ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 13/2005/QĐ-UB

Vị Thanh, ngày 14 tháng 4 năm 2005

QUYẾT ĐỊNH

V/V BAN HÀNH QUY CHẾ LẬP QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 16/12/2002;

Căn cứ Pháp lệnh phí và lệ phí ngày 28/8/2001 của ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí;

Căn cứ Nghị quyết số 14/2004/NQ .HĐND ngày 09/12/2004 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hậu Giang;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính và Giám đốc Sở Tư pháp,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay, ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế về lập Quỹ phòng, chống lụt, bão tỉnh Hậu Giang.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế Quyết định số 1699/QĐ .UBT.97 ngày 15/7/1997 của ủy ban nhân dân tỉnh cần Thơ V/v ban hành Quy chế lập Quỹ phòng, chống lụt, bão tỉnh cần Thơ và các văn bản trước đây trái với Quyết định này đều không có hiệu lực thi hành.

Điều 3. Giao Trưởng Ban Chỉ huy phòng, chống lụt bão tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Tài chính và Cục Trưởng Cục thuế Hậu Giang hướng dẫn thi hành Quyết định này.

Điều 4. Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban chỉ huy phòng, chống lụt bão tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giám đốc Sở Tài chính, Cục trưởng Cục Thuế Hậu Giang, Thủ Trưởng các Sở, Ban, ngành, Đoàn thể của tỉnh, các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, Chủ tịch UBND thị xã Vị Thanh và các huyện, các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
- Như điều 4
- TT, TU, HĐND, UBND tỉnh
- Bộ tài chính
- Tổng cục thuế
- Cục kiểm tra văn bản – BTP
- Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão tỉnh, huyện, xã
- Các cơ quan Báo, Đài
- Phòng VBTT – Sở Tư pháp
- Lưu VP (4, LT)

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Sầm Trung Việt

QUY CHẾ

V/V LẬP QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẬU GIANG
(Ban hành kèm theo Quyết định số: 13/2005/QĐ-UB ND ngày 14 tháng 4 năm 2005 củaUBND tỉnh Hậu Giang)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phòng chống thiên tai, lụt bão, bảo vệ sản xuất, tài sản và tính mạng con người là trách nhiệm của toàn dân. Việc thành lập "Quỹ phòng chống, lụt, bão" là trách nhiệm của các cấp, các ngành và là nghĩa vụ của mỗi người dân.

Điều 2. Quỹ phòng chống lụt, bão do các tổ chức và cá nhân cư trú tại địa bàn tỉnh Hậu Giang có trách nhiệm đóng góp hàng năm.

Quỹ phòng chống lụt, bão tiếp nhận mọi khoản tự nguyện ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.

Điều 3. Quỹ phòng chống lụt, bão chỉ được sử dụng vào những công việc cần thiết nhằm phục vụ cho công tác phòng chống lụt, bão và cứu trợ thiên tai, khắc phục hậu quả do lụt, bão gây ra.

Nghiêm cấm việc sử dụng Quỹ sai mục đích dưới bất cứ hình thức nào.

Điều 4. Quỹ phòng chống lụt, bão do Chủ tịch UBND tỉnh chịu trách nhiệm điều hành và là chủ tài khoản của Quỹ này (hoặc uỷ nhiệm cho 1 đồng chí trong ƯBND tỉnh phụ trách Trưởng Ban Chỉ huy phòng chống lụt, bão tỉnh) để sử dụng tại địa bàn tỉnh và trợ giúp các địa phương khác khi có lụt, bão xảy ra. Quỹ chịu sự quản lý Nhà nước về tài chính. Quỹ được mở tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước tỉnh.

- Tồn quỹ cuối năm được luân chuyển sang năm sau.

- Việc lập, huy động, sử dụng và quản lý Quỹ phòng chống lụt, bão tỉnh được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh về kế toán và thống kê, cũng như các quy định tại quy chế này.

Chương II

ĐỐI TƯỢNG VÀ MỨC ĐÓNG GÓP QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO

Điều 5. Các đối tượng sau đây có trách nhiệm đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão

1. Công dân Việt Nam cư trú trên địa bàn tỉnh Hậu Giang: nam đủ 18 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 55 tuổi.

