ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 14 tháng 7 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt Đề án giao rừng và đất lâm nghiệp

rừng phòng hộ ven biển tỉnh Bạc Liêu

_______________________

CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật đất đai năm 2003;

Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;

Căn cứ Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;

Căn cứ Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn;

Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại tờ trình số 106/TTr-SNN ngày 24/6/2008,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án giao rừng và đất lâm nghiệp rừng phòng hộ ven biển tỉnh Bạc Liêu (có Đề án kèm theo).

Điều 2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban, Ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thị ven biển và các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức triển khai, thực hiện Đề án này.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị ven biển và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành. 

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Nguyễn Hoài Bão

ĐỀ ÁN

GIAO RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN TỈNH BẠC LIÊU

(Kèm theo Quyết định số: 1450/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2008

của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh)

Phần thứ nhất

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG

VÀ SỬ DỤNG RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN THỜI GIAN QUA

I. THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG PHÒNG HỘ:

1. Quy mô diện tích:

Rừng phòng hộ tỉnh Bạc Liêu là dãi rừng tập trung ven biển Đông, với chiều dài trên 54 km, từ giáp với tỉnh Sóc Trăng đến cửa sông Gành Hào giáp tỉnh Cà Mau, thuộc địa bàn của thị xã Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và huyện Đông Hải.

Theo báo cáo rà soát quy hoạch 03 loại rừng tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 đã được phê duyệt, diện tích rừng phòng hộ ven biển được quy hoạch từ đê biển Bạc Liêu ra tới biển Đông là 4.698,2 ha, bao gồm: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện có là 4.284,7 ha, diện tích đất bãi bồi quy hoạch phát triển rừng là 413,5 ha.

2. Thành phần, trữ lượng rừng:

Rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu chủ yếu là rừng non chưa có trữ lượng, đặc trưng của rừng phòng hộ tỉnh Bạc liêu là hệ sinh thái rừng ngập mặn, có khoảng 32 loài cây ngập mặn chính thức và 32 loài tham gia sinh sống. Thực vật rừng gồm có: Đước đôi (Rhizophora apiculata), Mấm trắng (Avencia appa), Dà (Ceriop tagal), Cóc trắng (Lumnizera racemora), Mấm đen (Avicennia offcinalis), Giá (Ecoecaria agallocha), Dừa nước (Nipa fructicars), Tra (Thespesia populnea), Phi lao (Casuarina equisetifolia) …Loài cây thích nghi, phát triển tốt, chức năng phòng hộ cao là Đước, Phi lao, Cóc; loài cây phát triển chậm là Tra, Dà; các loài động vật dưới tán rừng khá phong phú và đa dạng như: Chim, Ong, Chồn, Rắn, Vọp, Sò, Ba khía, Còng, Nghêu, Chem chép, các loại Ốc, Tôm, Cá …

II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ VEN BIỂN TRONG THỜI GIAN QUA:

1. Giai đoạn trước năm 1990:

Rừng phòng hộ ven biển chưa có Ban quản lý mà do Phòng Nông nghiệp các huyện, thị quản lý, do đó việc quản lý, bảo vệ rừng chưa được quan tâm đúng mức, nên việc quản lý, sử dụng rừng và đất Lâm nghiệp chưa đúng theo quy định.

2. Giai đoạn năm 1991 - 1996:

- Năm 1991: Tỉnh Minh Hải thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ theo từng huyện, thị nhưng công tác quản lý, bảo vệ rừng chưa hiệu quả, rừng vẫn bị chặt phá, lấn chiếm, công tác phát triển rừng chưa được quan tâm đúng mức.

- Năm 1992: Các Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển thuộc các huyện, thị được ghép lại thành Ban quản lý rừng phòng hộ biển Đông và đai rừng phòng hộ biển Đông được xác lập theo Quyết định số 413/QĐ-LN năm 1992 của Bộ Lâm nghiệp.

- Năm 1995 - 1996: Thực hiện chủ trương của Chính phủ về giao khoán đất Lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nhận Hợp đồng giao khoán vào mục đích lâm nghiệp (Nghị định số 01/NĐ-CP ngày 01/01/1995 của Chính phủ ban hành bản quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản). Ủy ban nhân dân tỉnh Minh Hải đã quyết định giao chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp cho Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu, huyện Hòa Bình (huyện Vĩnh Lợi cũ), huyện Đông Hải (huyện Giá Rai cũ) tiến hành hợp đồng giao khoán cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và kể cả hợp thức hóa đối với các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự bao chiếm trước đây trên địa bàn huyện Giá Rai (nay là huyện Đông Hải).

