ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------

Số: 102/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 4 năm 1983

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH BẢN QUY TẮC VỆ SINH THÀNH PHỐ

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồngNhân dân và Uỷ ban hành chánh các cấp ban hành ngày 27-10-1962;
- Để giữ gìn vệ sinh, đảm bảo sức khoẻ của nhân dân, xây dựng cuộc sống mới ởthành phố ;
- Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế thành phố và được sự nhất trí của các Banchuyên môn của Hội đồng Nhân dân thành phố ;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.Nay ban hành bản quy tắc vệ sinh thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 2.Giám đốc Sở Y tế có trách nhiệm hướng dẫn theo dõi việc tổchức thực hiện bản quy tắc này.

Quyết định này có hiệu lực từngày ký. Các văn bản trước đây trái với quy định này đều bãi bỏ.

Điều 3.Các đồng chí Chánh văn phòng Uỷ ban Nhân dân thành phố,Giám đốc Sở Y tế và Thủ trưởng các ngành, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân quận huyệncó trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC




Lê Đình Nhơn

QUY TẮC

VỆ SINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH(Ban hành kèm theo Quyết định số : 102/QĐ-UB ngày 14 tháng 4 năm 1983 củaUBND Thành phố Hồ Chí Minh).

Công tác bảo vệ sức khỏe nhândân là một trong những công tác hàng đầu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sứcquan tâm.

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa đã quy định rõ quyền công dân được bảo vệ sức khỏe ( điều 61), Nhà nướcchăm lo bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho nhân dân (điều 47), các cơ quan Nhànước, xí nghiệp, Hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều cónghĩa vụ bảo vệ cải thiện môi trường sống (điều 36) và chăm lo cải thiện môitrường làm việc và đời sống cho công nhân viên chức (điều 22).

Từ sau ngày giải phóng, để bảo vệsức khỏe cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chánh phủ, Chánhquyền cách mạng thành phố đã tiến hành nhiều cuộc vận đông, xây dựng và phát độngnhiều phong trào trật tự vệ sinh, nếp sống văn hóa mới, bảo vệ tốt môi trườngv.v… được nhân dân thành phố hưởng ứng và thực hiện có kết quả.

Phát huy kết quả đạt được, phấnđấu xây dựng Thành phố xứng đáng được mang tên Bác Hồ vĩ đại, xứng đáng là 1 trungtâm công nghiệp, trung tâm văn hóa, trung tâm giao dịch quốc tế của cả nước, Uỷban Nhân dân thành phố mong rằng toàn thể đồng bào thành phố hưởng ứng và thựchiện bản quy tắc vệ sinh này.

Chương I

VỆ SINH CÔNG CỘNG

Điều 1.

- Trong việc chuyên chở đất,cát, than, rác, vật liệu hoá chất, và tất cả các chất có thể gây dơ bẩn hoặc mấtvẻ đẹp của thành phố đều không được để rơi vải ra đường đi, lề đường. Cấm đitiêu, đi tiểu, cấm xả rác, đổ rác (kể cả gạch ngói vụn, xúc vật chết, các chấtô uế khác) ra đường đi, hè phố, cống rãnh, sông rạch, bờ sông, ao hồ và nhữngnơi công cộng. Chỉ được đổ rác ở các thùng bô rác công cộng và các nơi đã quy địnhhay trực tiếp lên xe rác. Các nhà tư, nhà ở tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nhàmáy, trường học, bệnh viện… phải bảo đảm luôn luôn quét dọn sạch sẽ từ trongnhà cho đến lề đường ; rác phải được tâp trung vào nơi quy định nhất là khôngđược lùa rác xuống lòng đường, miệng cống hay khu vực thuộc nhà bên cạnh. Ở cácđường phố nhỏ không có công nhân vệ sinh quét dọn, mỗi gia đình phải quét sạchrác tới giữa lòng đường.

Những người đổ rác mướn, các tổlấy rác dân lập… trong hẻm phải đăng ký và đổ rác đúng nơi quy định của Công tyvệ sinh. Ở những nơi đông người như chợ, bến xe… Công ty Vệ sinh phải thiết lậpnhững bô hay xuồng rác công cộng, và hàng ngày rác phải được thu dọn và hốt hếtđem đi. Cấm đưa rác phân ra khỏi nơi quy định.

Điều 2.Cấm không được đắp ụ từ lòng đường lên lề đường để choxe vào và không được để bất cứ vật gì choáng chỗ trên lề đường.

- Cấm không được tự ý đào lòng lềđường. Trong trường hợp được phép của Sở Quản lý nhà đất và công trình công cộngvà Sở Giao thông vận tải thì phải đào nhanh gọn không quá thời gian quy định,xong đến đâu phải lắp ngay đến đó để khỏi làm cản trở giao thông và làm dơ mặtđường. Khi xong phải quét dọn sạch sẽ, không được để đất cát, gạch đá vương vãilàm tắc nghẽn cống rãnh, phải tái tạo mặt đường như cũ. Ngoài ra, trong thờigian thực hiện công tác này phải có bảng báo hiệu và ban đêm phải có đèn báo hiệuđể tránh tai nạn. Ai vi phạm ngoài các biện pháp xử phạt còn phải chịu mọi phítổn nếu thành phố phải sửa chữa lại hay bồi thường cho người bị tai nạn.

- Cấm trú ngụ (ăn, ở, ngủ) ở cácnơi công cộng, hè phố, công viên.

- Việc sử dụng lòng lề đường dướimọi hình thức phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.

Điều 3.

- Những nơi công cộng hoặc tậptrung đông người (thường xuyên hay đột xuất, như bến tàu, bến xe, chợ, cửa hàngăn uống, rạp hát, rạp chiếu bóng, công viên, cơ quan, xí nghiệp, trường học,khu nhà tập thể v.v… phải có đầy đủ cầu tiêu, tiểu hợp vệ sinh (số lượng theotiêu chuẩn quy định) có cống rãnh kín thoát nước dơ, có đủ thùng rác hợp vệsinh và đản bảo thường xuyên sạch sẽ.

- Các tiện nghi vệ sinh ở nhữngnơi công cộng không thuộc trách nhiệm của 1 cơ quan nào, thì do Sở Quản lý nhàđất và công trình công cộng xây dựng, phân cấp quản lý, đảm bảo duy trì sạch sẽvệ sinh.

Điều 4.

