1. Quyền thừa kế tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Người nước ngoài sống tại Việt Nam có phải là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự về thừa kế tài sản hay không ?
Cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Thưa luật sư, xin hỏi: Ba của tôi (nhưng không có đăng kí kết hôn với mẹ tôi) là người nước ngoài, và có thuê một căn hộ chung cư với thời gian thuê là 20 năm nhưng mới có 5 năm thì ba tôi đã mất . Vậy xin luật sư cho tôi hỏi là trong trường hợp này tôi có quyền được tiếp tục thuê căn hộ đó không?

=> Theo quy định pháp luật thì ba bạn là người đứng ra thuê căn hộ chung cư thì khi ba bạn chết hợp đồng sẽ chấm dứt. Bạn có thể thỏa thuận với người quản lý căn hộ về việc bạn tiếp tục thuê căn hộ này.

Thưa luật sư, Tôi có một thửa đất do mẹ để lại, nay mẹ tôi đã mất và tôi là người thừa kế duy nhất. Tôi có nhờ một người làm thủ tục để sang tên cho tôi từ cách đây hai năm, nhưng đến nay vẫn chưa có, mỗi lần tôi gọi điện hỏi thì anh ta cứ hẹn và nói là gần có nhưng không thấy đâu. Thưa luật sư, Bây giờ tôi phải làm sao?

=> Nếu đang làm dở thủ tục và người đó đã nhận tiền, giấy tờ của bạn thì bạn có thể yêu cầu công an dùng biện pháp cưỡng chế để anh ấy thực hiện nghĩa vụ của mình.

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi giấy tờ đất cha tôi đứng tên. Khi cha tôi mất không có di chúc.nay mẹ tôi muốn chuyển tên sang mẹ tôi. Như vậy phải làm thừa kế. Ông bà nội mất hết.gia đình tôi có 3 anh em.tôi con lớn. Đứa em gái có chồng đã tách khẩu. Còn 1 đứa em trai.nếu tôi không kí tên thừa kế thì quyền sử dụng đất đó có chuyển được không, vậy tôi có được chia tài sản theo pháp luật nếu tôi không kí tên không. giờ tôi muốn xin chia tài sản thì thủ tục như thế nào?

=> Theo pháp luật thì nếu những người thừa kế còn lại không kí văn bản từ chối nhận di sản thì di sản đương nhiên được chia đều cho mẹ bạn và 3 anh em.

Khai nhận di sản thừa kế theo pháp luật: Các bước khai nhận di sản thừa kế bao gồm:

Lập văn bản khai nhận di sản

Trình tự thực hiện:

- Những người được hưởng di sản thừa liên hệ với phòng công chứng để lập thông báo về việc khai nhận di sản.

- Niêm yết công khai thông báo mở thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại UBND phường, xã nơi có di sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản trong vòng 30 ngày.

- Nếu sau thời gian niêm yết không có tranh chấp hay khiếu nại, người được hưởng di sản tiến hành khai nhận di sản tại phòng công chứng.

Thưa luật sư, Công ty chúng tôi có ký hợp đồng mua bán nhà với một người, hiện tại chúng tôi chưa bàn giao giấy tờ như biên bản bàn giao nhà, biên bản thanh lý. Hiện tại người đứng tên trong hợp đồng đã chết. Chồng của Bà ấy (người đã chết đứng tên Hợp đồng) đã làm thủ tục thừa kế tại phòng công chứng. Vậy chúng tôi sẽ làm biên bản thanh lý và biên bản bàn giao đứng tên ai, và người chồng có được quyền thanh lý hợp đồng không?

=> Bạn có thể thỏa thuận với chồng bà ấy và phía bên công chứng để tiếp tục bàn giao nhà cho chồng bà ấy.

Thưa luật sư, Nhà em bố và mẹ đứng tên sổ hồng, nay mẹ mất , muốn chuyển tên lại cho bố (me không có di chúc), có cần anh chị em ruột trong gia đình kí tên không? Nếu có thì có 2 người ở nước ngoài định cư rồi thì có cần kê khai không ạ?

