1. Quyền được hưởng di sản thừa kế trong gia đình ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trong một gia đình thì phân chia tài sản thừa kế như thế nào ? Cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015), nếu như người chết để lại di chúc sẽ chia thừa kế theo di chúc, nếu như không có di chúc sẽ chia thừa kế theo pháp luật.

Theo quy địn tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Thứ hai: Nếu như di sản thừa kế chưa chia, những thành viên trong gia đình chỉ được quyền bán hoặc tặng cho hoặc cầm cố di sản thừa kế khi được những người thừa kế còn lại đồng ý bằng băn bản hoặc ký xác nhận là đồng ý.

Thưa luật sư, xin cho hỏi : Trong nghị định này , có nêu việc nhận thưa kế , hay được cho tặng lần thứ 2 như sau : 10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu. Như vậy , em ruột tôi di chúc cho tôi 02 căn nhà , căn thứ 1 thì tôi không phải đóng thuế TNCN , và trước bạ , theo Nghị định này , thì căn thứ hai tôi phải đóng lệ phí trước bạ 0.5% phải không ạ ?

=> Theo quy định tại khoản 10 điều 4 của Nghị định 45/2011/NĐ-CP về lệ phí trước bạ và được sửa đổi bởi khoản 1 điều 1 Nghị định số 23/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ như sau :

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ về lệ phí trước bạ như sau:

1. Sửa đổi Khoản 10 Điều 4:

“10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.”

Như vậy, trong trường hợp này, luật không có quy định nhận di sản thừa kế lần 1 hay lần 2, chỉ có quy định nếu như anh, chị em ruột với nhau, để lại di sản thừa kế hoặc tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất cho nhau sẽ được miễn lệ phí trước bạ.

Chàu luật sư ! Gia đình em đang làm thủ tục mở thừa kế quyên quyền sử dụng đất. Đến giai đoạn đo đạt lập bản vẽ mô tã thì hộ giáp ranh không ký xác nhận và văn phòng đăng ký đất đai hướng dẫn em làm đơn yêu cầu gửi phường hòa giải- Em xin hỏi trường hợp của em như trên thì cần làm trình tự thủ tục gì để đăng ký quyền sử dụng đất khi hộ giáp ranh không ký ? - Cán bộ văn phòng đăng ký đất đai hướng dẫn như vậy là đúng hây sai ?Em xin chân thành cảm ơn! Chúc luật sư thật nhiều sức khỏe!Gửi từ điện thoại thông minh Samsung Galaxy của tôi.

=> Ở đây chữ ký của hàng xóm ký giáp ranh để xác định ranh giới thửa đất thì để cho các hộ xác nhận ranh giới thửa đất của mình để tránh tình trạng đất xảy ra tranh chấp.

Đối với trường hợp chủ sở hữu đất nhà bên cạnh không chịu ký giáp ranh thì trong trường hợp này bạn có thể nhờ UBND cấp xã đứng ra nhờ giải quyết giúp. Còn đối với trường hợp này, do chưa có tranh chấp nên chưa thể yêu cầu UBND xã hòa giải được.

Xin kính chào Luật sư của Văn phòng Luật Minh Khuê! Bố chồng tôi mất cách đây được vài tháng. Trước đây, khi bố chồng tôi còn sống, minh mẫn, mạnh khoẻ, bố có lập di chúc cho vợ chồng chúng tôi được thừa hưởng mảnh đất của bố khi bố qua đời. Vậy thưa Luật sư, cho tôi được hỏi, chúng tôi cần làm những thủ tục nào để được cấp Giấy chứng nhận sử dụng đất về mảnh đất tôi nêu trên ạ? Tôi cần tới những cơ quan nào để làm các thủ tục trên? Mong Luật sư giải đáp sớm giúp tôi ạ! Tôi xin chân thành cám ơn Luật sư!

=> Trong trường hợp này. nếu di chúc của bố bạn là hợp pháp, hai vợ chồng bạn sẽ làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế, xin xác nhận của UBND xã phường liên quan đến thủ tục khai nhận di sản thừa kế sau đấy nộp hồ sơ lên văn phòng đăng ký đất đai thuộc phòng tài nguyên môi trường cấp huyện để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

Hồ sơ theo quy định tại khoản 2 điều 9 thông tư 24/2014/TT-BTNMT :

"2. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không thuộc trường hợp “dồn điền đổi thửa”; chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng gồm có:

a) Hợp đồng, văn bản về việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng theo quy định.