- Việc rút hầm cầu trong thànhphố do Công ty Vệ sinh quản lý. Phân rút từ hầm cầu phải được xử lý hoặc đổđúng nơi quy định hợp vệ sinh. Khi chuyên chở, các phương tiện chứa phân người,phân chuồng phải có nắp đậy kín và không được để rơi vãi ra đường hay ray mùihôi thối. Các nhà máy phân hữu cơ phải theo đúng quy trình để thành phẩm được đảmbảo tiêu chuẩn vệ sinh.

- Cấm không được ủ phân rác,phân chuồng trong nội thành. Chỉ được ủ phân rác, phân chuồng ở vùng ven hayngoại thành và nơi chứa phải xa đường lộ, xa giếng nước, nhà dân và đảm bảo vệsinh không dòi bọ, ruồi nhặng.

- Cấm mua bán phân tươi và dùngphân tươi để bón rau hay nuôi cá. Chỉ được bón rau bằng phân đã được ủ đúng quycách.

Điều 5.

- Cấm không đựơc chăn dắt, thảrong, để thú nuôi phóng uế trên đường phố, công viên, ven sông, những nơi côngcộng, nếu lở để chúng phóng uế ra đường phải hốt dọn ngay. Những đàn thú dichuyển qua đường phố phải đi ban đêm có thông hành kiểm dịch của Thú Y thành phốtheo những lộ trình do ngành Công an quy định.

Việc nuôi heo trong nội thành đượctạm thời cho phép, nhưng chỉ được nuôi ở tầng dưới đất và phải giữ gìn sạch sẽchuồng trại không gây mùi khó chịu cho các hộ xung quanh. Phân heo không được xảxuống cống rãnh thành phố và phải được hốt đem đi trong những thùng có nắm đậy.Khi cần Uỷ ban Nhân dân thành phố có thể ban hành quyết định chấm dứt viêc nuôiheo nói trên.

Điều 6.

- Nước do nhà máy nước cung cấpphải đảm bảo đúng tiêu chuẩn của Nhà nước về chất lượng uống và sinh hoạt. TrạmVệ sinh Phòng dịch thành phố có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên vệ sinh nhàmáy, tiêu chuẩn về chất lượng nước uống do nhà máy cung cấp.

- Nhà máy nước thành phố phải đượcgiữ gìn sạch sẽ, có chu vi bảo vệ. Cấm chăn nuôi gia súc, gia cầm, cày cấy, trồngtrọt, tắm rửa, giặt giũ, làm nhà hoặc vứt bỏ những vật dơ bẩn trong chu vi bảovệ khu vực sản xuất nước.

- Không được tắm giặt, cọ rửa đồdùng, cho súc vật uống nước, vất bỏ vật dơ bẩn tại các vòi nước công cộng, giếngnước ăn và các hồ ao công cộng trong thành phố.

Điều 7.

- Các phương tiện chuyên chởhành khách phải thường xuyên giữ gìn vệ sinh sạch sẽ. Xe lửa, tày thuỷ… phải cóđủ tiện nghi vệ sinh như: nước rửa, cầu tiêu, tiểu… hợp vệ sinh và hướng dẫnhành khách bảo quản tốt. Những phương tiện vận chuyển chở thực phẩm, xe chở xúcvật vào thành phố còn sống hay dưới dạng sơ chế phải được kiểm tra định kỳ hoặcchuyên chở các loại thịt tươi cùng huyết và phủ tạng phải được kiểm tra thườngxuyên bởi ngành Y tế và Thú y theo các quy định riêng liên quan về vấn đề này.

Tàu thuyền khi đi lại trên sôngrạch hoặc cập bến Cảng không được đổ dầu, mỡ và các chất thải (phân rác và cácchất dơ bẩn khác…) xuống nước. Khi cập bến, tàu thuyền phải có vật che chắn chuột.

Điều 8.

- Để tránh gây ô nhiễm không khívà gây tiếng ồn, cấm lưu thông trong nội thành tất cả các loại xe có động cơgây tiếng ồn, thải khói bụi, hơi khí độc, trừ khi đã được trang bị các bộ phậngiảm tiếng ồn, lọc khói bụi.

Cá nhân, tập thể trong các tưgia hay cơ quan trong thành phố không được gây tiếng ồn ào, xả khói bụi hơi độcgây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khoẻ cho các hộ lân cận, theo quy địnhcủa Thông tư 29-BYT ngày 21-20-1971 của Bộ Y tế.

Điều 9.-Khi sử dụng các loại hoá chất trừ sâu, diệt côn trùng, diệtchuột, diệt cỏ và phân bón hoá học phải theo đúng quy hoạch của Nhà nước trongQuyết định số 89/QĐ-LĐ 01-8-1972 của Liên Bộ Y tế, Lao động, Công an và các vănbản tiếp sau, để tránh gây độc hại, ảnh hưởng sức khoẻ nhân dân, hư hại đồng ruộnghoa màu ; nguồn nước uống, thuỷ sản, gia súc, gia cầm v.v…

Chương II

VỆ SINH NHÀ CỬA – XÂY DỰNGVÀ SỬA CHỮA

Điều 10.-Nhà ở, nhà ăn, làm việc hoặc sản xuất, chế biến, khách sạn,nhà trọ, cửa hàng ăn uống, quán giải khát, trường học, nhà trẻ… phải sạch sẽngăn nắp.

- Ở nội thành và các thị trấn mỗigia đình phải có thùng rác có nắp đậy. Cấm không được đổ bừa bãi ở hè phố, mặtđường, đầu hẻm, gốc cây, mưong cống rãnh, sông rạch, cạnh nhà người khác. Các hộsâu trong hẻm phải tổ chức tổ lấy rác dân lập.

- Các cơ quan xí nghiệp có nhiềurác phải có các thùng rác hợp vệ sinh và đem đổ ở những nơi quy định hoặc ký hợpđồng với Công ty vệ sinh để chuyển rác.

- Cấm để hoặc đổ nước dơ bẩn trongnhà chảy ra hè phố, sang nhà người khác. Cống rãnh phải đảm bảo thông thoát,kín không để ứ đọng xông mùi hôi thối.

- Cấm lưu trữ nhiên liệu, chấtcháy nổ, hoá chất độc ở những nơi không đủ quy cách an toàn.

