TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 1057-LN/QĐ

Hà Nội, ngày 25 tháng 07 năm 1974

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNGTRẢ THEO SẢN PHẨM TRONG LÂM NGHIỆP

TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP

Căn cứ vào Nghị định số 140-CPngày 29-9-1964 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chứcbộ máy của Tổng cục Lâm Nghiệp;
Căn cứ vào Quyết định số 235-Cp ngày 09-12-1970 của Hội đồng Chính phủ về việc pháttriển và củng cố chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và Thông tư số 08-LĐ/TT ngày26-5-1971 cảu Bộ Lao động hướng dẫn thi hành Quyết định nói trên;
Để đẩy mạnh việc thực hiện chế độ tiền lương trả theo sản phẩm sát, hợp với đặcđiểm về sản xuất của ngành;
Theo đề nghị của ông Vụ trưởng Vụ lao động tiền lương.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. – Ban hành kèm theoQuyết định này bản Điều lệ về chế độ trả lương thep sản phẩm trong ngành lâmnghiệp .

Điều 2. – Điều lệ này áp dụngthống nhất trong toàn ngành kể từ ngày ban hành thay thế cho các văn bản sauđây của Tổng cục nay đã bị bãi bỏ: Điều lệ tạm thời về chế độ tiền lương trảtheo sản phẩm trong ngành lâm nghiệp ban hành kèm Quyết định số 264-LB/QĐ ngày22-4-1964, Thông tư số 505-LN/TT ngày 07-11-1964 Thông tư số 49-TCCB/LĐ ngày22-9-1971.

Điều 3. – Các ông giám đốccác Cục, Vụ, trưởng ty và trưởng phòng lâm nghiệp, thứ trưởng các công ty, lâmtrường, xí nghiệp trực thuộc chịu trách nhiệm, thi hành Quyết định này.

K.T. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP
TỔNG CỤC PHÓ





Phạm Đình Sơn

ĐIỀU LỆ

VỀCHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG TRẢ THEO SẢN PHẨM ÁP DỤNG TRONG NGÀNH LÂM NGHIỆP
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1057-LN/QĐ ngày 25-7-1974 của Tổng cục Lâm nghiệp)

Nhằm quán triệt hơn nữa nguyên tắcphân phối theo lao động, khuyến khích công nhân làm vịêc hăng say và sáng tạođể tăng năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm, góp phần hoàn thànhtoàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước, trên cơ sở đó vừa tăng thêm tích lũycho Nhà nước, vừa tăng thu nhập cho công nhân; căn cứ Quyết định số 235-CP ngày09-12-1970 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư số 08-LĐ/TT ngày 26-5-1971 của BộLao động về việc củng cố và phát triển chế độ tiền lương trả theo sản phẩm; dựavào những kinh nghiệm đã đúc kết được và tình hình thực tế của ngành Tổng cụcban hành Điều lệ này để quy định và hướng dẫn các vấn đề cụ thể nhằm đảm bảoviệc thực hiện chế độ tiền lương trả theo sản phẩm được sát hợp với tình hình,đặc điểm sản xuất của ngành và đạt được các yêu cầu đã nêu trong Quyết định số235-CP ngày 09-12-1970 của Hội đồng Chính phủ.

Chương 1:

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. – Trong các cơ sởsản xuất của ngành những công việc xây dựng được định mức lao động đều phải thựchiện chế độ tiền lương trả theo sản phẩm

Thủ trưởng các đơn vị phải kết hợpchặt chẽ với Ban chấp hành Công đoàn cùng cấp để sớm tổ chức thực hiện, tíchcực mở rộng để mau chóng đưa chế độ tiền lương trả theo sản phẩm thành hìnhthức trả lương chủ yếu trong các đơn vị sản xuất của ngành, từng bước củng cốvà nâng cao chất lượng nhằm đem lại hiệu qua kinh tế thiết thực, toàn diện vàngày càng cao.

Điều 2. – Ở những đơn vị thựchiện chế độ tiền lương trả theo sản phẩm phải làm tốt những việc sau đây:

- Làm tốt công tác chuẩn bị và bảođảm các điều kiện vật chất – kỹ thuật (chú ý các việc: có nhiệm vụ sản xuất cụthể và đầy đủ, có đủ phương tiện và công cụ sản xuất cần thiết, nguyên nhiên vậtliệu, quy định rõ các yêu cầu về kỹ thuật và quy cách, chất lượng sản phẩm) đểcông nhân sản xuất liện tục, có năng suất lao động cao, bảo đảm các yêu cầu kỹthuật, quy cách , chất lượng sản phẩm an toàn lao động và an toàn thiết bị, máymóc .