Trường hợp người thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là người duy nhất thì phải có đơn đề nghị được đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của người thừa kế;

b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Văn bản chấp thuận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư;

d) Văn bản của người sử dụng đất đồng ý cho chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất mà chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng thời là người sử dụng đất".

Xin chào luật sư, Tôi muốn hỏi luật sơ về luật dân sự. Việc là tôi là con ngoài giá thú. Bố tôi mất, tôi muốn phân chia di sản thừa kế mà ông để lại. Nhưng tôi không nắm rõ tài sản của ông để lại, chỉ nghe ông kể lúc còn sống. Ông nói ông có 1 sổ tiết kiệm 3 tỉ tại chi nhánh ngân hàng Agribank gần nhà. Nhưng tôi không biết là ông đứng tên hay cùng đứng tên với vợ hợp pháp. Lúc ông mất, tôi có đem giấy khai sinh và giấy chứng tử của ông, vào chi nhánh ngân hàng gần nhà ông để xác định nhưng họ từ chối cung cấp và họ đòi có giấy **** của tòa án. Sau đó, tôi có làm đơn khởi kiện dân sự tại TAND huyện mà bố tôi sinh sống. Nhưng TAND họ lại nói là chúng tôi cần xác định rõ sổ tiết kiệm, TAND không có thẩm quyền để xác định sổ tiết kiệm. Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn dùm. 1. Tôi làm sao để xác nhận sổ tiết kiệm mà bố tôi để lại có đúng là sự thật. 2. Số tiền mà tôi có thể nhận được từ sổ tiết kiệm khi có 5 người đồng thừa kế: a. Sổ tiết kiệm chỉ đứng tên bố tôi. b. Sổ tiết kiệm mang tên bố tôi và vợ hợp pháp của ông.

=> Trong trường hợp này, ngân hàng trả lời như vậy là không đúng, nếu trong trường hợp này, bạn muốn xác nhận chính xác số tiền trong ngân hàng của bố bạn là bao nhiêu cần phải chứng minh bạn là con đẻ của bố mình có có quyền được hưởng di sản thừa kế. Sau đó để nghị ngân hàng xác nhận cho là bố bạn có số tiết kiệm tại ngân hàng và có giá trị tiền là bao nhiêu lúc này Tòa án mới có căn cứ thụ lý đơn yêu cầu chi di sản thừa kế của bạn.

Thưa luật sư, Trước đây ông nội tôi được thừa kế vườn dừa (4 sào) trong đó có nhà cửa. Năm 1945 ông tập kết ra bắc đến sau giải phóng (1976) ông mới về lại, vì ông cố chỉ có một mình ông nội là con và ông cố đã mất trước 1975 nên trong thời gian đó giấy tờ đã mất. Về sau địa phương có yêu cầu khai báo lại đất đai, khi khai báo lại địa phương cấp sổ đỏ trong đó có ghi 200m2 là thổ cư còn lại là đât trồng cây lâu năm. Vậy xin hỏi việc xác định đất thổ cư như vậy có đúng không? Xin quý luật sư trả lời dùm. Bây giờ bố tôi có để lại vườn này cho hai anh em tôi. Vậy tôi phải tiến hành tách thửa làm lại sổ đỏ như thế nào mong quý luật sư tư vấn. Tôi chân thành cảm ơn

=> Theo quy định, vấn đề công nhận đất ở như thế nào sẽ tùy thuộc vào hạn mức giao đất và quy hoạch kế hoạch đất của từng địa phương.

Còn để được công nhận diện tích đất vườn còn lại là đất ở, bạn sẽ phải chứng minh được nó thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại điều 103 Luật đất đai năm 2013.

"Điều 103. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;

b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;

c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này".

Bạn cũng cần kiểm tra lại xem hạn mức giao đất tối đa đối với đất ở của địa phương mình là bao nhiêu m2 đối với một hộ gia đình cá nhân.