Điều 11.-Mỗi nhà hoặc khu tập thể ở nội thành, thị trấn phải có đủcầu tiêu hợp vệ sinh như cầu tiêu tự hoại. Nếu là cầu tiêu công cộng phải thườngxuyên có người trông nom, quét dọn sạch sẽ bảo đảm đúng nội quy sử dụng.

- Mỗi nhà ở nội thành phải có 1cầu tiêu hợp vệ sinh, nếu có nhu cầu về phân bón nên sử dụng cầu tiêu 2 ngăn ủphân tại chỗ, bảo quản đúng nội quy sử dụng.

- Cấm không được làm cầu tiêu lộthiên hoặc cầu tiêu trên mương, trên cống rãnh, sông rạch, không được làm cầutiêu sát bên đường cái hoặc ở trước cửa nhà người khác.

- Đối với những cầu tiêu trênsông rạch hiện có, Uỷ ban Nhân dân các cấp phải sớm nghiên cứu giải toả.

- Không được cất nhà lấn chiếmlòng lề đường. Cấm không được xây cất nhà trên sông rạch, trên đập, trên cống.

Điều 12.- Mọi xây dựng và sửa chữa đều phải được phép củacơ quan có thẩm quyền. Các công trình xây dựng mới hoặc sửa chữa lớn (cơ sở sảnxuất công nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bệnh viện, các công trình phúc lợi,các khu nhà tập thể v.v…) phải bảo đảm, chắc chắn, cao ráo, thông thoáng và đủtiện nghi như cống ngầm, cầu tiêu tự hoại, nhà tắm, nhà bếp, hệ thống cung cấpnước uống và sinh hoạt trong lành.

Trước khi xây dựng phải được Uỷban Xây dựng cơ bản thành phố cho phép, sau khi tham khảo ý kiến của Sở Y tế(Trạm Vệ sinh Phòng dịch). Sở Quản lý Nhà đất và Công trình công cộng, Uỷ banXây dựng cơ bản thành phố, Hội đồng Bảo vệ môi sinh và các ban ngành khác cóliên hệ về việc điều tra tiện hay bất tiện và điều kiện vệ sinh cơ sở. Nếu xâydựng, sửa chữa không đúng quy cách sẽ bị bắt phá vỡ, sửa chữa lại hoặc xây dựngbổ sung. Trong thời gian đang thi công, không được gây dơ bẩn bùn đất mất vệsinh trên các đoạn đường, trên phạm vi công trường. Phải thu quét dọn thườngxuyên đảm bảo sạch sẽ.

Chương III

VỆ SINH HỒ BƠI - RẠP HÁT- RẠP BÓNG – KHÁCH SẠN VÀ NHÀ TRỌ

Điều 13.:- Các hồ bơi để phục vụ cho nhân dân hoặc trong phạm vicơ quan xí nghiệp cần đảm bảo vệ sinh và an toàn về khối lượng nước cần thiết,về số lượng các công trình vệ sinh (phòng thay áo quần, cầu tiêu, cầu tiểu, nhàtắm, bồn rửa chân), về số lượng cấp cứu viên luôn luôn túc trực 2 – 4 người (1hồ bơi) và đạt tiêu chuẩn Clo dư trong nước từ 0,1 đến 0.6 mg/lít. Hồ phải cónước được luân lưu hay thay nước định kỳ 1 đến 2 lần một tuần tuỳ theo số lượngxuất bơi và người tắm.

Việc cấp giấy phép xây cất và hoạtđộng do Sở Thể dục Thể thao thành phố phụ trách sau khi hỏi ý kiến của Sở Y tế(Trạm Vệ sinh phòng dịch) và cơ quan liên hệ.

Sau 3 lần kiểm tra hồ bơi liên tụcnếu thấy tình trạng vệ sinh quá kém hoặc khi có dịch, đoàn kiểm tra vệ sinh củaTrạm hay Đội Vệ sinh Phòng dịch có thể yêu cầu Sở Thể dục Thể thao đóng cửa hồbơi vĩnh viễn hoặc có thời hạn. Việc cho phép tái hợp động chỉ được thực hiệnsau khi có ý kiến của Trạm Vệ sinh Phòng dịch.

Những người mức bệnh ngoài da,đau sưng mắt, sổ mũi, thối tai hay bất cứ bệnh truyền nhiễm nào đều không đượcsử dụng hồ bơi.

Điều 14:-Các rạp hát, rạp chiếu bóng phải đảm bảo đúng quy định vềthiết kế xây dựng an toàn và vệ sinh, trong đó số lượng máy điều hoà không khí,quạt trần, hệ thống thoáng khí, thông hơi, cửa cấp cứu, số ghế, số lượng về cáccầu tiêu cầu tiểu phải đáp ứng yêu cầu thoải mái an toàn cho khán giả.

Việc xây dựng và cấp giấy phéphoạt động do Sở Văn hoá Thông tin phụ trách sau khi hỏi ý kiến của Sở Y tế (Trạmvệ sinh phòng dịch) và các cơ quan liên hệ.

Trạm hay các đội vệ sinh Phòng dịchkhi cần có thể kiểm tra vệ sinh và Ban Quản lý rạp hát, rạp chiếu bóng phải thựchiện các yêu cầu cần theo quy định.

Điều 15:Khách sạn và Nhà trọ phải được xây dựng, thiết kế antoàn và trang trí các vật dụng như quạt trần, máy điều hoà, không khí, bàn ghế,giường nệm, chiếu, vải trải giường, chăn, mùng, gối, rèm cửa, ấm chén. Dĩa, gạttàn thuốc, thùng rác có nắp đậy… và có chế độ lau rửa các vật dụng này theođúng điều lệ vệ sinh, phục vụ ăn uống công cộng khách sạn nhà trọ của Liên Bộ Nộithương, Y tế ban hành theo quyết định số 80/NT – LB ngày 9 – 12 – 1980.

Trạm vệ sinh Phòng dịch thành phốcó trách nhiệm kiểm tra thường kỳ theo điều lệ nói trên.

Chương IV

VỆ SINH TRƯỜNG HỌC VÀNHÀ NUÔI DẠY TRẺ

Điều 16:-Các trường học phải thực hiện đúng những điều khoản quyđịnh của ngành Y tế và Giáo dục về vệ sinh học đường như:

- Toạ lạc xa nơi có chất đọc, chấthôi thối, khói bụi và tiếng ồn.

- Có đủ nước rửa, nước uống có côngtrình vệ sinh riêng biệt cho nam nữ.