- Xây dựng định mức lao động chínhxác, quy định cấp bậc công việc đúng đắn để có đơn giá trả lương hợp lý.

- Tổ chức nghiệm thu chặt chẽ, chínhxác để trả lương đúng theo số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạchtác nghiệp ở các đội trạm, phân xường để bảo đảm sản xuất được cân đối và liên tục;tổ chức, bố trí và sử dụng lao động hợp lý; thống kê chính xác ngày công và kếtquả sản xuất của từng tổ, từng người; bảo đảm trả lương chính xác, đúng thờihạn đến tận tay người công nhân.

- Kết hợp chặt chẽ giữa khuyến khíchlợi ích vật chất với giáo dục chính trị nhằm nâng vao giác ngộ xã hội chủ nghĩavà tin thần làm chủ tập thể của công nhân; giữa nâng cao năng suất lao động vớibảo đảm quy cách chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên, nhiện, vật liệu, bảođảm an toàn thiết thị, máy móc và an toàn lao động; giữa đẩy mạnh sản xuất vớichănm lo đời sống và bảo vệ sức khỏe cho cán bộ công nhân.

Điều 3. – Các đơn vị phảixuất phát từ yêu cầu sản xuất để tổ chức lao động hợp lý và áp dụng hình thức lươngsản phẩm thích hợp cho từng việc dưới dây chuyền sản xuất theo như quy địnhdưới đây:

a)Trong trồng rừng: trả lương chotổ sản xuất theo số lượng cây con đạt tiêu chuẩn và theo số cây trồng sống củatừng lô rừng.

b) Trong chăm sóc, tu bổ rừng: trảlương cho tổ sản xuất theo diện tích của từng lô rừng sau khi đã chăm sóc, tubổ đúng theo các yêu cầu kỹ thuật đã quy định.

c) Trong khai thác lâm sản: trả lươngcho tổ sản xuất theo số số lượng sản phẩm đã đưa ra bãi I, trên cơ sở có giaorừng trước khi khai thác và nghiệm thu rừng sau khi khai thác đối với từng lômột, công nhân phải bảo đảm quy cách chất lượng sản phẩm làm ra và bảo đảm cácyêu cầu về tái sinh, bảo vệ rừng nơi đã khai thác.

d) Trong vận chuyển lâm sản: trảlương theo đầu xe (đối với ô tô) và theo tổ hoặc nhóm công nhân xuôi bè theo khốilượng hàng hóa vận chuyển được, với điều kiện bảo đảm an toàn cho ngừơi, phươngtiện và không để mất hoặc thiếu hụt hàng hóa vận chuyển.

(Sẽ có văn bản hướng dẫn cụ thể vàchi tiết về các hình thức lương sản phẩm áp dụng cho các việc và dây chuyền sảnxuất kể trên).

Còn đối với các công việc và dâychuyền sản xuất khác sẽ vận dụng các hình thức lương sản phẩm đã hướng dẫn tại điểm2, mục II của Thông tư số 08-LĐ/TT ngày 26-5-1971 của Bộ Lao động.

Điều 4. – Khi thực hiện chếđộ lương sản phẩm phải kết hợp áp dụng các chế độ tiền thưởng thích hợp như: thưỏngsáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất, thưởng tiết kiệm nguyên,nhiên, vật liệu, thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm v.v… nhằm đem lại hiệu quakinh tế toàn diện.

Chương 2:

ĐỊNH MỨC LAO ĐỘNG,CẤP BẬC CÔNG VIỆC ĐƠN GIÁ SẢN PHẨM

Điều 5. – Định mức lao động để trả lương theo sản phẩm phảimang tính chất trung bình tiên tiến, được xây dựng theo các phương pháp tiến bộvà theo đưuờng lối quần chúng để có tác dụng khuyến khích công nhân phấn đấu sửdụng tốt thời gian lao động, khai thác và sử dụng các khả năng tiềm tàng nhằmkhông ngừng nâng cao năng suất lao động.

