ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------------

Số: 125/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 06 năm 1987

QUYẾT ĐỊNH

VỀVIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH TẠM THỜI CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ THI HÀNH VIỆC XỬ LÝ TẬPTRUNG CẢI TẠO Ở T.P HỒ CHÍ MINH

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhândân và Ủy ban nhân dân đã được Quốc hội thông qua ngày 30-6-1983 ;
Căn cứ vào Nghị quyết số 49/NQ-TVQH ngày 20-6-1961 của Ủy ban thường vụ Quốchội về việc tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại choxã hội và các Thông tư số 121/CP ngày 9 tháng 8 năm 1961, quyết định số 154/CP ngày 01-10-1973 của Hội đồng Chính phủ, quyết định số 128/TTg ngày 25-2-1978của Thủ tướng Chính phủ ;
Để bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tăng cường công tác đấu tranh phòng và chốngtội phạm, thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự phù hợp với đặc điểm tình hình củaThành phố Hồ Chí Minh ;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp thành phố và sau khi trao đổi với các cơquan liên quan ;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theoquyết định này “Quy định tạm thời các biện pháp cụ thể thi hành việc xử lý tập trungcải tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh” .

Điều 2. Quyết định này cóhiệu lực kể từ ngày 01-5-1987. Bãi bỏ quyết định số 1531/QĐ-UB ngày 25-11-1977 củaỦy ban nhân dân ban hành quy định về việc cải tạo các đối tượng hình sự và tệnạn xã hội trong thành phố.

Điều 3. Các đồng chí ChánhVăn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan, Chủtịch Ủy ban nhân dân quận, huyện chịu trách nhiêm thi hành quyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
K/T CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Lê Quang Chánh

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

CÁCBIỆN PHÁP CỤ THỂ THI HÀNH VIỆC XỬ LÝ TẬP TRUNG CẢI TẠO Ở TP. HỒ CHÍ MINH
(Ban hành kèm theo quyết định số 125/QĐ-UB ngày 16-6-1987của Ủy ban nhân dânthành phố)

Để việc tâp trung giáo dục cải tạoở thành phố thành phố Hồ Chí Minh đúng với tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TVQH ngày 20-6-1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thông tư số 121/CP ngày 20-6-1961và quyết định số 154/CP ngày 01-10-1973 của Hội đồng Chính phủ, quyết định số128/TTg ngày 25-2-1978 của Thủ tướng Chính phủ, chỉ thị số 427/VP-P4 ngày 14-8-1961,thông tư số 03/TT ngày 3-11-1973, chỉ thị số 03/CT-BNV (C16) ngày 25-3-1985 củaBộ nội vụ, phù hợp với Bộ luật hình sự, phù hợp với đặc diểm tình hình củathành phố Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định tạm thờicác biện pháp cụ thể thi hành việc xử lý các đối tượng tập trung giáo dục cảitạo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Chương I.

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1. Tập trung giáo dụccải tạo là biện pháp xử lý hành chánh đặc biệt áp dụng đối với những phần tử cóhành động nguy hại cho xã hội, đã được chánh quyền giáo dục nhiều lần mà khôngsửa chữa nên cần phải cách ly họ với xã hội để quản lý, giáo dục họ thành ngườilương thiện.

Điều 2. Việc tập trung cảitạo phải được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn, đối tượng, thủ tục được quy địnhdưới đây nhằm bảo đảm việc xử lý được thận trọng, chính xác, đúng người, đúngtội, đúng pháp luật.

Điều 3. Các đối tượng phạmpháp hình sự không thuộc diện xử lý bằng biện pháp tập trung giáo dục cải tạomà phải bị xem xét xử lý đúng theo quy định của Bộ luật hình sự.

Chương II.

ĐỐI TƯỢNG PHẢI ĐƯA ĐI TẬP TRUNG CẢI TẠO

Điều 4.Những đối tượng sauđây từ 18 tuổi trở lên đều là những đối tượng phải đưa đi tập trung cải tạo theoquy định của Nghị quyết số 49/NQ-TVQH ngày 20-6-1961 của Ủy ban Thường vụ Quốchội, thông tư 121/CP ngày 9-8-1961, quyết định 154/CP ngày 01-10-1973 của Hộiđồng Chính phủ và quyết định số 128/TTg ngày 25-2-1978 của Thủ tướng Chính phủ.