- Các lớp học, phòng giữ trẻ phảithoáng có đủ ánh sáng và diện tích thích hợp, bàn ghế phải đúng quy cách, khănlâu phải ẩm để tránh bụi phấn.

- Trường sở, lớp học, kể cả nhàvệ sinh phải luôn luôn sạch sẽ.

Điều 17:-Các giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, học sinh và các cháu giữnhà trẻ phải được khám sức khoẻ mỗi năm một lần. Đối với những học sinh mặt kémhoặc có một số tật bệnh khác phải được sếp chỗ ngồi cho hợp lý. Việc kiểm tra sứckhoẻ nói trên được phòng khám khu vực địa phương hay Y tế cơ sở thực hiện.

Điều 18:-Giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, học sinh và các cháu giữ nhàtrẻ phải được tiêm chủng ngừa theo lịch trình của ngành Y tế. Giáo viên, cônuôi dạy trẻ, học sinh và các cháu giử nhà trẻ đang mắc bệnh truyền nhiễm khôngđược lên lớp hay đến nhà giữ trẻ. Ngoài ra tất cả phải thực hiện gương mẫu vệsinh ở lớp học cũng như ở gia đình hay phường, xã.

Mỗi học sinh từ mẫu giáo trở lên(kể cả trường chuyên nghiệp, trung và đại học) đều phải có sổ theo giỏi sức khoẻ(y bạ) liên tục. Mỗi khi có học sinh mới đến (bắt đầu vào học, chuyển trường,chuyển lớp, chuyển cấp) nơi tiếp nhận phải có trách nhiệm quản lý kế tiếp sổ sứckhoẻ, kiểm tra việc tiêu chủng, bệnh truyền nhiễm và các yếu tố khác. Sổ này bắtđầu làm từ nhà hộ sinh hoặc mẫu giáo vì phải kế tiếp liên tục.

Điều 19:-Nhà trường phải sắp xếp cho học sinh học tập, lao động,vừa sức khoẻ và rèn luyện thể dục thể thao vui chơi giải trí. Dụng cụ lao độngvà tập luyện phải phù hợp với từng lứa tuổi. Nữ sinh khi có kinh nguyệt được miễnlao động hoặc luyện tập nặng.

Điều 20:-Đối với trường học, nhà nuôi trẻ mới xây dựng hoặc cáctrường cũ có điều kiện sửa chữa phải thực hiện đúng theo những điều khoản ghitrong Thông tư quy định công tác vệ sinh học đường số 32-TT/LB của Liên Bộ Giáodục – Y tế ngày 20 – 07 – 1962 về vệ sinh trường sở (vị trí lớp học, bàn ghế, bảng,nước uống, cầu tiêu cầu tiểu .v.v…) và công tác phòng bệnh. Trẻ em phải đượctiêm chủng theo quy định của ngành Y tế.

Chương V

VỆ SINH THỰC PHẨM – ĂN UỐNG– HÀNG RONG

Điều 21:

- Các cơ sở sản xuất, chế biếnphân phối, bảo quản lương thực, thực phẩm cửa hàng ăn uống, giải khát, nhà ăn tậpthể… phải sạch sẽ gọn gàng, có hệ thống thoát nước, xa nơi ô uế, khói bụi hơi độc.Khăn sản xuất, nhà bếp, phòng ăn phải tổ chức chế biến theo hệ thống một chiềudựa theo nguyên tắc từ sống đến chín, sạch bẩn riêng biệt, từ nguyên liệu đếnthành phẩm. Máy móc, dụng cụ sản xuất chế biến, phương tiện, bao bì, bảo quảnchuyên chở phải đảm bảo vệ sinh và có lịch in sửa thường kỳ.

Những nguyên liệu nước dùng sảnxuất chế biến thức ăn, nước uống, nước đá, kem, phải đảm bảo vệ sinh, chất lượngtốt. Nghiêm cấm bán ra thị trường các loại thực phẩm quá hạn sử dụng bị ươn ôihay thiu thối…

Để pha chế nước giải khát, phảidung nước đã đun sôi để nguội. Thức ăn bày bán phải được che đậy bảo quản cẩnthận.

Điều 22:-Nhân viên cấp dưỡng hay phục vụ phải ăn mặc sạch sẽ, gọngàng, có quần áo bảo hộ lao động, có ý thức tốt về vệ sinh thực phẩm ăn uống.

Khi nấu và dọn ăn không được hútthuốc, ăn trầu, đùa giỡn, bốc tay các thức ăn chín.

Những người đang mắc bệnh truyềnnhiễm, bệnh ngoài da, bệnh hoa liễu không được phục vụ trong ngành thực phẩm ănuống. Hàng năm toàn thể nhân viên phục vụ phải được kiểm tra sức khoẻ.

Trạm vệ sinh Phòng dịch thành phốhoặc Đội Vệ sinh Phòng dịch quận huyện tuỳ theo phân cấp có trách nhiệm kiểmtra vệ sinh, khuyến cáo, cải thiện các cơ sở nói ở điều trên để đạt yêu cầu đềra trong điều lệ vệ sinh phục vụ ăn uống công cộng, khách sạn, nhà trọ, banhành kèm theo Quyết định số 80/NT -LB ngày 09-12-1980 cùng Liên Bộ Nội Thương, Ytế. Các khuyến cáo cải thiện vệ sinh phải được các cơ sở này chấp hành.

Điều 23:-Các gánh, xe, quầy hàng rong phải tuân theo một số quy địnhvệ sinh cụ thể như sau:

- Dùng giấy, lá, túi nylon… sạchđể gói, đựng thức ăn, nước uống, chén dĩa, muỗng, đũa… phải rửa, lau sạch, khôráo.

- Thức ăn, nước uống phải đượcche đậy cẩn thận bằng lòng bàn, vải thưa.

- Chỉ bán những thức ăn đã nấuchin, tinh khiết, không bị thiu, có mùi.

- Nước rửa ly, tách, chén bát…phải thay đổi luôn và giữ sạch sẽ.

- Không được bỏ giấy, rác, lá, đểnước bẩn, thức ăn ra đường phố, vĩa hè cống rãnh.