Thưa luật sư, Bố tôi có 1 căn nhà, bố mẹ tôi ly dị năm 1988, bố tôi đã mất tháng 3/2007 không để lại di chúc, bà nội tôi mất tháng 8/2008 . Bố tôi có 2 chị em , em tôi đã làm sổ hồng căn nhà của bố tôi , được UBND ký ngày 30/10/2007, với tên trên sổ hồng là tên em tôi , có ghi ở dưới (là đại diện thừa kế của ông Nguyễn văn A.) Giả sử căn nhà được định giá là 1 tỷ.Hai chị em tôi mỗi người được một nửa căn nhà. Vậy tôi có thể thanh toán cho em tôi 500tr để căn nhà đó thuộc về tôi. Vậy những thủ tục giấy tờ cần thiết hợp pháp tôi phải làm là gì để sổ hồng ra tên tôi?

=> Vấn đề ở đây sẽ thuộc vào thỏa thuận của hai chị em bạn, nếu như em gái bạn đồng ý nhận tiền, hai chị em sẽ làm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của ba để lại và gửi lên UBND cấp xã phường thị trấn để làm thủ tục sang tên.

Trong trường hợp này cháu bé chưa đủ ba mươi sáu tháng tuổi, do đó theo quy định tại khoản 3 điều 81 luật hôn nhân gia đình 2014 thì quyền ưu tiên nuôi con thuộc về người mẹ trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì bên phía gia đình nhà chồng mới có quyền giành quyền nuôi cháu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Một số vấn đề liên quan đến di sản thừa kế ?

Chào Luật sư! Ba mẹ tôi có mảnh đất và nhà đang ở đứng tên của ba mẹ, gia đình tôi sống chung với ba mẹ. Tuy nhiên năm 2015 ba tôi mất đột ngột và không để lại di chúc gì. Bây giờ mẹ tôi cũng đã già nên muốn sang tên toàn bộ đất và nhà cho tôi, vì 3 chị gái và anh trai đều đã có đất và nhà đầy đủ rồi.
Vậy mẹ tôi có được sang tên cho tôi không ạ?
Cảm ơn!

Một số vấn đề liên quan đến di sản thừa kế

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Về thời hiệu thừa kế:

Thời hiệu thừa kế được quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế..."

Theo đó, di sản thừa kế của cha bạn vẫn còn thời hiệu thừa kế, tuy nhiên ba bạn không để lại di chúc gì nên phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật.

Thứ hai, về vấn đề tài sản:

Ở đây do bạn không nói rõ nên chúng tôi sẽ chia làm hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Đó là tài sản riêng của cha bạn (Tức tài sản có trước thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có trong thời kỳ hôn nhân nhưng thỏa thuận là tài sản riêng)

Căn cứ điều 651. Người thừa kế theo pháp luật có quy định:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; ...

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Trong trường hợp này, tài sản đó là tài sản riêng của cha bạn nên mẹ bạn chỉ có quyền đối với một phần di sản đó. Cụ thể, về hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản của ba bạn gồm có mẹ bạn và 5 anh em bạn, mà theo quy định trên mỗi người sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau, tức là mẹ bạn chỉ có quyền đối với 1/6 phần di sản đó.

Trường hợp thứ hai: Đó là tài sản chung của cha mẹ bạn (Tài sản có trong thời kỳ hôn nhân hoặc thỏa thuận là tài sản chung).

Trong trường hợp này, vì là tài sản chung vợ chồng nên phần nhà và đất đó cha và mẹ bạn mỗi người có một nửa quyền sở hữu. Như vậy di sản thừa kế của cha bạn để lại là 1/2 giá trị của mảnh đất và nhà. Như vậy, cũng tương tự trường hợp trên, di sản thừa kế của cha bạn sẽ được chia làm 06 phần bằng nhau cho 06 người, trong đó mẹ bạn có một phần.

Trong cả hai trường hợp trên, nếu mẹ bạn muốn sang tên, chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đó thì căn cứ vào Khoản 2 Điều 167 Luật đất đai năm 2013, mẹ bạn phải có sự đồng ý của tất cả những người được hưởng di sản thừa kế. Sự đồng ý này phải được thể hiện bằng văn bản ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất, tức những người còn lại sẽ lập một văn bản ủy quyền cho mẹ bạn được toàn quyền sang tên nhà và đất này cho bạn. Văn bản ủy quyền này phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Khoản 3 Điều 167:

"a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Theo đó, văn bản ủy quyền có thể công chứng tại các văn phòng công chứng nơi có bất động sản hoặc chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tư vấn điều kiện hưởng di sản thừa kế ?