Phải xuất phát từ tình hình thựctế từng nơi, từng lúc mà chấn chỉnh tổ chức sản xuất và tổ chức lao động cho hợplý, áp dụng các phương pháp và kinh nhiệm sản xuất tiên tiến, trên cơ sở đó dùngphương pháp quan sát và phân tích việc sử dụng thời gian lao động, thời gian sửdụng thiết bị máy móc để xây dựng định mức lao động đúng đắn, sát với thực tế,không được dùng phương pháp định mức theo lối ước lượng thiếu căn cứ khoa hocthực tế.

Trước mắt, các đơn vị phải kịp thờisửa đổi các định mức không còn phù hợp với thực tế. Phải tổ chức cho công nhântham gia ý kiến vào việc xây dựng và bàn biện pháp thực hiện những định mức laođộng đề trả lương theo sản phẩm.

Những công việc đã có tiêu chuẩnđịnh mức của ngành, của Nhà nước thì các đơn vị phải tổ chức áp dụng cho sát thựctế sản xuất ở đơn vị mình những định mức nội bộ sẽ do giám đốc lâm trường, côngty, xí nghiệp Quyết định cho thi hành, sau khi đã có sự tham gia của Ban chấphành công đoàn cơ sở.

Điều 6. – Thời hạn sử dụngcác định mức lao động để trả lương theo sản phẩm được quy định như sau.

Khi tổ chức sản xuất, tổ chức laođộng, thiết bị máy móc, dụng cụ sản xuất, quy cách chất lượng sản phẩm, quy địnhcông nghệ và đối tượng lao động có thay đổi, thì phải kịp thời có sửa đổi địnhmức cho phù hợp với thực tế sản xuất, không phụ thuộc vào định kỳ thay đổi địnhmức.

Nếu không có sự thay đổi trên, thìnhững định mức lần đầu chưa có kinh nghiệm, phải theo dõi chặt chẽ để điều chìnhkịp thời và sau không quá 3 tháng, phải công bố thành định mức chính xác. Cácđịnh mức chính thức thì sau 6 tháng phải xem xét, nếu không còn thích hợp thìphải kịp thời sửa đổi. Mỗi lần sửa đổi định đổi mức lao động phải công bố vàphân tích cho công nhân biết rõ lý do trước khi thực hiện định mức mới; đồng thờiphải đi sát giúp đỡ và tạo điều kiện cho công nhân phấn đấu đạt và vượt cácđịnh mức đó.

Điều 7. – Cấp bậc công việclà yếu tố quan trong, phải được đúng đắn để tính đơn giá sản phẩm hợp lý, làmcơ sở để bố trí sử dụng lao động hợp lý và lập kế hoạch lao động, quỹ lương đượcsát đúng.

Đối với công việc đã có cấp bậc côngviệc thống nhất của ngành, của Nhà nước thì các đơn vị phải thực hiện theo cácquy định và hướng dẫn thống nhất đó. Đối với những công việc chưa có quy địnhvề cấp bậc công việc thống nhất thì các đơn vị căn cứ vào các phương pháp đãhướng dẫn để xây dựng và đề nghị Tổng cục xét duyệt cho áp dụng tạm thời.

Điều 8. – Đối với các địnhmức lao động trung bình tiên tiến được xây dựng theo các phương pháp tiến bộ,các lâm trường, xí nghiệp đền nghị các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xétduyệt cho tính thêm vào đơn giá sản phẩm một tỷ lệ khuyến khích lượng sản phẩmbằng từ 5% đến 10% của mức lương cấp bậc công việc; trong đó chú ý khuyến khíchhơn đối với những công việc cải tiến và phương pháp sản xuất tiên tiến mà nâng caođịnh mức sản lượng so với trước và những công việc quan trọng trong dây chuyểnsản xuất.

Điều 9. – Đơn giá sản phẩm(G) là số tiền lương phải trả cho một đơn vị sản phẩm.

Mức lương dùng làm cơ sở tình đơngiá sản phẩm bao gồm: lương cấp bậc công việc (LCBCV), phụ cấp khu vực (PCKV)và tỷ lệ khuyến khích lương sản phẩm (KKLSP). Các loại phụ cấp khác sẽ tính trariêng cho công nhân, không được tính vào đơn giá sản phẩm.

