Nôi dung đơn :
"Tên tôi là: P
Tôi xin trình bầy với thủ trưởng cơ quan như sau:
Ngày 19/08/2011 Tôi là P cùng ông T có góp vốn để mở một Công ty chuyên kinh doanh về mặt hàng thép ống, thép hộp U I V, các loại tấm lợp tôn.
Hai bên cùng góp vốn là: 3.202.000.000 đồng ( Ba tỷ hai trăm linh hai triệu đồng). Chúng tôi kinh doanh chung từ ngày thành lập đến ngày 31/12/2012 tôi xin rút vốn. Trong thời gian khoảng 45 phút Ông T và kế toán của Công ty cộng sổ sách và cho tôi con số: 2.669.040.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm sáu mươi chín triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) là số tiền thua lỗ trong kinh doanh.
Vậy chia đôi mỗi người phải chịu khoản lỗ là: 1.334.520.000 đồng ( Một tỷ ba trăm ba mươi tư triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng). Tôi không rõ những khoản lỗ đó là những chi phí gì nên tôi đề nghị kiểm tra chứng từ, sổ sách nhưng Ông T không cho tôi kiểm tra.
Tại ngày 05/08/2013 tôi đã hỏi xin Ông T mang sổ sách đi phô tô nhưng Ông T không đồng ý. Tôi cùng Bà N ( Kế toán Công ty) với Ông Phạm Khắc Tỉnh ( Nhân viên trong Công ty) với Ông V ( Người hàng xóm) cùng liêm phong toàn bộ sổ sách của Công ty đóng gói vào thùng carton và liêm phong một bề có chữ ký của tôi và những người làm chứng. Đến chiều tôi có qua Công ty yêu cầu được kiểm tra chứng từ, sổ sách thì không thấy chứng từ sổ sách của Công ty đâu tôi đề nghị ông T cho kiểm tra chứng từ nhưng ông không đồng ý và cũng không biết ông mang sổ sách đi đâu nữa. tôi thấy hết sức bất bình và thật sự là rất vô lý. Dù kinh doanh có lỗ hay lãi thì chứng từ sổ sách phải chứng minh được điều này và tôi với quyền là Cổ đông nắm 50% số vốn của Công ty tôi yêu cầu ban giám đốc của Công ty phải giải trình sự việc trên nhưng cũng không nhận được sự hợp tác do đó tôi làm đơn này kính cơ quan các cấp xem xét giải quyết."

Vậy bạn tôi có kiện người này về tội lừa đảo được không ?

Người gửi : D.H
Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Quyền lợi của cổ đông góp vốn ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

- Luật doanh nghiệp 2014 

Nội dung phân tích: 

- Để kiện một người về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản căn cứ theo điều 139 bộ luật hình sự thì bạn cần nắm rõ hơn về các yếu tố cấu thành tội danh này.

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm."

Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm  phải đáp ứng các yếu tố: “dùng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản của người khác”. Cụ thể hơn, 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm) được thể hiện như sau:

1. Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

2. Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
3. Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
 - Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:
+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
+ Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. 
-Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

4. Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

-> Như vậy để khỏi kiện ông T về hành vi lừa đảo bạn cần đưa ra được những căn cứ chứng minh cho vụ việc trên. Việc bạn được kiểm tra sổ sách tài chính của công ty là quyền của cổ đông phổ thông, là cổ đông sở sở hữu 50 % cổ phần căn cứ quy định của luật Doanh nghiệp:

"Điều 114. Quyền của cổ đông phổ thông

b) Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát."

Như vậy việc giải quyết giữa nội bộ công ty không thống nhất ý kiến, bạn có thể làm đơn ra tòa án kinh tế huyện nơi công ty có trụ sở để yêu cầu ông T hợp tác trong việc trình ra sổ sách tài chính năm, yêu cầu ông và ban giám đốc công ty quản lý hoạt động kinh doanh trình bày về sổ sách các khoản thua lỗ một cách hợp lý.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.