Công ty Luật Minh Khuê giới thiệu nhữngquy định của pháp luật liên quan đến điều kiện hưởng di sản thừa kế.

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, nếu như người chết để lại di chúc sẽ chia thừa kế theo di chúc, nếu như không có di chúc sẽ chia thừa kế theo pháp luật.

Theo quy địn tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Thứ hai: Nếu như di sản thừa kế chưa chia, những thành viên trong gia đình chỉ được quyền bán hoặc tặng cho hoặc cầm cố di sản thừa kế khi được những người thừa kế còn lại đồng ý bằng băn bản hoặc ký xác nhận là đồng ý.

Thứ ba: Thủ tục khai nhận di sản thừa kế,

Bước 1: Bạn phải làm thủ tục khai nhận di sản tại phòng công chứng:

Quy trình khai nhận di sản tại phòng công chứng:

Người yêu cầu công chứng nộp các giấy tờ sau cho công chứng viên/ cán bộ thụ lý hồ sơ

Nơi tiếp nhận hồ sơ: Phòng công chứng

Hồ sơ thủ tục bao gồm: Bản sao có công chứng các giấy tờ sau:

- Sơ yếu lý lịch của người được nhận di sản thừa kế

- CMND/ hộ chiếu, hộ khẩu của những người sau: cha, mẹ bạn và của bạn

- Hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền (trong trường hợp xác lập giao dịch thông qua người đại diện)

- Giấy chứng tử của cha, mẹ bạn

- Di chúc

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là di sản thừa kế của cha mẹ bạn ( giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, giấy phép mua bán, hợp thức hóa nhà do Ủy ban nhân dân quận, huyện cấp , sổ tiết kiệm, cổ phiếu, giấy chứng nhận cổ phần…).

Số lượng hồ sơ: 1 bộ.

Tiếp đó, Công chứng viên ra thông báo để niêm yết tại UBND xã, phường, thị trấn nơi người để lại di sản thường trú cuối cùng.

Sau khi nhận lại bản niêm yết thừa kế có xác nhận của UBND phường, xã mà không có tranh chấp, khiếu kiện, Công chứng viên hẹn ngày lên ký kết văn bản khai nhận/ thỏa thuận phân chia di sản

Vào ngày hẹn, người thừa kế mang theo toàn bộ bản chính các giấy tờ đã nộp cho phòng công chứng đến ký kết văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Bước 2: Sau khi văn bản thỏa thuận phân chia di sản được xác nhận, bạn tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất tại văn phòng đăng ký đất đai thuộc phòng tài nguyên môi trường của UBND cấp quận huyện nơi có đất.

- Bước 1: Bên thừa kế nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện (nếu là cá nhân), cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh (nếu là tổ chức). Nếu bên thừa kế không có di chúc hoặc bản án thì phải đến công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Trường hợp có tranh chấp thì phải giải quyết xong tranh chấp.

- Bước 2: Căn cứ vào hồ sơ, cơ quan quản lý nhà ở sẽ kiểm tra, xác định vị trí thửa đất và gửi cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có);

- Bước 3: Sau khi có thông báo của cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà ở sẽ gửi thông báo nộp thuế để chủ nhà đi nộp nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế (nếu chủ nhà không thuộc diện phải nộp hoặc được miễn nộp nghĩa vụ tài chính thì không có bước này).

- Bước 4: Sau khi đã nộp thuế, chủ nhà nộp biên lai thu thuế, lệ phí trước bạn cho cơ quan quản lý nhà ở để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Thời gian này không tính vào thời gian chủ nhà đi nộp các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước.

Hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

- Các giấy tờ về thừa kế như: Di chúc, Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước);

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;

- Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).

- Giấy chứng tử;

- Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Thưa luật sư, Mẹ tôi và dì tôi cùng đứng tên quyền sở hữu 1 căn nhà. Dì tôi lấy chồng và ở trên ngôi nhà đó, được mấy năm thì dì tôi mất. Thì bây giờ ngôi nhà đó sẽ được chia như thế nào vậy luật sư? (Ngôi nhà đó có trước khi dì tôi kết hôn và họ chưa có con cái gì). Tôi xin chân thành cám ơn!