Đơn giá sản phẩm đựơc tính theo côngthức sau đây:

a) Trường hợp định mức sản phẩm(ĐMSL),

G =

LCBCV + PCKV (nếu có) + KKLSP (nếu có)

ĐMSP

Ví dụ: Công việc khái thác nứa đượcxác định cấp bậc công việc là bậc 3, nơi có 20% phụ cấp khu vực, không có tỷkhuyến khích lương sản phẩm, định mức sản phẩm cho vịêc khai thác nứa đưa ra bãiI là 150 cấy/công; tính đơn giá 1 cây nứa tại bãi I là:

55,20đ + (55,20x 20%)

= 0,017đ/cây

26 ngày x 150 cây/công

b) Trường hợp định mức thời gian(ĐMTG), G =[LCBCV + PCKV (nếu có) + KKLSP (nếu có)] x ĐMTG

Ví dụ: Công việc luỗng rừng đựơcxác định cấp bậc công việc là bậc 3 +2, nơi có 20% phụ cấp khu vực, không có tỷlệ khuyến khích lương sản phẩm, định mức thời gian cho vệc luỗng rừng là 14 công/ha;tính đơn giá luỗng một hécta là:

[48,80 + (48,80 x 20%)] x 14 công/ha

= 31,53đ/ha

26 ngày

Điều 10. – Những công việcđược hưởng mức lương nóng có hại thì đơn giá được tính theo mức lương nóng cóhại.

Chương 3:

NGHIỆM THU SẢNPHẨM VÀ NHỮNG ĐIỀU KHOẢN VỀ THANH TOÁN TRẢ LƯƠNG THEO SẢN PHẨM CHO CÔNG NHÂN.

Điều 11. – Khi giao việc cho công nhân, thủ trưởng các đơnvị phải quy định rõ các vấn đề sau đây để làm căn cứ cho việc theo dõi thực hiện,nghiệm thu sản phẩm và áp dụng các điều khoản về thanh toán trả lương theo sảnphẩm: khối lượng công việc và số lượng sản phẩm phải làm, các yêu cầu về kỹthuật phải bảo đảm và chỉ tiêu về quy cách, chất lượng sản phẩm, thời gian hoànthành và nơi giao nộp sản phẩm, đơn giá sản phẩm và việc xử lý về tiền lươngkhi làm ra sản phẩm hỏng, xấu, sai phạm quy trình kỹ thuật hoặc không thông bảođảm các yêu cầu khác đã quy định khi giao việc.

Điều 12. – Hằng ngày phảikiểm tra tại hiện trường để nắm được kết quả sản xuất và uốn nắn các sai sót đãxảy ra, trước các ngày phát lương hàng tháng theo định kỳ như đối với công nhânhưởng lương theo thời gian, phải tổ chức nghiệm thu chặt chẽ, chính xác và lập thànhphiếu nghiệm thu để làm chứng từ gốc cho việc thanh tóan trả lương theo sảnphẩm.

Phiếu nghiệm thu phải cóp chữ kýcủa công nhân là bên giao, của thủ kho hoặc nhân viên nghiệm thu là bên nhận, củacán bộ kỹ thuật ở đội, phân xưởng xác nhận việc bảo đảm quy cách, chất lượngsản phẩm và các yêu cầu kỹ thuật khác, cuối cùng có chữ ký của đội trưỏng quảnđốc phân xưởng xác nhận toàn bộ kết quả nghiệm thu.

Điều 13. – Căn cứ vào phiếunghiệm thu làm đầy đủ và đúng thủ tục như trên, kỳ phát lương hàng tháng, cáclâm trường, công ty, xí nghiệp phải thanh toán trả lương đầy đủ cho công nhântheo đơn giá quy định và theo thực tế về số lượng, chất lượng sản phẩm đã nghiệmthu, dù công nhân có được tăng lương nhiều cũng phải trả đủ không được giảmhoặc giữ tiền lương của công nhân dưới bất cứ hình thức nào; ngược lại, dù côngnhận bị hụt lương nhiều cũng không bảo lưu lương cơ bản.

Tuy nhiên, khi xảy ra vượt hoặc hụtmức nhiều, các đơn vị phải xem xét lại ngay: nếu thấy định mức vẫn sát đúng nhưngcông nhân chưa đạt thì cần phải phân tích rõ và có biện pháp giúp đỡ công nhânphấn đấu đạt các định mức đó, nếu thấy định mức chưa sát đúng thì kịp thời sửađổi cho thích hợp.

Điều 14. – Khi mới định mứcvà thực hiện lương sản phẩm lần đầu hoặc khi sản xuất và kỹ thuật có thay đổilớn mà xây dựng lại định mức mới, nếu có trên một phần ba (1/3) số công nhânlàm theo các định mức đó bị hụt thì những công nhân bị hụt mức được bảo đảmlương cơ bản trong một tháng đầu.