Đối tượng tập trung giáo dục cảitạo gồm có:

A. Những phần tử phản cáchmạng trước kia, hoặc hiện nay có nhiều tội ác, được Chính phủ khoan hồng, đượcgiáo dục nhiều lần vẫn ngoan cố không chịu cải tạo, có hành động phương hại đếnan ninh chung.

Cụ thể là:

1) Những tên gián điệp, chỉđiểm, mật thám nguy hiểm, những phần tử ngụy quân, ngụy quyền, biệt kích cũhoặc các phần tử cốt cán trong các tổ chức đảng phái phản động.

2) Bọn lợi dụng tôn giáo, bọn phảnđộng trong các tầng lớp văn nghệ sĩ trước đây đã làm tay sai cho địch.

3) Bọn gián điệp, bọn phản động lợidụng đạo tôn giáo, bọn phản động trong các tổ chúc đảng phái phản động đã hếthạn tù, hết hạn tập trung cải tạo nhưng không chịu cải tạo tiến bộ.

B. Những tên lưu manh chuyênnghiệp:

1) Những tên lưu manh đã bị tòa ánxử phạt nhiều lần về các tội: cướp giựt, trộm cắp, lừa đảo, buôn lậu, chứa chấptiêu thụ của gian, bắt cóc tống tiền, không có nghề nghiệp hoặc có nghề nghiệpchỉ để ”ngụy trang nhưng không chịu sửa chữa vẫn có những hành vi phạm phápchưa đến mức truy tố ra tòa án.

2) Những tên tội phạm hình sự đãbị chế độ Mỹ ngụy kết án tù giam, nhưng đã trốn ra sau ngày giải phóng, không cócông ăn việc làm chính đáng, có hành vi phạm pháp nhưng chưa đến mức truy tố ratòa án xét xử.

3) Những tên côn đồ, du đãng, nhữngphần tử ngang ngược luôn luôn gây rối trật tự trị an, tụ tập ăn chơi, đánhnhau, chơi bời đàng điếm, trụy lạc... vi phạm các quy định của Nhà nước về quảnlý trật tự trị an đã hai lần được cơ quan có thẩm quyền giáo dục nhắc nhở xửphạt hành chánh vẫn không chịu sửa chữa.

4) Những đối tượng tệ nạn xã hộinhư: gái điếm chuyên nghiệp, người xì ke ma túy ở các trại cứu tế xã hội hoặc đãbị đưa đi trại bắt buộc lao động nhưng đã trốn trại đến lần thứ hai ra ngoài tiếptục làm nghề cũ, làm ăn phi pháp.

Những gái điếm chuyên nghiệp ở cáctrại nói trên sau khi được trả tự do, không chịu lao động lương thiện, vẫn tiếptục làm nghề cũ.

5) Những người có sức lao động màkhông chịu lao động có hành vị trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, chuyên hành nghề mêtín dị đoan đã bị đưa đi bắt buộc lao động, đã được chính quyền giáo dục cảnhcáo hoặc xử phạt hành chánh nhưng không sửa chữa.

6) Những người có sức lao động nhưngkhông chịu lao động làm ăn chính đáng chuyên đầu cơ, buôn bán hoặc tàng trữhàng cấm, làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả... gây tác hại đến quản lý thịtrường, nhưng mức độ vi phạm nhỏ đã bị cơ quan có thẩm quyền 3 lần xử phạt hànhchánh nhưng không sửa chữa.

7) Những tên có đủ điều kiện để đưađi tập trung giáo dục cải tạo nhưng đã được chiếu cố để lại cải tạo cở địa phươnghoặc những tên bị quản chế nhưng vẫn không tôn trọng pháp luật, có hành vi viphạm ở mức hình sự nhỏ.

8) Những tên lưu manh đã hết hạntù về các tội hình sự, nhưng chịu cải tạo, có những hành vi phạm pháp trong trạimức độ hình sự nhỏ, hoặc sau khi trả tự do lại tiếp tục vi phạm.

Điều 5. Những đối tượng quyđịnh ở điều 4 trong trường hợp sau đây có thể được xét cho tạm hoãn việc thihành quyết định tập trung giáo dục cải tạo trong một thời gian cần thiết:

- Phụ nữ đang có thai hoặc đangnuôi con nhỏ dưới 12 tháng.

- Đang bị bệnh nặng phải điều trị.

- Những người mà gia đình thuộc diệnthương binh liệt sĩ, thuộc diện xét chiếu cố theo chính sách.