=> Trong trường hợp này, trước hết phải xác định xem giá trị tài sản của mẹ bạn trong căn nhà này là bao nhiêu, của dì bạn là bao nhiêu. Sau đấy sẽ chia theo tài sản theo phần quyền của từng người. Phần di sản của dì bạn tại căn nhà sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Còn thỏa thuận bán căn nhà hay mẹ bạn sẽ đưa tiền để họ tự thỏa thuận với nhau để chia di sản thừa kế là tùy những người đồng thừa kế.

Thưa luật sư, Cho em hỏi là bố mẹ tôi là vợ chồng hợp pháp sinh được hai người con. nhưng sau đó bố tôi lại sống chung như vợ chông với người phụ nữ khác từ năm 1980 và cũng sinh đươc hai người con. sau đó bố tôi mất năm 2006 và để lại di chúc toàn bộ tài sản cho người phụ nữ kia (vợ hai). vậy di chúc như thế có hợp lệ không và những ai được nhận thừa kế tài sản của bố tôi ạ. xin cảm ơn!

=> Trong trường hợp này, cần xác nhận hôn nhân của bố bạn và mẹ bạn cũng như của người vợ hai đều được xem là hợp pháp.

Di chúc hợp pháp khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố quy định tại điều 653 bộ luật dân sự 2005.

"Điều 653. Nội dung của di chúc bằng văn bản

1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc".

Nếu như di chúc hợp pháp, nhưng mẹ bạn cũng được xem là vợ hợp pháp theo quy định của pháp luật, do vậy mẹ bạn vẫn được yêu cầu chia di sản thừa kế, và mẹ bạn được hưởng một phần di sản, bằng 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật theo điều 669 Bộ luật dân sự.

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động".

Còn nếu bạn chứng minh được nội dung của di chúc không hợp pháp, di chúc bị vô hiệu hoặc được tạo lập ra trong giai đoạn người để lại di chúc không còn minh mẫn nữa,bạn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Nhưng phải chứng minh được di chúc vô hiệu.

Thưa luật sư, tôi có một câu hỏi liên quan đến việc chuyển nhượng hợp đồng đặt mua nhà mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có kế hoạch mua nhà ở dự án của chủ đầu tư A. Để có thể thể ký hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất với chủ đầu tư A thì ban đầu tôi phải ký một hợp đồng đặt mua. Theo hợp đồng đặt mua tôi sẽ chuyển cho nhà đầu tư một khoản đặt mua là 100 tr.Trên cơ sở của hợp đồng đặt mua thì nhà đầu tư A sẽ dành cho tôi quyền ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của dự án.Hợp đồng đặt mua sẽ được thanh lý khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết. Theo quy định trong hợp đồng đặt mua khi hợp đồng đặt mua chưa hết hạn, nếu tôi giới thiệu người thứ 3 thừa kế trách nhiệm và quyền lợi đối với Hợp đồng đặt mua hoặc ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư theo đúng những nội dung Hợp đồng tôi đã ký. Trong trường hợp này tôi phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như đối với Hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai. Vậy khi tôi chuyển nhượng lại hợp đồng đặt mua cho bên thứ 3 tôi có phải chịu trách nhiệm nghĩa vụ với ngân sách nhà nước như trong quy định của hợp đồng đặt mua mà chủ đầu tư nói. Các nghĩa vụ đó là gì, quy định trong văn bản pháp luật nào vì ở đây tôi chỉ chuyển nhượng hợp đồng đặt mua mà không phải chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà hình thành trong tương lai. Mong luật sư tư vấn giúp tôi Cám ơn luật sư

=> Trong trường hợp này, trường hợp của bạn là chuyển nhượng hợp đồng, do đó người mua sẽ không có nghĩa vụ phải đóng lệ phí trước bạ do không thực hiện thủ tục sang tên. Nhưng bạn là bên chuyển nhượng thì có phải đóng thuế thu nhập cá nhân hay không, điều này luật không có hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên bản chất của hoạt đồng này là chuyển nhượng bất động sản, do đó việc đóng thuế hay không tùy thuộc vào cách thức áp dụng thuế của bên chi cục thuế. Còn theo cách hiểu luật, đối tượng ở đây là hợp đồng mà không phải là bất động sản do đó bạn sẽ không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế.