2. Mọi tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài đóng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Điều 6. Các đối tượng sau đây được miễn, tạm hoãn đóng góp Quỹ, phòng, chống lụt, bão

1. Đối tượng được min đóng góp:

a. Thương binh, bệnh binh và những người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh.

b. Cha, mẹ. vợ hoặc chồng của liệt sĩ.

c. Quân nhân làm nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang đang hưởng phụ cấp sinh hoạt phí.

d. Sinh viên, học sinh đang theo học tập trung dài hạn trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học và dạy nghề.

đ. Người bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên.

e. Các thành viên hộ gia đình nằm trong diện xóa đói giảm nghèo; hộ gia đình ở vùng sâu. vùng kinh tế mới thuộc diện miễn nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.

f. Các doanh nghiệp công ích và các hp tác xã nông nghiệp.

2. Đối tượng được tạm hoãn đóng góp:

a. Các thành viên hộ gia đình nông thôn ở vùng bị thiên tai, mất mùa nếu được miễn nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.

b. Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế gặp khó khăn do thiên tai. hoả hoạn, được cơ quan thuế xét miễn, giảm thuế.

Điều 7. Thẩm quyền quyết định miễn, tạm hoãn và thời hạn được miễn, tạm hoãn.

1. Thm quyền quyết định min, tạm hoãn:

a. Chủ tịch UBND tỉnh và các huyện quyết định việc miễn, tạm hoãn đối với các đối tượng quy định tại khoản 1 và điểm a, khoản 2, Điều 6 của bản Quy chế này.

b. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định việc miễn, tạm hoãn đối với các đối tượng quy định tại điểm b. khoản 2, Điều 6 của bản quy chế này.

2. Thời hạn miễn, tạm hoãn:

Việc xét miễn, tạm hoãn được tiến hành mỗi năm một lần vào thời điểm giao chi tiêu thu quỹ. Trường hợp đối tượng đã đóng góp tiền nộp vào quỹ, nay được xét tạm hoãn thì số tiền đã nộp được trừ vào số tiền đóng góp của năm sau.

Điều 8. Mức đóng góp quỹ phòng chống lụt, bão hàng năm được quy định như sau:

- Lao động nông nghiệp (nam 18- hết 60 tuổi, nữ 18- hết 55 tuổi) mức thu 2.000đ/người/năm.

- Lao động phi nông nghiệp mức thu 3.000đ/người/năm.

- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế:

+ Doanh nghiệp Nhà nước mức thu 500.000đ/DN/năm.

+ Công ty TNHH, Công ty cổ phần (vốn trên 5 tỷ) mức thu 500.000đ/DN/năm.

+ Công ty TNHH, Công ty cổ phần (vốn dưới 5 tỷ) mức thu 300.000đ/DN/năm.

+ Doanh nghiệp tư nhân, các Chi nhánh phụ thuộc Công ty mức thu 200.000đ/DN/năm.

+ Các Hợp tác xã, Hộ kinh tế cá thể mức thu 50.000đ/DN/năm.

Những người trong đối tượng thu hoặc hộ gia đình có khả năng và tự nguyện đóng góp cao hơn mức quy định thì Nhà nước khuyến khích và chấp nhận số tiền đã đóng góp.

Chương III

THU NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG QUỸ PHÒNG, CHỐNG LỤT, BÃO

Điều 9. Trước ngày 15 tháng 01 hàng năm, UBND tỉnh sẽ giao chỉ tiêu thu Quỹ phòng, chống lụt, bão cho UBND TX Vị Thanh và các huyện (sau đây gọi chung là huyện). Từ đó, UBND cấp huyện phân bổ chỉ tiêu cho cấp xã, phường, thị trấn.

UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) lập danh sách đối tượng thu có mặt đến ngày 01 tháng 01 hàng năm và tổng mức thu báo cáo huyện xét duyệt.