3. Giai đoạn từ năm 1997 đến nay:

- Rừng phòng hộ ven biển Đông được giao cho Chi cục Kiểm lâm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức bộ máy lực lượng Kiểm lâm gồm 48 người, 03 phòng chức năng tại Chi cục, 01 Trạm Phúc kiểm Lâm sản, 01 Đội Kiểm lâm cơ động và 01 Hạt Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ biển Đông, trong đó có 08 Trạm Kiểm lâm và 01 Tổ Kiểm lâm cơ động. Từ năm 1997 đến nay, tỉnh triển khai thực hiện dự án 661, WB2 đã thực hiện trồng mới 1.273 ha tại khu vực rừng phòng hộ; loài cây rừng được trồng chủ yếu như: Đước, Tra, Cóc, Phi lao, Dà, Me, Mấm...

- Công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ thời gian qua được thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ rừng vẫn xảy ra khá phức tạp, các vụ vi phạm từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2007 đã có 832 vụ vi phạm, chủ yếu là vi pham các hành vi về quản lý rừng, bảo vệ rừng, vận chuyển lâm sản và động vật hoang dã trái phép; thu phạt hành chính 7907.881.000 đồng, Thu phát mãi lâm sản 315.142.000 đồng, điều này cho thấy áp lực bất lợi đối với rừng phòng hộ còn khá bất cập và phức tạp.

- Chi cục kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền địa phương và ngành chức năng tiến hành rà soát các hợp đồng đã giao khoán đất lâm nghiệp của tổ chức và hộ cá thể trước đây. Sau đó Chi cục Kiểm lâm đã tiến hành cấp lại sổ mới (sổ xanh) hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.

- Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (trường hợp không có diện tích rừng phòng hộ rất xung yếu), diện tích nhận khoán từ 1,6 ha đến 23,8 ha/hộ.

- Đối với hộ gia đình, cá nhân nhận hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng (trường hợp có diện tích rừng phòng hộ rất xung yếu), diện tích nhận khoán từ 2,3 ha đến 37 ha/hộ.

- Tính đến cuối năm 2006, đã thực hiện hợp đồng giao khoán cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nhận khoán (09 tổ chức tập thể và 304 hộ gia đình, cá nhân) với tổng diện tích 3.718 ha (diện tích kết hợp sản xuất là 1.574 ha), trong đó:

+ Thị xã Bạc Liêu 09 hợp đồng.

+ Huyện Hòa Bình 7875 hợp đồng.

+ Huyện Đông Hải 93 hợp đồng.

- Khu vực diện tích rừng phòng hộ xung yếu cấm tác động, không giao khoán là 537 ha.

- Việc giao khoán được thực hiện theo hợp đồng, quy định trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các bên giao và nhận khoán, có hệ thống các Trạm kiểm lâm quản lý trực tiếp và kiểm tra, hướng dẫn, ngăn chặn vi phạm xâm hại đến rừng; thường xuyên kết hợp với chính quyền địa phương kiểm tra, quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm.

- Nhìn chung các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình nhận khoán đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất nuôi trồng thủy sản kết hợp đem lại hiệu qua kinh tế cao.

- Tổng số hộ dân cư trú trên lâm phần: 588 hộ (2.873 khẩu), trong đó:

+ Hộ dân hợp đồng nhận giao khoán đất lâm nghiệp: 304 hộ (1.515 nhân khẩu), nhiều hộ nhận khoán thực hiện theo mô hình lâm - ngư kết hợp bước đầu đã tạo được thu nhập, khuyến khích người nhận khoán tích cực bảo vệ rừng. Nhìn chung, việc thực hiện Hợp đồng giao khoán đất Lâm nghiệp được thực hiện khá tốt.

+ 09 tổ chức nhận khoán: 27 nhân khẩu.

+ Hộ dân cư trú tự do trên lâm phần: 275 hộ (1.331 khẩu), sinh sống chủ yếu bằng buôn bán nhỏ, làm mướn, đánh bắt cá tôm, nghêu, sò ven biển, áp lực phá rừng cực kỳ lớn, cuộc sống rất khó khăn.