Kính thưa luật sư, cha mẹ tôi có 1 nền đất 200m2, cất nhà bằng cây lá thô sơ trên nền đất 200m2 này. Cha tôi mất năm 1965 không để lại di chúc (cha mẹ tôi có 3 con trai). Đến năm 1970, mẹ tôi có chồng khác và sanh 2 con gái. Năm 1991, vợ chồng thằng út nuôi mẹ tôi đến ngày hôm nay. Năm 2000, thằng út phá bỏ nhà cũ thô sơ xây lại nhà mới bằng tường kiên cố. Cách đây khoảng 5 năm (2011), mẹ tôi đã sang tên chủ quyền nhà và đất ở (200m2) cho thằng út đứng tên chủ quyền và sở hữu. Nay anh cả phản đối đòi chia đều cho cả 3 người con trai nền đất 200m2 đó. Vậy xin luật sư cho tôi được biết về pháp lý anh cả tôi đòi hỏi vậy có đúng không ? Kính mong luật sư sớm giải đáp giúp tôi và gia đình, xin chân thành cảm ơn luật sư.

=> Anh cả bạn muốn chia phần đất này phải chứng minh được đây là tài sản chung của bố mẹ và thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn, chứng minh được quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai so với quy định của pháp luật thì mới có quyền yêu cầu chia tài sản này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Giải đáp thắc mắc về tranh chấp di sản thừa kế ?

Xin chào luật sư ! E có chút thắc mắc về vấn đề đất đai bìa đỏ và quyền thừa kế ạ.. em sơ qua về gia đình em 1 chút.. Bố em lấy 2 vợ nhưng đều đã ly hôn .có 3 đứa con 1 đứa em trai e ở với mẹ còn đứa e gái ở với mẹ hai. Em là con gái cả ở với bố ..sổ hộ khẩu chỉ có 2 bố con.. Bố e mất được 3 năm rồi tất cả bìa đỏ và giấy tờ sau khi bố e mất thì gia đình họp lại và bảo giao cho bác trai cả cầm vì khi đó em chưa đủ 18 tuổi. Bố em mất đc 1 năm sau thì bà nội e cũng mất nhưng bà ở với bác.
Bây giờ e muốn làm bìa đỏ sang tên thì bác em nói bà nội vẫn được chia vì bà mất sau bố em. Em thắc mẵc là nếu như vậy thì bà e,có được chia ko? bây giờ e mà muốn làm lại bìa thì e có thể đứng ra làm được không. Em 19 tuổi rồi. Còn 2 em của e thì còn rất nhỏ.
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bố bạn mất và không để lại di chúc. Do đó, phần di sản của bố bạn để lại sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 676 Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Theo đó, tại thời điểm bố bạn chết, bà nội bạn vẫn còn sống cho nên bà bạn vẫn được hưởng một phần di sản do bố bạn để lại. Mảnh đất này là di sản thừa kế mà bố bạn để lại cho nên phải được chia đều cho các anh em và bà nội bạn. Sau khi chia thì nếu đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận theo quy định thì bạn mới có thể tự đứng ra làm bìa đỏ cho mảnh đất này.