=> Vì mẹ không để lại di chúc nên tài sản này được chia theo pháp luật cho bố bạn và các con. Nếu muốn sang tên sổ hồng cho bố bạn thì người con lập văn bản từ chối nhận di sản hoặc tất cả những người thừa kế Lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Thưa luật sư, Mẹ cả của tôi muốn lập di chúc cho tôi về quyền sử dụng đất và nhà thờ tổ tiên. Nhưng do mâu thuẫn gia đình nên sổ đỏ ,CMTND và sổ hộ khẩu khẩu không lấy được thông tin. Hơn nữa Mẹ cả tôi lại không biết chữ ,vậy làm thế nào để Bà làm được di chúc hợp pháp ạ?

=> Mẹ bạn có thể làm di chúc miệng hoặc ra văn phòng công chứng nói để công chứng viên viết văn bản thừa kế là được.

Thưa luật sư, Giữa di chúc được lập bằng văn bản có công chứng và di chúc viết tay thì di chúc nào có giá trị pháp lý và có hiệu lực cao hơn?

=> Chỉ cần là di chúc hợp pháp thì có giá trị ngang nhau nhưng để tránh rủi ro thì di chúc lập bằng văn bản có công chứng sẽ đảm bảo hơn.

Thưa luật sư, Gia đình em muốn bán đất ruộng cho người mua nhưng bị rắc rối về Thừa kế: - Bà ngoại em đứng tên Sổ đỏ, bây giờ Bà qua đời, không có làm Di chúc nhưng Gia đình em đã làm "Tờ khai quan hệ thừa kế " xong rồi, có còn làm thêm gì nữa không? - Em tính là Ủy quyền cho người Cậu rồi Chuyển nhượng đất cho "Người mua" luôn có được không? Có tốn phí gì không? Hay có cách nào tối ưu nừa không?

Gia đình bạn có thể làm văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cho 1 người rồi làm nốt thủ tục sang tên cho người mua.

Thưa luật sư, Cha mẹ mất có để lại căn nhà và di chúc , nhưng người chị trong 9 anh chị em giữ giấy tờ nhà và di chúc . Không cho anh chị em trong nhà thấy gì cả, và không chịu bán nhà để chia theo di chúc lúc ba mẹ con sống có nói là đưa cho người chị giữ . Bây giờ mình muốn hỏi thủ tục như thế nào để bán nhà chia theo di chúc ạ?

Bạn có thể làm đơn gửi lên tòa án yêu cầu phân chia di sản thừa kế.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Quyền thừa kế khi là công dân nước ngoài ?

Thưa luật sư, Tôi đang ở Cộng hoà liên bang Đức và đã nhập quốc tịch Đức được từ năm 2008, nay bố mẹ tôi để lại thừa kế cho tôi một căn nhà tại Hà Nội.
Xin hỏi luật sư, tôi có được nhận thừa kế không? Có được cấp sổ đỏ không? Có được bán không ?
Cảm ơn!

Quyền thừa kế khi là công dân nước ngoài ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 3 của Luật Quốc tịch Việt Nam, nếu bạn đã nhập quốc tịch của Cộng hoà liên bang Đức thì với pháp luật Việt Nam, bạn là người nước ngoài.

Theo Điều 651 của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì người nước ngoài được thừa kế theo di chúc tài sản tại Việt Nam.

Vì vậy, theo quy định tại Khoản 5 Điều 113 của Luật Đất đai năm 2003, nếu bạn đã nhập quốc tịch của Cộng hoà Liên bang Đức thì vẫn được hưởng giá trị của tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất đó. Giá trị của quyền sử dụng đất được quy thành tiền và bạn không được nhận bằng hiện vật là quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, theo Luật quốc tịch sửa đổi năm 2008 thì trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1/7/2009 - thời điểm Luật quốc tịch có hiệu lực, nếu bạn chưa mất quốc tịch Việt Nam thì bạn có thể đăng ký với cơ quan đại diện của Việt Nam ở CHLB Đức để giữ quốc tịch Việt Nam. Khi đó, bạn sẽ có quyền hưởng thừa kế và trực tiếp đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam.

>> Click tải luật đất đai năm 2003

>> Tải bộ luật dân sự số 33/2005/QH11

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Thời gian để làm lại giấy tờ nhà là bao lâu ?