- Năm 2006 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 12/01/2006 phê duyệt phương án quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010. Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức phổ biến rộng rãi và triển khai thực hiện phương án này. Đánh giá qua hơn một năm thực hiện phương án công tác quản lý nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đã được thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, tình trạng một số hộ dân vì lợi ích kinh tế trước mắt, đã ứ nước trong khu sản xuất kết hợp để nuôi tôm làm chết cây rừng của hộ này, đây là hành vi vi phạm vào các điều khoản trong Hợp đồng nhận khoán. Mặc dù Chi cục Kiểm lâm đã tăng cường lực lượng, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra và xử lý nghiêm hành vi vi phạm bằng biện pháp hành chính, nhưng do áp lực về lợi ích kinh tế trong nuôi trồng thủy sản, nên một số hộ vẫn cố tình làm cho tình hình phức tạp thêm và khó kiểm soát.

III. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN:

- Quá trình thực hiện phương án quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng phòng hộ của tỉnh thời gian qua còn khá nhiều vấn đề phức tạp, nổi cộm là vấn đề vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng, quan trọng nữa là đời sống của đại bộ phận người dân gắn với nghề rừng còn thấp so với mặt bằng chung, hàng loạt vấn đề kinh tế kinh tế xã hội khác đang là bức xúc với các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý nhà nước và người dân trực tiếp sinh sống nơi đây.

- Từ trước đến nay, rừng phòng hộ ven biển Bạc Liêu đã qua nhiều cấp quản lý với các hình thức giao khoán, quy mô, đối tượng cũng khác nhau, quá trình thực hiện giao khoán cho chủ rừng chưa làm được bản đồ chính quy giải thửa; hồ sơ giao đất khoán rừng chưa thể hiện loại rừng, hiện trạng rừng và trữ lượng; công tác thống kê, quản lý hồ sơ theo dõi biến động (vì là rừng phòng hộ lấn biển, diện tích sẽ tăng thêm hàng năm), quản lý theo dõi chuyển đổi rừng sang mục đích khác cũng chưa đầy đủ và chưa đúng quy trình, quy định của nhà nước. Quá trình thực hiện giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ trong từng thời kỳ còn có nhiệu bất cập, chồng chéo chức năng, chưa phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp tại địa phương (chức năng kiểm lâm, chức năng quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và chủ rừng), sự thống nhất về cách triển khai thực hiện các chính sách về quản lý bảo vệ rừng ở các địa phương còn khác nhau, thiếu sự đồng bộ về giải pháp quản lý phải đi cùng với đầu tư và các chính sách kinh tế, xã hội khác cho khu vực rừng phòng hộ.

- Việc xây dựng và thực hiện đề án giao rừng phòng hộ ven biển Đông sẽ giải quyết được những hạn chế và những thách thức đang đặt ra đối với ngành lâm nghiệp của tỉnh hiện nay, trên cơ sở giải quyết cơ bản vấn đề từ gốc là Ủy ban nhân dân các cấp sẽ là cơ quan trực tiếp giáo rừng và đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình quản lý, sử dụng ổn định lâu dài theo đúng quy định của Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam, đảm bảo sự quản lý thống nhất về rừng và đất lâm nghiệp trên toàn quốc, đồng thời cũng góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng vùng ven biển của tỉnh.

Phần thứ hai

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC GIAO RỪNG VÀ ĐẤT LÂM NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2008 - 2010

I. Các căn cứ pháp lý:

Đề án giao rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Bạc Liêu được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào các văn bản Nhà nước gồm:

- Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.

- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.

- Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn.

- Quyết định số 2740/QĐ-BNN-KL ngày 20/9/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2007 - 2010.

- Quyết định số 464/QĐ-UBND ngày 23/7/2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Báo cáo rà soát quy hoạch lại 03 loại rừng tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010.

- Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 12/01/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 - 2010.

II. Mục tiêu:

- Xây dựng, bảo vệ và sử dụng rừng một cách có hiệu quả, phát triển kinh tế, xã hội, ổn định, bền vững, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu.

- Rà soát Hợp đồng giao khoán rừng của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng để lập hồ sơ cấp lại Quyết định giao rừng cho chủ rừng để quản lý sử dụng rừng theo quy định nhà nước.

- Lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.