Đối với công nhân được điều đônghẳn sang nghề mới, các đơn vị phải giúp họ nằm được kỹ thuật sản xuất ở công việcmới rồi mới áp dụng chế độ trả lương theo sản phẩm; trong tháng đầu thực hiệnlương sản phẩm, nếu bị hụt và mức hụt lương thì được trả chênh lệch cho bằnglương cũ; sau đó phần chênh lệnh giữa lương cơ bản cũ và mới (trường hợp lươngcũ cao hơn lương ở công việc mới) sẽ được tính trả riêng cho đến hết thời giantheo chế độ quy định; phần còn lại thì hưởng theo lương sản phẩm như những côngnhân khác, dù tiền lương theo sản phẩm có tăng hay giảm thì số tiền chênh lệchđó vẫn giũ nguyên, không thay đổi.

Điều 15. – Đối với những sảnphẩm làm ra không đúng quy cách, chất lượng và các yêu cầu kỹ thuật khác đã quyđịnh do lỗi của công nhân, thì kiên quyết, thì kiên quyết buộc công nhân phảilàm lại cho đúng mới thanh tóan lương. Trường hợp không thể làm lại đựơc giảiquyết như sau:

- Nếu còn sử dụng được thi trả lươngtheo đơn giá thấp hơn, tương đối đúng với quy cách, chất lượng thực tế so vớisản phẩm tốt.

- Nếu không còn sử dụng được thìkhông trả lương và còn xét bắt bồi thường thiệt hại về nguyên vật liệu đã dùng đểlàm ra những sản phẩm đó.

Việc xử lý trong trường hợp nàysẽ áp dụng theo cá quy định vá hướng dẫn trong Thông tư số 97-TTG ngày29-9-1962 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ trả lương khi làm hàng hỏng, hàngxấu hoặcc công trìnmh sai phạm kỹ thuật .

Điều 16. – Trường hợp do nghiệmthu không chặt chẽ nên đã trả đủ lương cho công nhân rồi, sau đó mới phát hiệnra thiếu hụt hoặc có sản phẩm không đúng quy cách chất lượng thì cần thẩm tra,kết luận và quy rõ trách nhiệm gây ra thiếu sót thuộc về nhân viên làm công tácnghiệm thu hoặc buộc bồi hoàn số tiến lương đã trả không đó.

Việc giải quyết trong trường hợpnày phải do giám đốc lâm trường, công ty, xí nghiệp quyết định sau khi trao đổinhất trí với Ban chấp hành công đoàn cung cấp; nếu phải bồi hoàn thì trừ dần vàolương hàng tháng và không quá 30% tiền lương hàng tháng, sau đó nếu người phạmlỗi có sửa chữa tốt thì có thể xét miễn hoặc giảm số tiền còn lại phải bồi hoàn.Trường hợp công nhân do thiếu tinh thần trách nhiệm mà gây hư hỏng, thiêt bị,máy móc, dụng cụ, vật liệu hoặc rơi mất sản phẩm (vận chuyển) gây thiệt hại chotài sản Nhà nước thì phải bồi thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm vật chấtcủa công nhân, viên chức đối với tài sản của Nhà nước ban hành kèm theo Nghịđịnh số 49-CP ngày 09-4-1968 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số128-TT/LB ngày 24-7-1968 của Liên Bộ Tài chính Lao động – Tổng công đoàn

Điều 17. – Các đơn vị phảiđảm bảo thanh toán tiền lương trả theo sản phẩm cho công nhân đúng theo kỳ hạnnhư đối với công nhân hưởng lương thời gian; không được để chậm.

Trường hợp do đặc điểm sản xuất ởmột số công việc dây chuyền sản xuất như: trồng rừng, tu bổ rừng, xây dựng cơ bản,v.v… nếu đến kỳ phát lương chưa có sản phẩm hoàn thành để có thể thanh toán dứtkhóat tiền lương trả theo sản phẩm được thì vẫn phải nghiệm thu khối lượng vàchất lượng phần công việc đã làm được để tạm ứng trước cho công nhân từ 80% đến90% số tiền lương theo đơn giá của khối lượng công việc thực tế đã làm trongkỳ,số còn lại sẽ thanh tóan đầy đủ theo đơn giá quy định khi sản phẩm hoặc côngviệc đã hoàn thành và được nghiệm thu chính thức. Việc tạm ứng trước tiền lươngtrong trường hợp này cũng phải bảo đảm kịp thời và đúng kỳ hạn trả lương hàngtháng theo quy định như đối với công nhân hưởng theo thời gian.