Thưa luật sư, Tôi có 5 anh em, trên tôi là 1 anh trai( trưởng nam), dưới tôi là 3 em gái, tất cả đều đã có gia đình và ở riêng. Nguyên trước đây ông bà nội tôi có để lại cho ba má tôi một mảnh vườn. Ba tôi mất năm 1997 và đến năm2005 thì má tôi cũng qua đời, ông bà không để lại di chúc. Vì tất cả đều đã có gia đình và ở riêng nên 4 anh em tôi đã thống nhất giao quyền sử dụng mảnh vườn trên cho anh cả trưởng nam. Trên mảnh vườn này có căn nhà ba má tôi xây dựng kiên cố và hiện là nơi thờ cúng ông bà. (Năm 2000 gia đình anh cả tôi đi lập nghiệp ở xa và sau khi má tôi mất thì vợ chồng đứa em gái ở gần lo việc nhang khói cha mẹ) Khi ký tên giao quyền sử dụng mảnh vườn trên cho anh cả, 4 anh em chúng tôi không ràng buộc gì về nhà cửa và việc thờ cúng vì nghĩ anh cả sẽ thực hiện bình thường việc thờ cúng ông bà cha mẹ theo như đạo lý truyền thống. Xin cho tôi hỏi: 1) Anh cả tôi có quyền bán toàn bộ mảnh vườn trên (có căn nhà thờ) mà không cần sự đồng thuận của 4 anh em tôi hay không? 2) Mảnh vườn có mặt tiền rộng 17m. Anh cả tôi có quyền đập phá căn nhà thờ chỉ chừa lại một phần là 2m để đặt bàn thờ, còn 15m cho người khác thuê dài hạn mà không cần sự đồng ý của 4 anh em chúng tôi hay không? (Căn nhà nằm sát một bên mảnh đất). Knh mong được sự tư vấn của quý luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Theo như quy định tại Điêu 648 BLDS 2005 thì thời hiệu khởi hiện chia thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (tức thời điểm mẹ bạn mất). Theo thông tin bạn cung cấp thì sau khi mẹ bạn mất các anh em đã thỏa thuận và ký tên giao quyền sử dụng mảnh vườn cho người anh cả và không có bất kì một thỏa thuận gì thêm. Do đó, đến thời điểm này đã quá 10 năm khởi kiện chia thừa kế đối với phần di sản của cả bố và mẹ bạn cho nên anh cả của bạn hoàn toàn có quyền sử dụng và định đoạt mảnh đất này.

Chào luật sư, xin Luật sư tư vấn dùm em, ba em có 2 vơ, vợ trước sinh được 2 người con 1 trai 1 gái, nội em cho ba em một miếng đất xây nhà mà không có sổ đỏ chỉ có sổ hộp khẩu gia đình thôi. Không may mẹ em mất trông khi đó em và chị em còn quá nhỏ và ba em cưới người vợ 2 và ở vế nhau trên đất nội em cho chứ không phai do 2 người làm ra và bà vợ sau cũng có một người con gái với ba em và bà vợ sau cũng không làm gì để kiếm thêm thu nhập cho gia đình hết chỉ ở nhà lo việc nhà và ba em củng để dành tiền xây được một căn nhà trên mảnh đất đó và ở với nhau cho tới giờ. Mà tính tình bà vợ sau tham lam muốn lấy hết tài sản ở nhà và muốn lấy luôn miếng đất đó không cho chị em của em ở mà bả chỉ muôn sở hửu riêng cho bà và con bà . Luật sư cho em hỏi trong trường hợp này thì miếng đất đấy sẽ là của ai và chia tài sản như thế nào. Mà ba em vẩn còn sống mà cũng không có ý định để lại di chúc. Mong luật sư tư vấn cho em cách sử lý cảm ơn luật sư nhiều.

=> Do ba bạn vẫn còn sống cho nên việc chia tài sản thừa kế sẽ không được đề cập đến. Tuy nhiên, nếu sau này bố bạn mất và không để lại di chúc thì việc chia di sản này sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật. Khi đó, mảnh đất này sẽ được chia đều cho hàng thừa kế theo quy định tại Điều 676 BLDS 2005.

Xin luật sư tư vấn dùm em: Cha của tôi mất năm 2003 và mẹ tôi mất năm 2004 không để lại di chúc.Trong thời kỳ hôn nhân cha mẹ chúng tôi có sinh ra tất cả 10 người con . Lúc cha mẹ tôi còn sống để lại khoảng : 9.452 m2 gồm nhiều loại đất có thể hiện ghi trong giấy chứng nhận và 01 căn nhà xây dựng năm 2001.Sau khi cha, mẹ chúng tôi qua đời, nhưng không để lại di chúc phần tài sản nói trên. Do đó anh chị em đã họp bàn bạc với nhau, đồng thống nhất giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha chúng tôi để *người em út * tạm thời quản lý. Khi có đủ điều kiện đầy đủ anh,chi,em trong gia đình sẽ tiến hành làm thủ tục sang tên theo đúng qui định của pháp luật, chớ thật tế không có ý định giao hết tài sản của cha mẹ chúng tôi qua đời để lại cho *ngươi em út* toàn quyền quản lý. Đến năm 2005 anh em chúng tôi có làm tờ cam kết tạm thời chia đôi căn nhà của cha mẹ để lại cho tôi và người em út quản lí. Đến năm 2010 người em út này không biết làm cách nào mà chính quyền cấp toàn bộ tài sản do cha mẹ tôi để lại cho người em út này đứng tên khi không co thừa kế của cha mẹ hay giấy ủy quyền của anh em chúng tôi. - Đến năm 2014 *người em út *bệnh mất. Mãi cho đến tháng 7/2016 chúng tôi phát hiện vợ của *người em út này* là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha chúng tôi đứng tên. xin hỏi luật sư với trường hợp như trên anh chi em chúng tôi làm đơn khỏi kiện xin chia lại tài sản của cha mẹ được không,và được bao nhiêu % thắng kiện.