Thưa luật sư , tôi xin phép hỏi vấn đề về thừa kế như sau: Anh tôi mất khoàng 1 năm nay, anh có 1 vợ và 2 con, hiện sống ở Mỹ . Nay ba mẹ tôi muốn phải phân chia tài sản thì làm như thế nào ?

Anh tôi chỉ có 1 mình tôi là em. Nếu khi lập thừa kế thì trên giấy tờ nhà sẽ thể hiện như thế nào? Ba, mẹ tôi có thể cho phần thừa kế của anh tôi lại cho tôi không? Thủ tục ra sao ? Thời gian để làm lại giấy tờ nhà là bao lâu?

Xin luật sư tư vấn Trân trọng kính chào.Cảm ơn!

Tên khách hàng: N.T.M.T

Luật sư tư vấn:

Thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 2005 bao gồm thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.

Thừa kế thế vị chỉ được tính đến trong trường hợp thừa kế theo pháp luật: trong trường hợp người con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Quy định tại Điều 677 BLDS 2005 như trên thể hiện sự nhấn mạnh quan hệ trực hệ khi nói đến thừa kế. Do vậy, khi chia di sản thừa kế theo pháp luật ngoài những người thừa kế theo hàng thì còn người thừa kế thế vị.

Trong trường hợp của bạn, vợ và con của anh trai bạn là người thừa kế thế vị của anh trai bạn, sẽ được hưởng phần di sản mà anh trai bạn được hưởng.

Về vấn đề nhà, nếu bố mẹ bạn muốn cho bạn toàn bộ thì có thể làm hợp đồng tặng cho bạn rồi công chứng chứng thực hợp đồng và bạn làm thủ tục trước bạ sang tên mình.

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Tổng đài tư vấn luật dân sự và thừa kế 24/7 : 1900.6162

Gửi thư tư vấn pháp luật miễn phí qua Email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Quyền thừa kế tài sản phân chia như thế nào ?

Thưa Luật sư. Tôi ở Thái Bình, tôi không hiểu về luật đất đai và chia tài sản xin luật sư tư vấn giúp tôi. Bố mẹ chồng tôi có 2 người con trai: anh trai cả đã xây dựng gia đình và ông bà cho anh trai cả đất làm nhà ở gần đó; Vợ chồng tôi cưới nhau từ năm 1985 và ở với bố mẹ chồng đến bây giờ, chúng tôi có 2 con, 1 gái, 1 trai.
Từ tháng 2.2009 bố mẹ chồng tôi làm thủ tục trao tặng đất thổ cư cho vợ chồng tôi có diện tích là 198m2 bây giờ giấy quyền sử dụng đất mang tên chồng tôi và tôi, từ lúc làm thủ tục đến nay đất không có tranh chấp, trong thủ tục trao tặng không kèm điều kiện gì. Đến năm 2010 bố chồng tôi chết, bà mẹ chồng vẫn ở với tôi, lương bà được 1.500.000 lúc khoẻ bà phụ cho tôi 1 tháng 600.000đ, lâu nay bà ốm đau tôi không lấy tiền ăn của bà nữa và vẫn chăm sóc phụng dưỡng bà. Đến năm 2013 chồng tôi chết không để lại di chúc gì, bà vẫn ở với tôi, tôi vẫn chăm sóc phụng dưỡng bà và nuôi con trai đang học năm thứ 2 đại học. Nay do đất có gi, mọi người xúi dục mẹ chồng tôi nên mẹ chồng tôi đòi chia đất, lúc bà bảo để có chỗ thắp hương, lúc bà bảo để ốm đau bán đi thuốc thang. Có lần anh chồng tôi say rượu về nói với tôi là mảnh đất này phải được chia 1 phần. Ngoài phần đất thổ cư nói trên bố mẹ chồng tôi còn có 1 phần đất vườn (có giấy CNQSD đất mang tên bố chồng tôi). khi vợ chồng tôi cưới nhau và về ở chung với ông bà thì anh trai chồng tôi nói với vợ chồng tôi anh chị không về đây ở đâu, chú thím ở với ông bà, chịu khó vun vén thì đất này là của chú thím nên vợ chồng tôi đã mua đất về lấp ao vườn để có mặt bằng đẹp như hiện nay. Năm 2002 bố mẹ chồng tôi đã cho anh chồng tôi miếng đất đó để xây nhà (hiện anh chồng tôi đã xây nhà 2 tầng trên mảnh đất này) nhưng chưa làm thủ tục sang tên, tuy nhiên anh chồng tôi không nói gì về số tiền mà vợ chồng tôi bỏ ra để lấp ao vườn.