Điều 24:-Đối với việc hạ sát hay làm thịt súc vật:

a) Trong nội thành việc hạ sáthay làm thịt con vật phải thực hiện tại lò sát sinh của thành phố. Những thịtngoài lò, nghĩa là những thịt tươi của súc vật bị hạ sát khẩn cấp ngoài lò sátsinh của thành phố cùng những thịt thú, thịt nuôi muốn được đem ra bán phải đêmtrình khám xét đóng dấu Thú y. Cho phép tạm thời việc hạ sát súc vật của các hợptác xã nhưng cơ sở hạ thịt phải đảm bảo vệ sinh và súc vật cũng như thịt phảiđược khám xét và đóng dấu bởi cơ quan Thú Y sở tại.

b) Tại lò sát sinh, những sút vậtsẽ do cơ quan Thú Y khám xét nội trong ngày đưa tới con nào lành mạnh, thịt tốtsẽ được đóng dấu. Không thâu nhận những con vật mắc bệnh hay bị nghi mắc bệnhtruyền nhiễm. Nếu trong thời gian nuôi tại chuồng trại của lò sát sinh con vậtmắc bệnh thì phải để riêng ra rồi hạ sát khẩn cấp và thịt của nó phải được khámxét kỹ càng. Việc hạ sát những súc vật đã được thu nhận chỉ được phép thi hànhsau một thời gian nghĩ ngơi ít nhất là 24 giờ và nhiều nhất là 40 giờ trong nhữngchuồng bò hay chuồng heo lò sát sinh, trừ trường hợp đặc biệt, các chuồng và trạiphải được giữ gìn sạch sẽ, súc vật nhốt bên trong phải được tắm rửa sạch sẽ.

c) Lò sát sinh phải được trang bịđầy đủ những máy móc và dụng cụ cần thiết. Việc hạ sát và mổ bụng lấy lòng súcvật hoàn toàn do các nhân viên của lò sát sinh đảm nhận, các nhân viên này phảiđược khám sức khoẻ hàng năm và không có bệnh ngoài da hay truyền nhiễm.

Huyết phải đựng trong những chậubằng nhôm sạch sẽ có nắp đậy, Việc phân thay và việc mổ bụng phải thực hiệnliên tục và đảm bảo chặt chẽ về mặt vệ sinh, không để thịt chấm đất. Việc làmlòng phải thực hiện tại nơi khác với phòng hạ sát để khỏi làm nhiễu phân ngaytrong phòng hạ sát. Sau khi làm thịt xong phải dọn dẹp và chùi rửa kỹ lưỡng nơilàm việc.

d) Không một miếng thịt hoặc bộphận hay một phần của bộ phận nào của những con vật được làm thịt được đưa rakhỏi lò sát sinh nếu chưa được cơ quan Thú Y khám xét và đóng dấu.

- Thịt được nhìn nhận là tốtlành sẽ được đóng dấu và đem ra thị trường.

- Thịt và bộ lòng xét ra làkhông tốt không thể dùng làm thực phẩm sẽ được chế biến phân bón, hoặc chôn cấtvới sự kiểm soát của nhân viên Thú Y.

- Thịt dự trữ phải đảm bảo độ lạnhcần thiết và việc chuyên chở phải thực hiện bằng những xe chuyên biệt đảm bảo vệsinh.

- Thịt bán ở các thớt thịt vàcác hợp tác xã phải được kiểm tra thường kỳ và đột xuất bởi nhân viên Thú Y.

e) Thịt được xem là xấu không thểdung làm thực phẩm, muốn tịch thu phải được cơ quan Thú Y khám xét và xác nhận,trường hợp số lượng thịt nhiều nếu có sự khiếu nại về sự tịch thu, quyết địnhthịt có thể hay không có thể đưa ra tiêu thụ được sẽ do hội đồng này do TrưởngTrạm Thú Y chọn lựa.

g) Các bệnh của súc vật mức phảikhiến thịt không thể dùng làm thực phẩm sẽ được thoả thuận và ấn định giữa 2ngành Y tế và Thú y.

Chương VI

VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ BẢOVỆ MÔI TRƯỜNG SỐNG

I. - VỆ SINHLAO ĐỘNG – Y TẾ LAO ĐỘNG

Điều 25:-Thủ tướng đơn vị (ở nơi quy mô, mọi hình thức sở hữu vàmọi tính chất hoạt động) là người chịu trách nhiệm thực hiện mọi mặt công tác bảohộ lao động (bao gồm vệ sinh lao động, y tế lao động, an toàn lao động, phòng độcvà phòng chống cháy nổ) trong phạm vi mình phụ trách. Đồng thời thực hiện đúngcác quy định thông tư chỉ thị của Trung ương và thành phố liên quan tới côngtác bảo vệ lao động như thanh tra kiểm tra của các cơ quan chức năng và bảnthân nhà máy.

Thủ trưởng phải chịu trách nhiệmchăm lo sức khoẻ của cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị mình, phải kiệntoàn tổ chức y tế và vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp và tai nạnlao động cũng như mọi yêu cầu khác về bảo vệ sức khoẻ cho người lao động.

Điều 26:-Nơi làm việc của mọi người lao động (chân tay và trí óc)kể cả các tổ hợp sản xuất, hợp tác xã và tư nhân phải đảm bảo các điều kiện laođộng về:

- Khí hậu nơi sản xuất.

- Tiếng ồn và độ rung.

- Ánh sáng

- Bụi

- Nồng độ các hoá chất.

- Phóng xạ, tia X, bức xạ.

Theo tiêu chuẩn Nhà nước banhành trong Thông tư số 29/BYT ngày 21-10-1971.

Nếu nơi sản xuất không đảm bảotheo tiêu chuẩn thì đơn vị phải dành một số tiền để tăng cường các thiết bị antoàn và vệ sinh theo Thông tư 11/TT .LB ngày 15-01-1963 của Liên Bộ lao động Tàichính. Ngoài ra phải bổ sung 20% quỹ phúc lợi xí nghiệp vào kinh phí chi chocông tác này khi cần thiết.

Nếu đã hết sức cải tạo môi trườngmà vẫn còn chưa đạt tiêu chuẩn thì phải thực hiện đầy đủ các biện pháp cá nhânlàm giảm tác hại tối đa cho người lao động, đồng thời thực hiện đầy đủ và đứngđắn các chế độ bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng độc hại và các quy định về y tế vàlao động theo luật lệ hiện hành.

Ngoài các trang thiết bị về vệsinh và an toàn lao động đơn vị phải đảm bảo về số lượng, chất lượng và quycách quản lý các cơ sở phúc lợi như nhà bếp, nhà ăn, câu lạc bộ v.v… và cáccông trình phục vụ vệ sinh cá nhân như hố xí, hố tiểu, nhà vệ sinh kinh nguyệt,nhà tắm hơi rửa tay theo đúng quy định.