Chương 4:

VIỆC ÁP DỤNG CÁCCHẾ ĐỘ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHIA LƯƠNG TRONG TRƯỜNG HỢP TRẢ LƯƠNG THEO SẢN PHẨM CHOTẬP THỂ.

Điều 18. – Mỗi kỳ phát lương hàng tháng, tiền lương của côngnhân được lĩnh gồm có: tiền lương trả theo sản phẩm nói ở chương III trên đây,tiền lương trong những ngày làm việc không lương theo sản phẩm – tiền lươngđược hưởng theo chế độ quy định trong những ngày ngừng việc, nghỉ việc, họctập, hội họp; các khoản phụ cấp được hưởng theo chế độ hiện hành chưa tính vàođơn giá sản phẩm.

Điều 19. – Khi xảy ra ngừngviệc thủ trưởng các đơn vị phải bố trí việc khác cho công nhân làm, chú ý giaođủ khối lượng để công nhân sử dụng hết thời gian lao động và đạt hiệu quả kinhtế thiết thực.

Việc trả lương trong trường hợpnày như sau:

- Chủ yếu là trả lương theo sản phẩmdo công việc mới được bố trí. Công nhân phải phấn đâu để bảo đảm đạt mức lươngcũ. Trường hợp công nhân đã cố gắng phấn đấu nhưng do lương công việc mới thấphơn lương cũ thì được trả thấp nhất bằng 85% lương cũ, nếu công việc mới nặngnhọc hơn thì được trả thấp nhất bằng 90% lương cũ.

- Sau khi đã có những biện pháp tíchcực mà vẫn không bố trí được việc làm khác cho công nhân, nếu giám đốc lâm trường,công ty, xí nghiệp quyết định cho ngừng việc (hoặc xác nhận trong trường hợp khôngtrực tiếp quyết định) thì số người phải ngừng việc được hưởng 70% lương của sốgiớ thực tế bị ngừng việc; riêng người đó phạm lỗi mà gây ra ngừng việc vàngười được phân công việc khác nhưng không chịu làm thì không được trả lương.

Điều 20. – Khi giao việc,các đơn vị có trách nhiệm biố trí công nhân có cấpo bậc kỹ thuật phù hợpcấp bậccông việc. Trường hợp do yêu cầu sản xuất phải sử dụng công nhân cấp bậc thấp làmviệc bậc cao thì phaủi chịon người có khả năng bảo đảm chất lượng ssp, an toànthiết bị, an toàn lao động, và ngườui điựơc bố trí làm viuệc bậ caop được hưởngtheo đơn giá vgà tiền lương của công việc bậc cao. Chỉ klhi nào thật ầcn thiếtmới bố trí công nhân bậc cao làm bậc thấpm trường hợp này thì trả lương theoquy định tại điểm 6 trong nghị quyết số 235-CP ngày 09-12-1970 của Hội đồngChính phủ.

Điều 21. – Những nữ công nhânđược rút bớt thời gian làm việc theo các chế độ hiện hành, như trường hợp chocon bú, có thai từ tháng thứ 7 trở đi trong một số nghề, v.v… thì ngoài tiềnlương trả theo đơn giá của số sản phẩm làm ra như đối với những công nhân khác,còn được trả thêm phần tiền lương cho giờ nghỉ đó.

Điều 22. – về nguyên tắc thìtiền lương sản phẩm phải trả trực tiếp cho từng công nhân.

Trường hợp định mức và giao việccho cá nhân thì căn cứ vào phiếu nghiệm thu sản phẩm để tính lương cho từng người

Trường hợp giao việc và trả lươngtheo sản phẩm cho tập thể thì các đơn vị phải hướng dẫn việc chia lương cho hợplý và đúng nguyên tắc phân phối theo lao động, bảo đảm trả lương tận tay từngcông nhân.