Tôi xin hỏi luật sư:

1. Bìa đỏ mang tên chồng tôi và tôi, đầy đủ thủ tục trao tặng, đất không tranh chấp vậy bà mẹ chồng tôi đòi chia đất như vậy có đúng không? Bà có quyền đòi lại đất không

2. Nếu phải chia thì chia thế nào? (Tôi có 2 con: 01 cháu gái đã xây dựng gia đình, 01 cháu trai đang học đại học năm thứ 2) con gái đi xây dựng gia đình có được chia không?

3. Thời gian bố mẹ chồng trao tặng QSDĐ cho vợ chồng tôi đã được 7 năm, vây bao nhiêu năm thì hết hiệu lực kiện và đòi lại đất?

4. Anh chồng tôi có quyền đòi đất trong phần đất đứng tên vợ chồng tôi hay không?

5. Đối với mảnh đất vườn kia vợ chồng tôi có quyền lợi gì thừa kế của bố chồng tôi không? (vì đất chưa sang tên anh chồng tôi)

Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp pháp luật dân sự: 1900.6162

Trả lời:

1. Theo quy định tại Điều 467 Bộ luật dân sự năm 2005, thì:

“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu;

2. Hợp động tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.”


Bên cạnh đó, Điều 692, Bộ luật dân sự 2005 quy định việc chuyển quyền sử dụng đất như sau:

“Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.


Như vậy, trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất phải được thực hiện thành văn bản có công chứng, chứng thực, phải đăng ký quyền sở hữu.

Trường hợp việc tặng cho đã hoàn tất, việc chuyển quyền sở hữu đã xong thì tài sản đã thuộc về người được tặng cho, người tặng cho không thể đòi lại.

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn đã đi làm sổ đỏ đối với mảnh đất mà bố mẹ chồng bạn trao tặng cho vợ chồng bạn, điều này đồng nghĩa với việc tặng cho quyền sử dụng đất của bố mẹ chồng bạn và vợ chồng bạn đã hoàn tất, do đó, vợ chồng bạn đã đăng ký giấy chứng nhận quyền sở hữu rồi nên mẹ chồng bạn sẽ không có quyền đòi lại phần mảnh đất này.

2. Về vấn đề thứ 2 bạn hỏi nếu phải chia thì chia thế nào? Thì câu hỏi này của bạn chúng tôi được hiểu là thắc mắc của bạn Về di sản thừa kế của chồng bạn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn đã mất vào năm 2013. Tài sản chung của vợ chồng bạn là một miếng đất thổ cư có diện tích là 198m2 được bố mẹ chồng tặng cho đã hoàn tất thủ tục và có giấy chứng nhận quyền sở hữu. Khi đó, 1/2 mảnh đất vườn sẽ được coi là di sản thừa kế do chồng bạn để lại.

Vì chồng bạn khi chết không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 BLDS được quy định theo thứ tự sau đây:

"a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản".

Đối chiếu với quy định nêu trên và với thông tin bạn cung cấp thì tại thời điểm mở thừa kế, hàng thừa kế thứ nhất của chồng bạn bao gồm: người mẹ, bạn và 2 người con. Di sản thừa kế của chồng bạn sẽ được chia đều cho người mẹ, bạn và 2 người con của bạn.

3. Về thời hiệu khởi kiện:

Căn cứ Điều 159 Bộ luật dân sự 2005, quy định: Bắt đầu thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự:

Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 3 điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì được hiểu như sau:

- Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tức là không bị hạn chế thời hạn khởi kiện.

- Đối với các tranh chấp khác (không thuộc loại tranh chấp nêu trên) thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người kiện đòi tài sản phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đòi tài sản của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Như vậy, thì trường hợp của bạn thuộc trường không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tức là không bị hạn chế thời gian khởi kiện.