- Những đối tượng có nơi cư trú nhấtđịnh ở thành phố, mức độ vi phạm nhẹ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn như vợhoặc chồng con bệnh nặng, chết, là người có trách nhiệm chính lo liệu trong giađình hoặc già yếu đang có bệnh.

Trong thời gian tạm hoãn đương sựphải chịu sự giám sát của chính quyền địa phương và nếu đương sự tỏ ra tiếng bộ,ăn năn hối lỗi thì có thể được xét miễn thi hành quyết định tập trung cải tạo.

Nếu trong thời gian tạm hoãn, đươngsự lại tiếp tục vi phạm thì quyết định tập trung cải tạo phải được thi hànhngay.

Điều 6. Những đối tượng sauđây không thuộc diện xử lý bằng biện pháp tập trung cải tạo:

1) Những phần tử phản cách mạng vàlưu manh chuyên nghiệp quy định ở điều 4, nay lại có hành vi vi phạm pháp luậthình sự thì phải lập hồ sơ truy tô ra tóa án xét xử.

2) Những phần tử phản cách mạng vàbọn tội phạm hình sự mà cơ quan công an đang tiến hành điều tra trinh sát thìphải tiếp tục điều tra để tìm ra âm mưu tổ chức hoạt động của chúng.

Không được dùng biện pháp tập trungcải tạo để giải quyết khi công tác điều tra trinh sát đang tiến hành.

Chương III.

THỦ TỤC XỬ LÝ TẬP TRUNG CẢI TẠO

Điều 7.

1) Công an phường, xã thông qua côngtác quản lý trật tự trị an ở địa phương, qua phát hiện của quần chúng, căn cứtheo tiêu chuẩn quy định ở điêu 4, tiến hành điều tra xác minh lập hồ sơ, danhsách các đối tượng cần đưa đi tập trung cải tạo để Ủy ban nhân dân phường, xãđề nghị lên Ủy ban nhân dân quận, huyện xét duyệt.

2) Công an quận, huyện, qua côngtác quản lý trật tự trị an, căn cứ theo tiêu chuẩn quy định tự mình lập hồ sơ cácđối tượng hoặc xem xét các hồ sơ do Ủy ban nhân dân phường, xã chuyển lên, tiếnhành điều tra xác minh, thu thập đầy đủ tài liệu và báo cáo với Chủ tịch Ủy bannhân dân quận, huyện sơ duyệt và đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố (thông quaCông an thành phố) đối tượng cần đưa đi tập trung cải tạo.

3) Sau khi nhận được hồ sơ của cácđối tượng và đề nghị của Ủy ban nhân dân quận, huyện, Giám đốc Công an thànhphố kiểm tra lại toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đối chiếu các tiêuchuẩn và làm văn bản kèm theo hồ sơ của từng đối tượng đề nghị Ủy ban nhân dânthành phố xét duyệt chính thức.

4) Ủy ban nhân dân thành phố xéthồ sơ của từng đối tượng cần đưa đi tập trung cải tạo và đề nghị Bộ Nội vụ phê duyệt.

Sau khi có sự duyệt y của Bộ nộivụ, Công an thành phố trình Ủy ban nhân dân thành phố ký quyết định tập trung cảitạo.

Điều 8. Hồ sơ của từng đốitượng đưa lên Ủy ban nhân dân thành phố xét duyệt đưa đi tập trung cải tạo phảicó các giấy tở sau:

1) Bản tóm tắt lý lịch của đươngsự.

2) Những tài liệu, chứng minh hànhvi phạm pháp quá khứ và hiện tại của đương sự.

Tài liệu thu thập phải đầy đủ,chính xác.

3) Bản kiến nghị của đoàn thể quầnchúng ở cơ sở về đối tượng tập trung cải tạo (nếu có).

4) Công văn của Ủy ban nhân dân huyệnvà của Công an thành phố đề nghị đưa các đối tượng đi tập trung cải tạo.

Cần ghi rõ thời gian tập trung giáodục cải tạo kể từ ngày nào. Nếu đề nghị gia hạn tập trung giáo dục cải tạo cũngcần ghi rõ kể từ thời gian nào và lý do xin gia hạn, gia hạn lần thứ mấy.

Điều 9. Ủy ban nhân dân thànhphố:

- Xét và quyết định việc tập trungcải tạo cho các đối tượng căn cứ đề nghị của Công an thành phố.