- Rà soát lập thủ tục để tiến hành giao rừng cho diện tích còn lại của khu vực rừng phòng ven biển cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện là chủ rừng theo quy định nhà nước để quản lý, bảo vệ, đảm bảo 100% quỹ diện tích rừng phòng hộ có chủ quản lý (khu vực này chỉ được giao rừng, trước mắt chưa cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp).

III. Nhiệm vụ:

- Rà soát thống kê, phân loại và xác định diện tích rừng đã giao khoán quản lý, bảo vệ để làm căn cứ lập hồ sơ giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đủ điều kiện.

- Đo đạc, lập bản đồ địa chính diện tích rừng theo mục đích sử dụng và tiêu chí phân loại rừng, xác định ranh giới cắm mốc địa chính của từng loại rừng.

- Cân đối quỹ diện tích rừng và đất lâm nghiệp với nhu cầu của các đối tượng nhận rừng, những diện tích rừng đã giao cho các chủ quản lý sử dụng nhưng sử dụng sai mục đích hoặc chưa sử dụng phải tiến hành thu hồi.

IV. Phạm vi và đối tượng áp dụng:

- Rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu được nhà nước thống nhất quản lý và giao cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân làm chủ rừng để quản lý, bảo vệ, phát triển rừng theo quy hoạch và kế hoạch được duyệt.

- Đề án này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng phòng hộ ven biển Đông tỉnh Bạc Liêu.

V. Nguyên tắc giao rừng, thu hồi rừng, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp:

1. Việc giao rừng, cho thuê, thu hồi rừng thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

2. Không giao những diện tích rừng đang có tranh chấp.

3. Việc giao rừng, thu hồi rừng phải có sự tham gia của người dân địa phương và công bố công khai.

VI. Căn cứ, trách nhiệm, điều kiện giao rừng, cho thuê, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp:

1. Căn cứ giao rừng, cho thuê, thu hồi rừng thực hiện theo quy định tại Điều 19 của Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng(sau đây viết tắt là Nghị định 23/2006/NĐ-CP ), trách nhiệm giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng quy định tại Điều 30, nghị định số 23/2006/NĐ-CP.

2. Quy hoạch 03 loại rừng tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010.

3. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có khả năng để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

VII. Trình tự thủ tục giao rừng:

1. Thẩm quyền giao rừng và đất lâm nghiệp:

a. Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định giao rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức.

b. Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị quyết định giao rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân.

2. Đối tượng được giao rừng và đất lâm nghiệp, thời hạn giao rừng và đất lâm nghiệp:

- Đối tượng được giao rừng và đất lâm nghiệp thuộc đề án này là các tổ chức, cá nhân đang thực hiện hợp đồng giao khoán rừng phòng hộ với Chi cục Kiểm lâm Bạc Liêu.

- Thời hạn giao rừng và đất lâm nghiệp đối với rừng phòng hộ ven biển Đông là 20 năm. Khi hết thời hạn sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng rừng và trong quá trình sử dụng rừng chấp hành đúng pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, sử dụng rừng phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, thì chủ rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét gia hạn sử dụng rừng để quản lý bảo vệ rừng kết hợp nuôi trồng thủy sản.

3. Hạn mức giao rừng:

- Đối với hộ gia đình, cá nhân, hạn mức giao rừng và đất lâm nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt trên cơ sở quỹ rừng và đất lâm nghiệp tại địa phương, nhưng không vượt quá hạn mức tối đa quy định tại Điều 22, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP(hạn mức tối đa không quá 30,0 ha).

- Đối với tổ chức: Thực hiện theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

4. Trình tự, thủ tục giao rừng và đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân:

Thực hiện theo mục II, khoản 4 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

5. Trình tự, thủ tục giao rừng và đất lâm nghiệp cho tổ chức:

Thực hiện theo mục II, khoản 6 Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

6. Trình tự, thủ tục thu hồi rừng phòng hộ ven biển:

Thực hiện theo mục IV Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

VIII. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN:

1. Thể chế, chính sách giao rừng, cho thuê rừng:

Xây dựng cơ chế, chính sách, quy định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của chủ rừng, để tạo điều kiện và khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Ưu tiên một số chính sách tăng cường sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong việc quản lý, khai thác sử dụng tiềm năng, lợi thế của rừng phòng hộ ven biển.

