị trở ngại”. Chính vì vậy, trước thực tế Na Uy đòi quyền dân tộc tự quyết, đòi tách ra khỏi Thụy Điển, V.I.Lênin đã thể hiện rõ lập trường của mình. Thái độ của V.I.Lênin là ủng hộ cuộc đấu tranh đòi quyền tự quyết của nhân dân Na Uy. V.I.Lênin đã giải thích lý do tại sao Ông ủng hộ điều này “sự liên kết giữa Na Uy với Thụy Điển không phải là tự nguyện... Chính bọn vua chúa trong thời kỳ chiến tranh Napôlêông, đã đem Na Uy dâng cho Thụy Điển, trái với ý nguyện của người Na Uy và người Thụy Điển đã phải đem quân vào Na Uy để chinh phục nước này”. Chính vì Thụy Điển đã dùng bạo lực để thống trị, áp bức Na Uy nên V.I.Lênin ủng hộ việc phân lập Na Uy ra khỏi Thụy Điển.

V.I.Lênin đã đưa ra điều kiện để đặt ra vấn đề quyền dân tộc tự quyết. Do đó, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong điều kiện đất nước đang phát triển bình thường thì không nói đến quyền dân tộc tự quyết, thậm chí là không nói đến chế độ liên bang “khi nào và chừng nào các dân tộc khác nhau vẫn còn là một quốc gia thống nhất, thì không bao giờ, người mác xít lại đi tuyên truyền cho nguyên tắc liên bang, cũng như cho chế độ phân quyền”. Đó là vì cả những người mác xít và quần chúng nhân dân đều thấy rất rõ lợi ích của việc duy trì những quốc gia có diện tích lớn và dân số đông có ưu thế hơn nhiều so với các quốc gia nhỏ và dân số ít. Những người mác xít đều thừa hiểu rằng “Với những điều kiện như nhau, thì so với các nước nhỏ, các nước lớn có thể giải quyết một cách thành công hơn nhiều đối với những nhiệm vụ của sự tiến bộ kinh tế và của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Nhưng chúng tôi chỉ tôn trọng mối liên hệ tự nguyện chứ không bao giờ tôn trọng mối liên hệ cưỡng bức. Bất cứ nơi nào chúng tôi thấy có những mối liên hệ cưỡng bức giữa các dân tộc là chúng tôi bảo vệ một cách vô điều kiện và kiên quyết quyền của mỗi dân tộc được quyết định vận mệnh chính trị của mình, nghĩa là nguyền phân lập, tuy rằng chúng tôi không mảy may tuyên truyền việc mỗi dân tộc đều nhất định phải tách riêng”. Và quần chúng nhân dân cũng rất sâu sắc về điều này “Do kinh nghiệm hàng ngày của mình, quần chúng nhân dân biết rất rõ tầm quan trọng của những quan hệ địa lý và kinh tế, những lợi thế của thị trường rộng lớn và của một quốc gia rộng lớn nên họ chỉ nghĩ đến phân lập khi nào sự áp bức dân tộc và những xung đột dân tộc làm cho cuộc sống chung trở thành tuyệt đối không thể chịu đựng được và làm cho mọi thứ quan hệ kinh tế bị trở ngại”. Do đó, trong điều kiện một quốc gia dân tộc đang thống nhất phát triển bình thường, mối liên hệ giữa các dân tộc là tự nguyện thì không bao giờ nói đến vấn đề quyền dân tộc tự quyết, đến sự phân lập.

Mục đích của việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là nhằm bảo đảm bình đẳng dân tộc. Bởi lẽ, quyền này chỉ được nói đến khi có áp bức bằng dân tộc không thể nào chấp nhận được, do đó việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết là để xóa bỏ tình trạng áp bức dân tộc đang hiện hữu, thực hiện bình đẳng dân tộc. V.I.Lênin lấy ví dụ về trường hợp Na Uy và Thụy Điển “Na Uy tự trị với tư cách là một bộ phận của Thụy Điển, đã được hưởng quyền tự trị rất rộng rãi cho đến năm 1905, nhưng vẫn không được bình đẳng về quyền lợi với Thụy Điển. Chỉ khi nó tự do phân lập thì nó mới thực tế tỏ rõ và chứng minh là nó được bình đẳng về quyền lợi”. Khi Na Uy vẫn nằm trong Thụy Điển dù đã được hưởng chế độ tự trị thì vẫn chưa được bình đẳng thực sự với Thụy Điển và chỉ khi tách ra trở thành một quốc gia độc lập thì Na Uy mới thực sự bình đẳng về mặt quyền lợi với Thụy Điển. Khi có sự áp bức dân tộc thì phải đấu tranh thực hiện quyền dân tộc tự quyết để bảo đảm bình đẳng dân tộc “Bảo vệ, tuyên truyền, thừa nhận quyền đó tức là bảo vệ quyền dân tộc bình đẳng, bác bỏ những mối liên hệ cưỡng bức, đấu tranh chống mọi đặc quyền về mặt nhà nước của bất cứ dân tộc nào”. Từ đó, V.I.Lênin phê phán những kẻ cơ hội, cáo buộc những người ủng hộ quyền dân tộc tự quyết là ủng hộ chủ nghĩa phân lập cũng vô lý như buộc những người ủng hộ tự do ly hôn là khuyến khích phá hoại những mối liên hệ gia đình: “Buộc tội những người ủng hộ quyền tự do tự quyết, tức quyền tự do phân lập, là khuyến khích chủ nghĩa phân lập, thì cũng vô lý và cũng giả nhân giả nghĩa như buộc tội những người ủng hộ quyền tự do ly hôn là khuyến khích việc phá hoại những mối liên hệ gia đình”. Ủng hộ quyền dân tộc tự quyết không có nghĩa là muốn chia tách thành những quốc gia nhỏ bé, cũng như ủng hộ quyền tự do ly hôn không có nghĩa là khuyến khích ly hôn. Lênin chỉ ủng hộ quyền dân tộc tự quyết khi dân tộc đó đang bị áp bức bằng bạo lực trong một quốc gia dân tộc khác, cũng giống như chỉ ủng hộ ly hôn khi sự trầm trọng của cuộc sống chung là không thể kéo dài, không ly hôn chỉ gây ra đau khổ cho người trong cuộc.