- Xét và quyết định đưa đi tập trungcải tạo những phạm nhân thuộc các đối tượng nêu ở điều 4 đang thi hành án tù vàsắp hết hạn tù nhưng chưa chịu cải tạo.

- Xét và quyết định những trườnghợp cần gia hạn tập trung cải tạo, rút ngắn thời gian tập trung cải tạo.

- Quyết định việc hoãn hoặc miễnthi hành quyết định tập trung cải tạo trường hợp quy định ở điều 5

Điều 10.

1) Chỉ được bắt các đối tượng đưađi tập trung cải tạo sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố.

Nghiêm cấm việc bắt người đưa đitập trung cải tạo trước rồi mới tiến hành làm thủ tục hồ sơ hợp thức hóa sau.

2) Trường hợp những người phạm phápđã bị bắt, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, họ đúng tiêu chuẩnphải đưa đi tập trung cải tạo nhưng không có nơi thường trú ở thành phố, nếutrả tự do có khả năng trốn thì Công an thành phố để lưu trại, báo cho Viện kiểmsát nhân dân biết đồng thời khẩn trương lập thủ tục hồ sơ trong thời hạn chậmnhất là 10 ngày sau khi có quyết định miễn tố của Viện kiểm sát nhân dân thànhphố và trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.

Điều 11.

1) Những người bị coi như phạm pháphình sự và bị bắt giam nhưng được Viện kiểm sát miễn tố thì phải được trả tựdo.

Nếu đương sự thuộc diện phải đưađi tập trung cải tạo thì cơ quan công an phả tiến hành làm thủ tục để đề nghị Ủyban nhân dân thành phố theo quy định ở điều 7, 8.

Nghiêm cấm việc tiếp tục giam giữngười được Viện kiểm sát nhân dân miễn tố, hoặc căn cứ quyết định miễn tố củaViện kiểm sát nhân dân để xử lý tập trung cải tạo mà không qua thủ tục quy định.

2) Trường hợp đối tượng không nơicư trú nhất định thì áp dụng theo điều 10, điểm 2.

Trường hợp này, nếu hồ sơ đưa đốitượng đi tập trung cải tạo được Ủy ban nhân dân thành phố duyện thì thời giantập trung cải tạo được tính từ ngày bị bắt.

Trường hợp hồ sơ không được Ủy bannhân dân thành phố duyệt thì phải trả tự do ngay cho đương sự

Điều 12.

Công an quận, huyện có trách nhiệmthi hành quyết định đưa đối tượng đi tập trung cải tạo.

Quyết định tập trung cải tạo phảiđược công bố cho đương sự và gia đình đương sự có sự chứng kiến của đại diệnchính quyền cơ sở. Phải giải thích lý do việc đưa đối tượng đi tập trung cảitao cho bản và gia đình đối tượng.

Không được khám xét, thu giữ tàisản của người bị tập trung cải tạo.

Khi có quyết định tập trung cải tạocủa Ủy ban nhân dân thành phố, cơ quan công an làm thủ tục cắt hộ khẩu của đươngsự và chuyển đến trại cải tạo. Khi đưa đối tượng vào trại cải tạo phải kèm theohồ sơ và quyết định tập trung cải tạo.

Điều 13. Người bị đưa đi tậptrung cải tạo hoặc gia đình thân nhân của đương sự nếu thấy việc xử lý tập trungcải tạo không đúng có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố, Ủyban thanh tra hoặc Ủy ban nhân dân thành phố. Đơn khiếu nại của đương sự phảiđược khẩn trương xét và giải quyết chậm nhất không quá thời hạn 30 ngày.

Trong khi chờ đợi cơ quan có thẩmquyền giải quyết, đương sự vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định tập trungcải tạo. Việc trả lời đơn khiếu nại được thông báo cho trại cải tạo và đương sựbiết thi hành.

Chương IV.

VIỆC RÚT NGẮN VÀ GIA HẠN THỜI GIAN TẬP TRUNG CẢI TẠO

Điều 14. Thời hạn tập trungcải tạo là ba năm (03 năm). Những người hết hạn tập trung cải tạo phải được trảtự do đúng thời hạn.

Căn cứ báo cáo của Ban Giám thị trạicải tạo, Giám đốc Công an ký giấy tha và giới thiệu đương sự về địa phương,đồng thời báo cáo cho Ủy ban nhân dân thành phố.

Điều 15.