Việc bạn có phải chia thửa đất hay không phụ thuộc vào những căn cứ mà nguyên đơn đưa ra có đủ cơ sở chứng minh họ là chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp tài sản mà họ đang kiện đòi hay không và yêu cầu kiện đòi của họ có phù hợp với quy định của pháp luật về kiện đòi tài sản hay không. Nếu các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình không đủ giá trị chứng minh thì yêu cầu của họ cũng không được tòa án chấp nhận.

4/ Anh chồng chị không có quyền đòi phần mảnh đất đứng tên vợ chồng bạn, vì trong trường hợp này phần mảnh đất đó như đã phân tích ở mục 1 là việc trao tặng cho mảnh đất giữa bố mẹ chồng bạn và vợ chồng bạn đã hoàn tất, việc chuyển quyền sở hữu đã xong thì tài sản đã thuộc về người được tặng cho, thì anh chồng bạn không có quyền đòi phần mảnh đất này.

5/ Đối với mảnh đất của bố chồng bạn chết không để lại di chúc và cũng chưa sang tên ai, thì:

Căn cứ Điều 636 BLDS quy định: Kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là thời điểm bố chồng bạn chết), những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.Tuy nhiên, sau khi bố chồng bạn mất thì một thời gian sau chồng bạn cũng mất. Như vậy, tại thời điểm mở thừa kế thì chồng bạn vẫn còn sống và có quyền hưởng di sản thừa kế do người cha để lại. Nhưng khi chồng bạn còn còn sống, các thừa kế vẫn chưa tiến hành khai nhận di sản thừa kế của người cha, và nay chồng bạn đã chết thì phần di sản mà chồng bạn được hưởng sẽ được chia đều cho các thừa kế của chồng bạn. Các thừa kế có thể được xác định theo di chúc (nếu chồng bạn chết để lại di chúc). Nhưng do chồng bạn chết không để lại di chúc thì những người thừa kế thuộc hàng thừ kế thứ nhất theo pháp luật tại Điều 676 Bộ luật dân sự như nêu ở trên mục 2 sẽ được hưởng là bạn và 2 người con của bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Quyền thừa kế tài sản đối với đối tượng là Việt kiều ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Gia đình tôi có người Việt kiều hiện đang ở nước ngoài, nếu như ba hoặc mẹ để lại cho 1 phần tài sản cho người đó thì liệu người đó có được thừa hưởng và đứng tên sở hữu được tài sản đó không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 631, Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Quyền thừa kế của cá nhân

"Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Theo Điều 632, Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

"Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Theo Điều 186, Luật Đất đai 2013 quy định: Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

"1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

b) Chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để ở; tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Luật này. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;

c) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;

d) Cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng.

3. Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây:

a) Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

b) Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;

c) Trong trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.

4. Trường hợp trong số những người nhận thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam còn những người khác thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất cho từng người nhận thừa kế thì những người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào sổ địa chính.

Sau khi giải quyết xong việc phân chia thừa kế thì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì phần thừa kế được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này.

5. Người nhận thừa kế trong các trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 và khoản 4 Điều này được ủy quyền bằng văn bản cho người trông nom hoặc tạm sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan."

Theo Điều 8, Luật Nhà ở 2014 quy định: Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở.

"1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này.

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

a) Đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước thì thông qua hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;

c) Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì thông qua các hình thức quy định tại khoản 2 Điều 159 của Luật này."

Theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền hưởng thừa kế như các cá nhân trong nước theo quy định tại Điều 631 và 632 Bộ luật Dân sự 2005. Vì vậy, người việt kiều trong gia đình bạn được thừa hưởng và quyền đứng tên trên tài sản mà bố mẹ bạn để lại.Nhưng đối với thừa kế quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở pháp luật có quy định đặc biệt. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì người đó có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài đó được phép nhập cảnh vào Việt Nam theo Khoản 1, Điều 8, Luật Nhà ở 2014 và theo Khoản 1, Điều 186, Luật Đất đai 2013. Khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Nhưng nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở theo Điểm b, Khoản 2, Điều 186, Luật Đất đai 2013.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?