- Khi huyện có thông báo kết quả xét duyệt, UBND xã tổ chức thu tại từng cơ quan xí nghiệp, đơn vị cơ sở và từng hộ gia đình trong phạm vi địa bàn quản lý.

- Nếu là cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên đang công tác tại cơ quan, đơn vị thì UBND xã ủy nhiệm cho cơ quan đơn vị thu nộp.

- Nếu là thành viên hộ gia đình thì xã phối hợp cùng tổ dân phố đến thu tại hộ.

- Mỗi năm thu 01 lần vào quý II và tập trung dứt điểm trong tháng 6. Xã có trách nhiệm đăng nộp đầy đủ số tiền thu được vào Quỹ phòng, chống lụt, bão của huyện, tài khoản mở tại Kho bạc Nhà Nước ở địa phương, hàng tháng xã phải quyết toán lai thu với Phòng Tài chính huyện.

- Ngành tài chính chịu trách nhiệm phát hành biên lai thống nhất để sử dụng riêng cho việc thu quỹ phòng, chống lụt, bão; không được dùng biên lai thu tạm hoặc biên nhận để thu Quỹ phòng, chông lụt, bão.

- Tiền quỹ thu được và mọi khoản tự nguyện ủng hộ về phòng, chống lụt, bão của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phải nộp vào "Tài khoản phòng, chống lụt, bão" mở tại Kho bạc Nhà nước ở địa phương.

Điều 10. Quỹ phòng, chống lụt, bão được phân bổ như sau:

1. 60% trên tổng số thu nộp vào Quỹ phòng, chống lụt, bão tỉnh.

2. 40% trên tổng số thu nộp vào Quỹ phòng, chống lụt, bão huyện để quản lý và sử dụng, trong đó trích 5% trên tổng số thu để trả thù lao cho những người trực tiếp đi thu ở xã.

Điều 11. Quỹ phòng chống lụt, bão được sử dụng theo Quy định tại Điều 29 của Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão và Điều 14 của Nghị định 50/CP ngày 10/5/1997 của Chính phủ cụ thể như sau:

- Chi cho hoạt động công tác phòng, chông, lụt bão hàng năm và mua sắm trang thiết bị cần thiết cho việc cứu hộ, cứu trợ người bị nạn do lụt, bão gây ra.

- Sửa chữa, xây dựng, nâng cấp công trình trang thiết bị kỹ thuật cho công tác dự báo và chỉ đạo, chỉ huy về phòng, chống lụt, bão .

- Cứu hộ người và tài sản, cứu hộ công trình bị sự cdo lụt, bão gây ra.

- Diễn tập các phương án phòng, chống lụt, bão.

- Tập huấn cho các đối tượng tham gia hộ đê.

- Tuần tra canh gác đê trong mùa mưa bão.

- Hỗ trợ xử lý sự cố đê điều.

- Hỗ trợ tu sửa trường học, bệnh viện, trạm xá và các công trình công cộng khác ở địa phương để khắc phục hậu quả do lụt, bão gây ra.

- Khắc phục hậu quả lụt, bão.

Điều 12. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định mức hỗ trợ để khắc phục hậu quả; quyết định điều động Quỹ phòng, chống, lụt bão, từ huyện này sang huyện khác và trích Quỹ hỗ trợ cho địa phương khác để khắc phục hậu quả lụt, bão.

Điều 13. Ban Chỉ huy phòng chống lụt, bão các cấp phải báo cáo kết quả thu và lập dự toán chi trong năm trình UBND cùng cấp xét duyệt vào cuối quý I hàng năm.

Chương IV

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 14. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc xây dựng, quản lý và đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà Nước.

- Cá nhân không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đóng góp Quỹ phòng, chống lụt, bão thì phải truy nộp theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức không thực hiện đóng góp quỹ theo đúng quy định pháp luật thì cơ quan thu quỹ đề nghị với Kho bạc Nhà nước ở địa phương ct chuyn kinh phí từ tài khoản của tổ chức đó vào tài khoản Quỹ phòng, chng lụt, bão của địa phương.

Điều 15. Người được giao nhiệm vụ thu, quản lý và sử dụng quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương mà vi phạm các quy định của Quy chế này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật./.