Các đơn vị sẽ tùy theo tình hìnhthực tế của từng khâu, từng công việc để áp dụng một trong ba phương pháp chialương sau đây:

- Đối với công việc tuy lao độngtập thể nhưng mọi người làm công việc như sau, cùng một cấp bậc công việc thì chủyếu là căn cứ vào năng suất thực tế của từng người so với định mức được giao đểquy ra điểm và chia lương theo điểm

- Đối với công việc nhiều người cùnglàm, có nhiều cấp bậc công việc khác nhau cho từng phần việc, thì việc chialương phải vừa căn cứ và năng suất, vừa căn cứ vào cấp bậc công việc của phầnviệc đã giao cho mỗi người. Cách tính toán để chia lương cụ thể như sau: chủyếu là lấy năng suất thực tế của mỗi người so với định mức đã giao cho từng phầnvừa được giao (không phải là cấp bậc lương thực tế của công nhân) để có điểm hệsố và chia lương cho từng công nhân theo điểm hệ số đó.

- Đối với công việc có nhiều ngườicùng làm, có nhiều cấp bậc khác nhau cho từng phần việc, song do đặc điểm củasản xuất dây chuyền hoặc do sự phân công trách nhiệm cho từng người đã rõ, mọingười buộc phải có sự cố gắng đồng đều để bảo đảm phần việc được giao và bảođảm cho dây chuyền sản xuất được liên tục, thì việc chia lương cho từng ngườichủ yếu theo hệ số công (theo hệ số cấp bậc công việc của từng phần việcđược giao và số ngày và thực tế của từng người)

Các đơn vị có trách nhiệm phổ biếnrộng rãi cho công nhân thông suốt nội dung, điều kiện vá cách áp dụng mỗi phươngpháp chia lương nói trên; liên hệ với tình hình thực tế để chọn phương phápchia lương thích hợp cho từng khâu, từng việc, xây dựng tiêu chuẩn cho điểm cụthể và có thể lập bảng điểm tính sẵn cho từng việc để hằng ngày dựa vào kết quảsản xuất của từng người mà tính toán, cho điểm được hợp lý và nhanh gọn.

Chương 5:

TỔ CHỨC VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN

Điều 23. – Thủ tướng các cấptrong ngành phải phối hợp chặt chẽ với Ban chấp hành công đoàn cùng cấp, giaotrách nhiệm rõ ràng cho các bộ môn giúp việc, để thực hiện tốt những quy địnhtrong điều lệ này; phải tổ chức chỉ đạo, theo giỏi chặt chẽ, thường xuyên côngtác lương sản phẩm; có định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá ưu điểm,khuyết điểm, phổ biến những kinh nghiệm tốt và có biện pháp khắc phục nhữngthiếu sót, tồn tại, nhằm làm cho việc thực hiện chế độ lương sản phẩm thực sựlà đòn bẩy khuyến khích đẩy mạnh sản xuất.

Điều 24. – Bộ môn lao độngtiền lương và định mức lao động có trách nhiệm chính giúp thủ trưởng các cấptrong ngành đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể để chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểmtra và theo dõi chặt chẽ công tác lương sản phẩm; phải thường xuyên đi sát sảnxuất để nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và uốn nắn các sai sót thuộc tráchnhiệm giải quyết của mình, đề xuất với thủ trưởng đơn vị và các bộ môn có liênquan giải quyết đồng bộ các vấn đề khác nhằm thực hiện chế độ lương sản phẩmđạt kết quả cao; giúp làm báo cáo đều đặn lên Tổng cục về tình hình thực hiệnchế độ lương sản phẩm ở đơn vị mình.

Các bộ môn kế hoạch, thống kê, kếtoán, kỹ thuật, nghiệm thu sản phẩm v.v… tùy theo chức năng, nhiệm vụ được giao,phải phối hợp với bộ môn lao động tiền lương để làm tốt công tác lương sản phẩm.

Điều 25. – Công nhân hưởngtheo chế độ lương sản phẩm phải chấp hành tốt kỷ luật lao động, phấn đấu nângcao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm và các yêu cầu kỹ thuậttrong sản xuất, bảo quản và sử dụng tốt máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất,tiết kiệm nguyên, vật liệu và bảo đảm an toàn lao động để trên cơ sở hoàn thànhtoàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước mà tăng thêm thu nhập.

Điều 26. – Các đơn vị phảiphổ biến điều lệ này đến các cán bộ công nhân ở các đội, trạm, phân xưởng đểhọc tập thông suốt và thực hiện đầy đủ.

Từng đơn vị có những quy định cụthể để áp dụng chế độ lương sản phẩm được sát hợp với đặc điểm sản xuất từng khâu,từng việc trong đơn vị mình, nhưng không được trái với những quy định trongđiều lệ này.