=> Theo quy định tại Điều 648 BLDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là 10 năm. Tính đến thời điểm nay tháng 10/2016 đã hết thời hiệu khởi kiện đồng nghĩa bạn và các người đồng thừa kế mất quyền khởi kiện chia lại tài sản đối với di sản của bố mẹ để lại.

Kính gửi luật sư Minh Khuê, Tôi có một vài vấn đề cần được luật sư tư vấn. - Hiện tại Bố tôi đã mất có để lại một mãnh đất mang tên Bố và Mẹ mà không để lại di chúc, nay tôi muốn sang tên sổ đỏ qua mẹ tôi cần những thủ tục gì ? Hiện tại gia đình còn 5 anh em vậy có cần sự đồng ý của mọi người không. - Nếu sau này sổ đỏ mang tên Mẹ tôi mà Mẹ tôi tặng lại 01 trong 05 anh em tôi thì có cần sự đồng ý của cả 5 anh em không. * Rất Mong sớm được luật sư Minh khuê tư vấn dùm. Tôi rất Chân Thành Cám Ơn.

=> Trường hợp của bạn đề cập là bố bạn không để lại di chúc cho nên cần xem xét ông bà nội của bạn có còn ai không? đồng thời thời điểm bố bạn mất là khi nào? Do đó, nếu bạn muốn sang tên sổ đỏ từ tên bố mẹ sang tên mẹ mình thôi thì cần phải xem phía ông bà nội ( nếu còn sống) và các người thừa kế khác nếu không có yêu cầu chia di sản thừa kế của bố bạn thì mẹ bạn có thể làm thủ tục sang tên toàn bộ mảnh đất của mình cho một mình đứng tên. Ngược lại, nếu có yêu cầu chia di sản thừa kế phần di sản của bố bạn thì sẽ phải thực hiện chia di sản trước khi tiến hành thủ tục sang tên sổ đỏ.

Giả sử sau này mẹ bạn đã sang tên hợp pháp thì mẹ bạn hoàn toàn có quyền sử dụng định đoạt mảnh đất này. Khi đó, mẹ bạn có quyền quyết định tặng cho phần tài sản này cho bạn mà không cần có sự đồng ý của 05 anh em.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thắc mắc thừa kế theo pháp luật?

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Chết đột ngột, di sản thừa kế ai được hưởng?

Thưa luật sư! Tôi xin hỏi trường hợp sau: Người gửi tiết kiệm bị chết đột ngột không có để lại di chúc. Bà ta có 2 đời chồng, đời chồng thứ 1 đã có con chung sau đó ly hôn thì con sống với cha, đời chồng thứ 2 không có con. Như vậy, số tiền gửi tiết kiệm hiện tại thì người nào sẽ được quyền thừa kế ạ?
Xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bà này chết đột ngột và không để lại di chúc do đó di sản của bà này để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, Điểm a Khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;..."

Trong trường hợp này phải xác định được đời chồng thứ hai bà này có đăng ký hết hôn hay không. Nếu như có đăng ký kết hôn thì người chồng thứ hai này sẽ được hưởng di sản thừa kế của bà này cùng với người con đẻ của bà này với người chồng thứ nhất và bố mẹ đẻ của bà này nếu như bố mẹ đẻ bà này còn sống.

Còn về người chồng thứ nhất sẽ không được hưởng vì đã ly hôn nên theo quy định của pháp luật sẽ không được xem là vợ chồng nữa.

Cụ thể Điểm a Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?