1) Những trường hợp sau đây đượcxét cho về trước thời hạn:

- Những người cải tạo tốt: chấp hànhtốt nội qui của trại, trong quá trình cải tạo đã lập nhiều thành tích trong laođộng sản xuất.

- Người già yếu hoặc đang bệnh nặng.

- Người có hoàn cảnh gia đình khókhăn cần chiếu cố như: vợ, chồng, con cái ốm nặng, chết.

2) Thời hạn tập trung cải tạo cóthể kéo dài đối với những đối tượng đặc biệt nguy hiểm, trong quá trình cải tạokhông tiến bộ, vi phạm nghiêm trọng nội qui, kỷ luật trại.

Điều 16. Việc rút ngắn hoặcgia hạn thời gian tập trung cải tạo do Ủy ban nhân dân thành phố quyết địnhđịnh theo đề nghị của Giám đốc Công an thành phố, căn cứ vào nhận xét của BanGiám thị trại cải tạo đối với từng trường hợp.

Ban Giám thị trại cải tạo phải tổchức tốt việc lưu giữ hồ sơ của từng đối tượng, thường xuyên có nhận xét đánhgiá kết quả học tập và phân loại từng đối tượng để giải quyết kịp thời thủ tụctha về đúng hạn, rút ngắn hoặc gia hạn thời gian tập trung cải tạo.

Trong mọi trường hợp, nghiêm cấmtiếp tục giữ người bị tập trung cải tạo đã hết hạn tập trung cải tạo nếu không cóquyết định gia hạn tập trung cải tạo của Ủy ban nhân dân thành phố.

Điều 17. Trường hợp ngườitập trung cải tạo học tập tốt, có đủ điều kiện để được tha về (đúng hạn hoặc trướcthời hạn), nhưng không biết tha về đâu, không có địa chỉ rõ ràng, không còn giađình hoặc xét không thể đưa về địa phương cũ vì lý do an ninh trật tự chung thìtrước khi có lệnh tha, cơ quan công an cùng các ngành có liên quan xác định nơicư trú trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định bắt buộc cư trú.

Vấn đề này phải được ngành Công anchuẩn bị trước, cấm không được vì đương sự không có địa chỉ rõ ràng, không nêncho về địa chỉ cũ mà tiếp tục giữ lại trại cải tạo.

Điều 18.Đối với những têntội phạm hình sự đặc biệc nguy hiểm không có nơi cư trú nhất định, hoạt độnglưu động đã bị kết án như: cướp của, tên cầm đầu băng ổ có sử dụng vũ khí, giếtngười với tình tiết nghiêm trọng đã hết thời hạn ở tù hoặc hết thời hạn tậptrung cải tạo vẫn không chịu cải tạo, có những biểu hiện hành vi vi phạm nhưngchưa đến mức truy tố ra tòa án, nếu tha về sẽ gây nguy hiểm cho an ninh xã hộithì cơ quan công an lập hồ sơ danh sách báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố đềnghị Bộ nội vụ duyệt đưa đi tập trung cải tạo dải hạn theo quyết định số 128/TTgngày 25-2-1978 của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 19. Đối với các đối tượngbị tập trung cải tạo có hành vi phạm tội hình sự ở trại (như: đâm người thànhthương tích, giết người, ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa…) hoặc đã phạm tộihình sự trước đây nay mới bị phát hiện thì phải lập hồ sơ truy tố ra tòa án xétxử theo đúng Bộ Luật hình sự, không gia hạn thời gian tập trung cải tạo hoặcđưa đi tập trung cải tạo dài hạn.

Chương V.

CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ ĐƯA ĐI TẬP TRUNG CẢI TẠO

Điều 20.Những người đượcđưa đi tập trung cải tạo không bị coi như những phạm nhân bị án tù và được hưởngmột chế độ về lao động, học tập, ăn ở và gởi thư về thăm gia đình, hoặc giađình đến thăm theo quy định trong Nghị quyết số 49/NQ-TVQH ngày 20-6-1961 củaỦy ban Thường vụ Quốc Hội đồng nhân dânội và thông tư số 121/CP ngày 9-8-1961của Hội đồng Chính phủ.

Trong thời gian cải tạo, người bịtập trung cải tạo phải tuân theo kỷ luật, qui chế của trại giáo dục cải tạo vàkhông được hưởng một số quyền công dân theo quy định của pháp luật.