Điều 27:-Khi xảy ra tai nạn lao động phải cứu chữa kịp thời ngườibị nạn và thực hiện đúng quy định theo Quyết định 45/LB-QB ngày 20-03-1982 củaBộ lao động, Bộ Y tế và Tổng công đoàn Việt Nam. Riêng về báo cáo, Thủ Trưởngcó trách nhiệm báo cáo tất cả các tai nạn lao động Sở Lao động, Sở Y tế và Liênhiệp Công đoàn thành phố tuỳ theo tính chất, mức độ của TNLĐ các cơ quan này sẽquy định thời gian báo cáo.

Điều 28:-Phải sắp xếp bố trí nữ công viên chức nhà nước, nữ xãviên hợp tác xã hoặc tổ sản xuất và công nhân nữ ở các cơ sở sản xuất của tưnhân làm những công việc hợp với sức khoẻ và sinh lý của phụ nữ theo Thông tư 05/TT-LB ngày 01-06-1968 của Liên Bộ Lao động Y tế.

Không được phân công phụ nữ cóthai và thiếu niên dưới 16 tuổi làm việc ở những nơi có nhiều chất độc hại hoặclàm những việc quá nặng nhọc. Ở những cơ quan xí nghiệp… có nhiều phụ nữ làm việcphải có các phương tiện vệ sinh riêng cho phụ nữ theo quy định.

II.- BẢO VỆMÔI TRƯỜNG SỐNG:

Tất cả các đơn vị sản xuất bất kỳở quy mô và hình thức sở hữu nào khi xây dựng mở rộng sửa chữa hoặc bắt đầutrang bị một cơ sở có sẵn để sản xuất đều phải có giấy về mặt Y tế vệ sinh và Bảovệ môi sinh của cơ quan Y tế theo sự phân cấp của Sở Y tế và Hội đồng bảo vệ Môisinh thành phố.

Điều 30:-Tất cả các đơn vị (ở mọi qui mô, mọi hình thức sở hữu vàmọi tính chất hoạt động) phải có hệ thống xử lý các chất thải : (chất lỏng, chấtkhí và chất rắn) phù hợp với tính chất, nguyên phụ liệu của cơ sở mình làm saobảo đảm cho được tiêu chuẩn nước thải quy định của Nhà nước hoặc của thành phố.Đối với các loại chưa có tiêu chuẩn quy định hoặc không thể đo đạt được nhưkhói lò (không có lẫn các hoá chất khi sản xuất) các hơi có mùi như khô cá,phân… và các loại mùi khó chịu khác thì phải thiết kế những công trình kỹ thuậtbảo đảm không gây thiệt hại và khó chịu cho xung quanh.

Đối với các chất thải có vitrùng gây bệnh phải xử lý bảo đảm diệt trùng trước khi cho ra hệ thống cốngchung quanh của thành phố. Không được để trực tiếp các chất thải chưa được xửlý ra hệ thống cống rãnh chung, sông, rạch hoặc mặt đất trong thành phố. Rác,phế liệu phải để đúng nơi quy định.

Đối với các đơn vị có sử dụngcác chất phóng xạ và tia X phải có hệ thống xử lý đặc biệt bảo đảm nghiêm ngặttheo chế độ quy định về bảo vệ môi trường.

Đối với tiếng ồn ở cơ sở sản xuấtkhông được vượt quá tiêu chuẩn mà Bộ Y tế đã quy định. Các sinh hoạt văn nghệ,đình đám vui chơi từ 23g đến 6g sáng không được gây ồn ào cho xung quanh.

Trong giờ ngủ nghỉ, không đượcgây tiếng động ồn ào làm mất sự yên tĩnh của lối xóm.

Đối với các phương tiện giaothông phải bảo đảm tiếng ồn và khói bụi đúng theo quy định liên ngành Y tế -Công an - Giao thông.

Đối với hoá chất phải bảo đảm nồngđộ cho phép ở ngoài khu vực sản xuất theo quy định của Bộ Y tế.

Đối với bụi phải bảo đảm tiêuchuẩn cho phép.

Các cơ sở sản xuất đều phải bảođảm khoảng cách ly vệ sinh tối thiểu đối với khu vực xung quanh, theo quy địnhcủa Bộ Y tế. Những nhà máy đã có tưới nước phải tìm mói cách khắc phục tốt nhất.Các tổ sản xuất hợp tác xã và cơ sở sản xuất của tư nhân nhất thiết phải bảo đảmquy định về khoảng cách ly này.

Chương VII

PHÒNG CHỐNG BỆNH DỊCH VÀBỆNH TRUYỀN NHIỄM

Điều 31:-Uỷ ban Nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan đơn vịchịu trách nhiệm về vệ sinh phòng chống dịch trong toàn khu vực cơ quan đơn vịcủa mình, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và thực hiện các thưởng quỹ phòng, chốngdịch đã được ban hành. Thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm và chủ động thựchiện các biện pháp và yêu cầu phục vụ cho công tác phòng chống dịch do y tế cơquan đề ra như tiêu chủng, diệt chuột, diệt bọ chét v.v…

Khi có bệnh dịch xẩy ra tại địaphương cơ quan, đơn vị nào thì Uỷ ban Nhân dân Thủ trưởng nơi đó phải ra lệnhthi hành những biện pháp bao vây dập tắt ổ dịch và Ban chỉ đạo phong trào vệsinh phòng dịch địa phương trở thành Ban chống dịch.

Tất cả các cơ quan xí nghiệp mọicấp đóng trong địa phương xẩy ra dịch phải tôn trọng những điều quy định phòngchống trong khu vực này. Để đề phòng chống các bệnh dịch, mọi người, mọi cấp phảicó nghĩa vụ thi hành các biện pháp phòng và chống dịch do Ủy ban Nhân dân thànhphố ban hành như về tiêm chủng, uống thuốc phòng, 3 sạch, 4 diệt, điều trị cáchly, sát trùng, tẩy uế và “kiểm dịch nội địa cũng như kiểm dịch quốc tế trongkhu vực thành phố”.

Quy định tiêm chủng bắt buộc chocác trẻ em theo quy định cụ thể của ngành y tế. Công tác tiêm chủng được thựchiện tại các Đội vệ sinh phòng dịch Quận, Huyện, các Phòng khám trẻ em lành mạnh,y tế cơ sở hoặc các Đội tiêm chủng lưu động.