Theo V.I.Lênin, trong điều kiện đang có áp bức dân tộc mà không nói đến quyền dân tộc tự quyết tức là ủng hộ cho tình trạng áp bức dân tộc này, cũng như khi sự trầm trọng của cuộc sống chung là không thể kéo dài mà không nói đến quyền tự do ly hôn chỉ là kéo dài sự đau khổ mà thôi. Những người mácxít nói đến quyền dân tộc tự quyết không phải mà muốn chia rẽ, xé nhỏ các quốc gia. Người xã hội chủ nghĩa luôn hướng tới lợi ích chung của tất cả mọi người, tất cả mọi dân tộc, phấn đấu cho sự bình đẳng dân tộc không chỉ cho dân tộc mình mà còn cho cả dân tộc khác. Do đó, lập trường đối với quyền dân tộc tự quyết chính là lập trường đối với vấn đề bình đẳng dân tộc và là cái phân biệt có phải là người mácxít hay không phải là người mácxít “Người xã hội chủ nghĩa nào thuộc một dân tộc đi áp bức mà trong thời bình cũng như trong thời chiến, không tuyên truyền cho quyền tự do phân lập của các dân tộc bị áp bức, thì người đó không phải là một người xã hội chủ nghĩa, cũng không phải là một người quốc tế chủ nghĩa”. Những người không ủng hộ cho quyền dân tộc tự quyết trong điều kiện đang có áp bức dân tộc bằng bạo lực chính là những người ủng hộ cho giai cấp thống trị, cho những dân tộc đi áp bức dân tộc khác, do đó không thể là người mácxít “Nếu chúng ta không đề ra và không cổ động cho khẩu hiệu quyền phân lập, thì chúng ta sẽ làm lợi không những cho giai cấp tư sản, mà còn làm lợi cho bọn phong kiến và chế độ chuyên chế của dân tộc đi áp bức nữa”; “Không ủng hộ cuộc khởi nghĩa của những vùng bị thôn tính thì khách quan mà nói, chúng ta trở thành những kẻ tán thành thôn tính”; “ vì sự thôn tính vi phạm quyền dân tộc tự quyết, hay nói cách khác, vì nó là một trong những hình thức áp bức dân tộc”; “Phủ nhận quyền tự quyết hay quyền phân lập thì trên thực tế tất nhiên có nghĩa là ủng hộ những đặc quyền của dân tộc thống trị”.

V.I.Lênin còn đưa ra những nguyên tắc cần đảm bảo trong thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Là người chống áp bức, nô dịch dân tộc dưới mọi hình thức nên V.I.Lênin cho rằng khi một dân tộc trong một quốc gia đòi thành lập quốc gia riêng thì các dân tộc khác (dân tộc chiếm đa số), nhà nước không được dùng các biện pháp bạo lực để đàn áp, cấm đoán việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Đồng thời, các dân tộc đòi quyền tự quyết cũng phải bằng những biện pháp hòa bình và chính nhân dân trong dân tộc đó sẽ là người quyết định có phân lập ra thành quốc gia riêng hay không bằng biện pháp hòa bình thông qua bỏ phiếu kín.

Như vậy, V.I.Lênin phản đối việc dùng bạo lực để đòi quyền dân tộc tự quyết cả phía dân tộc đòi quyền tự quyết hay dân tộc, Nhà nước của một quốc gia chung đó.

V.I.Lênin cũng khẳng định nguyên tắc cơ bản là phải lấy lợi ích chung của đại đa số nhân dân làm tiêu chuẩn trong việc xem xét và giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết “Không được lẫn lộn vấn đề quyền dân tộc tự quyết (nghĩa là hiến pháp nhà nước bảo đảm một phương thức giải quyết hoàn toàn tự do và dân chủ vấn đề phân lập) với vấn đề xem xét một dân tộc nào đó có nên tách ra không. Trong mỗi trường hợp riêng biệt, vấn đề thứ hai này phải được đảng dân chủ - xã hội giải quyết một cách hoàn toàn độc lập, căn cứ vào lợi ích của toàn bộ sự phát triển xã hội và lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản vì chủ nghĩa xã hội”. Nguyên tắc trong giải quyết vấn đề quyền dân tộc tự quyết là việc thực hiện quyền này vẫn phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, hướng tới lợi ích chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là tiêu chí để xem xét có giải quyết quyền dân tộc tự quyết của một dân tộc nào đó hay không.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)