Nếu vi phạm kỷ luật của trại thìtùy theo tính chất mức độ của vi phạm nhẹ hay nặng mà bị xử lý theo kỷ luận trại,xét kéo dài thời gian tập trung cải tạo hoặc truy tố ra tòa án xét xử.

Điều 21. Khi hết hạn tập trungcải tạo và được trả tự do, người bị tập trung cải tạo đương nhiên được phục hồiquyền công dân. Địa phương nơi họ được tha về phải giải quyết hộ khẩu cho họtheo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố và có trách nhiệm giúp đỡ họ ổnđịnh cuộc sống.

Chương VI.

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 22.

1) Để bảo đảm thực hiện quy địnhnày, Ủy ban nhân dân quận huyện, phường xã (thông qua công an quận, huyện, phườngxã) nắm chắc các đối tượng quy định ở điều 4 trong địa phương mình:

- Chỉ đạo công an phường, xã, quận,huyện làm tốt khâu phân loại và xử lý kịp thời các vụ phạm pháp ở cơ sở theothông tư 01/TTLN ngày 27-3-1980 của Liên ngành Bộ nội vụ - Viện kiểm sát nhândân thành phố, tăng cường nhắc nhở, giáo dục xửa phạt hành chánh theo thẩm quyềnquy định.

- Điều tra, xác minh lập hồ sơ, danhsách các đối tượng phải đưa đi tập trung cải tạo để đề nghị lên Ủy ban nhân dânthành phố.

- Giúp đỡ tạo điều kiện cho ngườitập trung cải tạo được tha về ổn định cuộc sống.

2) Công an thành phố có trách nhiệmhướng dẫn nghiệp vụ cho công an các cấp trong công tác sưu tra, thu thập hồ sơtừng đối tượng trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp xét.

Công an thành phố chịu trách nhiệmsưu tra tập hợp nghiên cứu, xác minh… các đề nghị đưa đi tập trung cải tạo củaquận huyện và các đơn vị trực thuộc trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét.

Bảo đảm chất lượng hồ sơ và thủ tụcquy định.

Giám đốc Công an thành phố chịu tráchnhiệm chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra đôn đốc công an các cấp thực hiện bản quyđịnh này và chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân thành phố về công tác xử lýtập trung cải tạo ; Thường xuyên phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phốtrong xét duyệt xử lý tập trung cải tạo và tiến hành kiểm tra, kiểm soát cáctrại cải tạo.

3) Ban Giám thị trại cải tạo chịutrách nhiêm tổ chức quản lý giáo dục cải tạo các đối tượng theo đúng các quyđịnh của Nhà nước tổ chức quản lý tốt việc theo dõi nhận xét quá trình học tậpcủa các đối tượng làm cơ sở cho việc xét rút ngắn hoặc kéo dài thời hạn tập trungcải tạo đúng chính sách, đúng pháp luật.

Điều 23.Những người có tráchnhiệm thi hành quy định về công tác xử lý tập trung cải tạo, nếu vi phạm mộthoặc các trường hợp sau đây tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị thi hànhkỷ luật hành chánh theo Nghị định số 217/CP ngày 8-6-1979 của Hội đồng Chínhphủ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

1) Vì cảm tình, nể nang hoặc nhậnhối lộ, che chở cho các đối tượng quy định ở điều 4 không bị xử lý tập trungcải tạo.

2) Vì thành kiến cá nhân hoặc lợidụng chức vụ quyền hạn cố ý đề nghị sai đối tượng bị đưa đi tập trung cải tạo,hoặc nhận xét sai về kết quả lao động, học tập cải tạo dẫn đến chỗ kéo dài thờihạn tâp trung cải tạo không đúng chế độ quy định.

3) Đưa đối tượng đi tập trung cảitạo mà không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền, hoặc tiếp tục giữ ngườibị tập trung cải tạo quá thời hạn không đúng chế độ quy định.

Điều 24. Ủy ban nhân dân quận,huyện có trách nhiệm chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra công an quận, huyện thựchiện quy định này, và kịp thơi uốn nắn sửa chữa lệch lạc của cán bộ công nhânviên, đảm bảo đề nghị tập trung cải tạo chính xác, đúng đối tượng và đúng thủtục quy định.

Điều 25. Sở Tư pháp thànhphố phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân thành phố theo dõi việc thực hiệnquy định này, kịp thời báo cáo và kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố nhữngvấn đề cần uốn nắn, sửa đổi, bổ sung.