Thủ tục đăng ký cưới hỏi phải cógiấy xác nhận đủ điều kiện sức khoẻ, không mắc bệnh truyền nhiễm để kết hôn docơ quan y tế từ Phòng khám đa khoa trở lên xác nhận.

Điều 32:-Khi nghi ngờ có người mắc bệnh dịch thì Thủ trưởng cơquan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị quânđội. Chủ nhiệm hợp tác xã, chủ hộ tập thể, chủ hộ gia đình v.v… phải báo cáocho cơ quan y tế gần nhất và chính quyền địa phương để có biện pháp phòng chống.Nếu không báo để xảy ra tác hại lớn, không thực hiện quy định chống dịch ởthành phố để dịch lan truyền thì Thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm.

Khi thú vật bị tại dịch hoặcnghi là mắc dịch phải báo cáo ngay cho cơ quan Thú Y, cơ quan Y tế và Chính quyềnbiết và phải theo đúng thể lệ phòng chống dịch, không được ăn thịt hoặc bán thịtsúc vật bị hạch dịch.

Quy định về khai báo, cách ly, xửlý các trường hợp thú vật bị chết hay bị dịch sẽ do quy định riêng của ngànhThú Y.

Điều 33:-Để đề phòng bệnh dại, mọi người trong thành phố phải thihành nghiêm chỉnh Thông báo “về việc nuôi chó và tiêm phòng” số 485/TB-UB của Ủyban Nhân dân Cách mạng thành phố Hồ Chí Minh ngày 15-03-1976. Cơ quan hay tưnhân nào được phép nuôi chó phải thi hành các biện pháp tiêm phòng cho chó theođịnh kỳ. Địa phương nào có dịch chó dại phải triệt để giết chó. Nghiêm cấm đưachó từ vùng có dịch ra vùng không có dịch.

Điều 34:-Trong nhà có người chết dù là trẻ em mới sinh chưa vào sổbộ đời cũng phải báo cáo với chính quyền và phải chôn chậm nhất là 48 giờ kể từlúc tắt thở. Nếu chết vì bệnh truyền nhiễm phải chôn cất ngay trong vòng 24 giờtheo đúng thể lệ vệ sinh phòng dịch về tẩy uế tại mộ huyệt cũng như tại nhà ở.Đối với người chết không bệnh dịch, nếu vì lý do đặc biệt cần lưu lại thì phảiđược phép Ủy ban Nhân dân thành phố sau khi có ý kiến của Trạm vệ sinh Phòng dịchthành phố, nhưng phải khám liệm theo đúng biện pháp về vệ sinh phòng dịch.

Điều 35:-Đối với xác chết chưa được nhìn nhận (án mạng, tai nạn,tự tử v.v… ở bất cứ nơi nào. Đội cảnh sát Giao thông hoặc Công an sau khi làmthủ tục khám nghiệm phải có trách nhiệm chuyển xác chết đến phòng ướp lạnh xácchết của bệnh viện gần nhất để gìn giữ, đồng thời thông báo thân nhân. Nếu sau72 giờ vẫn chưa có người nhận thì tiến hành thủ tục chôn cất.

Điều 36:-Muốn mang thi hài, hài cốt người chết ở ngoại thành vàonội thành hoặc từ thành phố ra các tỉnh khác đều phải xin phép Trạm Vệ sinhPhòng dịch thành phố và phải khâm liệm trong hòm có bọc kẽm.

Bốc mộ, cải táng phải có giấyphép của Trạm Vệ sinh Phòng dịch và thông báo cho Công an địa phương biết. Nếuchết vì bệnh thông thường thì chỉ được cải táng sau 3 năm kể từ ngày chôn. Nếuchết vì bệnh truyền nhiễm thì sau thời gian 5 năm mới được bốc mộ. Khi tiếnhành phải theo đúng những quy định về vệ sinh bốc mộ cải táng. Khi cần khai quậttử thi để khám nghiệm phải được lệnh của cơ quan pháp lý và phải chấp hànhnghiêm chỉnh các điều kiện vệ sinh.

ChươngVIII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀBIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 37.- Cá nhân và tập thể đều có trách nhiệm thi hành bản quytắc vệ sinh này. Ai làm tốt sẽ được biểu dương. Ai vi phạm các điều khoản trongquy tắc này thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà xử lý.

- Cảnh cáo.

- Phạt tiền từ 10 đồng đến100 đồng (tuỳ theo thời giá mức định có thể sửa đổi bảng một quyết định của Ủyban Nhân dân thành phố chiếu đề nghị của Sở Tài chính hoặc các Sở liên quan).

- Phạt lao động công ích từ1 ngày đến 3 ngày.

- Phạt giam từ 1 đến 3ngày.

- Phạt đóng cửa tạm thờihay vĩnh viễn cơ sở vi phạm.

- Truy tố trước toà.

Nếu là tập thể khu vực (quận,huyện, phường xã) cơ quan, xí nghiệp công trường, nông trường, lâm trường, bệnhviện, trường học, các cơ sở ăn uống kinh doanh v.v… vi phạm thì Thủ trưởng đơnvị là người trực tiếp gây ra phải chịu trách nhiệm và bị xử lý theo quy định. Nếumất vệ sinh ở chợ, bến xe, bến tàu, hợp tác xã khu tập thể v.v… thì Trưởng BanQuản lý và người được phân công trực tiếp ở đơn vị đó chịu trách nhiệm. Nếu giađình thì chủ hộ chịu trách nhiệm, nếu là trẻ em dưới 18 tuổi vi phạm thì chủ hộhay người trực tiếp nuôi dạy chịu trách nhiệm về mặt dân sự.

Điều 38.

a) Cán bộ, chiến sĩ công an đanglàm nhiệm vụ quản lý trật tự an toàn xã hội, được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiềntừ 10 đến 30 đồng.

- Trưởng Công an hoặc phóCông an Xã, Phường, Thị trấn được quyền phạt cảnh cáo, phạt từ 10 đến 30 đồng,phạt 1 ngày lao động công ích.

- Cán bộ Công an từ cấpTrường, Phó Công an Quận, Huyện trở lên được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền từ10 đến 100 đồng, phạt lao động công ích từ 1 đến 3 ngày, phạt giam từ 1 đến 3ngày và quyết định tịch thu tang vật và các phương tiện phạm pháp.

b) Trưởng Phó Trạm Y tếXã, Phường, Thị trấn được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 đến 30 đồng.

- Các cán bộ từ cấp Quận,Huyện trở lên chuyên trách vệ sinh (công nghiệp, thực phẩm, học đường, ngoại cảnh)và Phòng chống dịch, các cán bộ từ cấp Quận, Huyện trở lên thuộc các Ban Ngànhkhác liên hệ đến các điều trong quy tắc vệ sinh này được quyền phạt cảnh cáo,phạt tiền từ 10 đến 100 đồng. Khi cần thiết các cán bộ vừa kể trên có thể đềnghị Công an xử phạt lao động công ích hoặc phạt giam.

c) Các cơ sở vi phạm về vệ sinhcó thể bị phạt đóng cửa tạm thời từ 3 đến 15 ngày sau khi đã bị phạt tiền 2 lầntrong 1 năm nhưng tình trạng vệ sinh vẫn không cải thiện, đóng cửa vĩnh viễnsau khi đóng cửa tạm thời 2 lần trong 3 năm và xét tình trạng vệ sinh quá tệkhông thể cải thiện được.

Đối với các cơ sở cấp thành phốhay Trung ương đóng tại thành phố Giám đốc Sở Y tế trình Ủy ban Nhân dân thànhphố theo đề nghị của Trưởng Trạm Vệ sinh Phòng dịch đề ra quyết định đóng cửa tạmthời hay vĩnh viễn, riêng đối với cơ sở Trung ương đóng tại thành phố Ủy banNhân dân thành phố cần hỏi ý kiến của Bộ chủ quản.

Đối với cơ sở cấp Quận, Huyện trởxuống, Trưởng Phòng Y tế trình Ủy ban Nhân dân Quận, Huyện theo đề nghị của ĐộiVệ sinh Phòng dịch để ra quyết định tạm thời hay vĩnh viễn.

d) Việc truy tố trước toà sẽ docơ quan cấp Quận, Huyện và Thành phố của Công an dựa theo đề nghị của các BanNgành liên quan để xét xử các vụ vi phạm nghiêm trọng về vệ sinh phòng dịch vàcác vụ nhục mạ hay hành hung cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ kiểm tra do quyđịnh này.

Điều 39.-Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày bị phạt người hay cơ sởbị phạt được quyền khiếu nại lên Thủ trưởng đơn vị của cán bộ, chiến sĩ Công anđã phạt, hoặc lên Thủ trưởng cơ quan cấp trên của người cán bộ, chiến sĩ Côngan đó. Đơn khiếu nại phải được nhanh chóng cứu xét giải quyết trong thời hạn 10ngày, trong thời gian chờ đợi, người hay cơ sở vẫn phải chấp hành quyết định phạtđầu tiên nếu là phạt tiền, người bị phạt lao động công ích hay bị phạt giam chỉphải chấp hành sau khi đơn khiếu nại bị bác bỏ.

Đối với quyết định đóng cửa tạmthời hay vĩnh viễn một cơ sở trong thời hạn 5 ngày kể từ khi nhận được quyết địnhđóng cửa, cơ sở bị phạt đóng cửa được quyền khiếu nại lên Ủy ban Nhân dân thànhphố để duyệt xét lại các quyết định đóng cửa ban đầu của Ủy ban Nhân dân Quận,Huyện hay thành phố. Ủy ban Nhân dân thành phố sẽ hỏi ý kiến các Ban Ngành liênhệ và Trạm Vệ sinh Phòng dịch thành phố để giải quyết trong thời hạn 10 ngày.

Điều 40.-Trong các việc kiểm tra vệ sinh đơn ngành hay phối hợpcó nhiều ban ngành, nếu có vi phạm vệ sinh, cán bộ vệ sinh phòng dịch có thẻ kiểmtra và phù hiệu sẽ phụ trách lập biên bản và đề nghị Công an trong đoàn kiểmtra phạt cảnh cáo hay phạt tiền, nếu không có Công an, cán bộ vệ sinh phòng dịchsẽ tự mình đảm trách việc phạt cảnh cáo, phạt tiền cá nhân hay cơ sở vi phạm. Đốivới các hình phạt khác, cán bộ, chiến sĩ Công an hay cán bộ vệ sinh phòng dịchsẽ đề nghị các giới chức nói ở Điều 38 đảm trách.

Điều 41.-Khi thu tiền phạt phải cấp biên lai và người phạt tiềnđược hưởng một tỷ lệ tiền phạt bằng 30% số tiền nộp phạt, số còn lại đóng vàongân sách thành phố trong quỹ xây dựng và bảo quản các công trình công cộng.

Điều 42.-Giám đốc Sở y tế (theo đề nghị của Trạm Trưởng Trạm Vệsinh Phòng dịch) có quyền trình Ủy ban Nhân dân thành phố ra quyết định đình chỉhoặc huỷ bỏ những lương thực và thực phẩm mất phẩm chất nghiêm trọng, có độc chấtnguy hiểm đến sức khoẻ người dùng, trong khi chờ đợi kết quả xét nghiệm nếu làquyết định đình chỉ, và sau khi có kết quả xét nghiệm xác nhận nếu là quyết địnhhuỷ bỏ.

Điều 43.-Công an Thành phố, Sở Y tế hay các Ban ngành liên quankhác chịu trách nhiệm việc in và cấp thẻ kiểm tra và phù hiệu cho nhân viên thuộcthẩm quyền có chức năng kiểm tra và xử lý các vụ vi phạm các điều lệ trong quytắc vệ sinh. Việc cấp thẻ kiểm tra và phù hiệu phải chặt chẽ và có quy định thờigian sử dụng theo mẫu ấn định, dưới sự giám sát của Chính quyền, Ban ngành,Đoàn thể địa phương.

Điều 44.-Nhân viên thừa hành nghiêm chỉnh thực hiện đúng các điềuquy định. Với nhân viên vi phạm quy chế nộp phạt, có hành động lạm dụng quyền hạn,ăn hối lộ hay những người không được giao quyền phạt vi cảnh mà tuỳ tiện phạt sẽbị thi hành kỷ luật hành chánh hoặc truy tố theo hình luật.

Điều 45.-Quy tắc trên đây có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Ủy banNhân dân các cấp trong thành phố có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và tổ chứcthi hành bản quy tắc vệ sinh này.

ỦYBAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