2. Xác định hiện trạng và quy hoạch rừng:

a. Quy hoạch và xác định các lâm phần rừng phòng hộ ổn định, sau khi giao rừng, cần thiết phải đóng cọc mốc diện tích rừng trên bản đồ và trên thực địa.

b. Rà soát, xác định hiện trạng diện tích rừng hiện có, diện tích rừng đã giao, cho thuê, khoán bảo vệ đến lô trạng thái, loại rừng, chất lượng rừng.

c. Rà soát, xác định các chủ rừng, chủ quản lý, xác định các đối tượng có nhu cầu nhận rừng, thuê rừng.

d. Xây dựng kế hoạch giao rừng, cho thuê rừng, căn cứ hiện trạng tài nguyên rừng phòng hộ ven biển và nhu cầu nhận rừng, thuê rừng của tổ chức hộ gia đình và cá nhân.

3. Đào tạo tuyên truyền về giao rừng, cho thuê rừng:

a. Đào tạo nâng cao năng lực quản lý, chuyên môn cho các cơ quan, cán bộ quản lý và kỹ thuật để từng bước tự tổ chức, giám sát và thực hiện phương án giao rừng, cho thuê rừng.

b. Tập huấn, huấn luyện kỹ thuật, nghiệp vụ bảo vệ rừng và các nội dung có liên quan cho các lực lượng chuyên ngành, chủ rừng và các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng. Ưu tiên đào tạo cho lực lượng địa phương và cơ sở.

c. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về chính sách của nhà nước về giao rừng, cho thuê rừng, quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

4. Tổ chức và quản lý quá trình giao rừng, cho thuê rừng:

a. Xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng:

Trên cơ sở loại rừng và đối tượng rừng được giao rừng, cho thuê rừng đã được xác định. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo các ngành liên quan xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng với một số yêu cầu chủ yếu sau:

- Phương án giao rừng, cho thuê rừng phải được cụ thể hóa đến từng ấp, có sự tham gia của cộng đồng, chính quyền cơ sở và xây dựng lịch trình, tiến độ cụ thể.

- Giao rừng trên cơ sở kết quả kiểm kê hiện trạng (ranh giới, diện tích) của từng khu rừng.

b. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng:

- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải tiến hành đồng thời với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng.

- Những nơi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chậm thì tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng trước.

- Mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng phải thống nhất và quy định cụ thể được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định.

c. Quản lý hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng:

- Toàn bộ hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng phải được thiết lập, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của cấp tỉnh, huyện, thị và xã, phường, thị trấn. Hồ sơ giao và cho thuê rừng gồm 03 bộ: Chủ rừng giữ 01 bộ, cơ quan kiểm lâm cùng cấp giữ 01 bộ và cấp chính quyền ra quyết định giao rừng, cho thuê rừng giữ 01 bộ.

- Hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng gồm có:

+ Biên bản xác nhận về hiện trạng khu rừng được giao.

+ Quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng.

+ Bản đồ giao rừng tỷ lệ 1/10.000 (đối với tổ chức) hoặc sơ đồ giao rừng tỷ lệ 1/5.000 (đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn), các thông tin về tọa độ, ranh giới và các mô tả khác về diện tích.

+ Biên bản giao rừng tại thực địa có xác nhận của các chủ rừng có cùng chung ranh giới.

- Mẫu các văn bản, quyết định, chứng nhận, biên bản bàn giao ... phải thống nhất và quy định cụ thể do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định.

5. Giải pháp khoa học công nghệ:

a. Xây dựng hệ thống hồ sơ, sổ sách và cơ sở dữ liệu về giao rừng, cho thuê rừng và các chủ rừng để quản lý và cập nhật.

b. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, các biện pháp lâm sinh, công nghệ sản xuất tiên tiến phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế. xã hội của từng vùng.

c. Hợp tác trao đổi kinh nghiệm, tham quan nghiên cứu các mô hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Phần thứ ba

TỔ CHỨC, KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

I. Tổ chức thực hiện:

1. Bố trí lộ trình và tiến độ thực hiện:  Năm 2008 - 2010.

- Năm 2008, phê duyệt đề án cấp tỉnh; thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh, cấp huyện, thị và cấp xã, phường, thị trấn; triển khai công tác rà soát hiện trạng rừng, trữ lượng, điều tra đo đạc địa chính, cắm mốc địa chính; bàn giao toàn bộ hồ sơ giao khoán rừng phòng hộ cho cấp huyện, thị tiếp nhận. Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định giao rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp theo địa bàn cho cấp huyện, thị quản lý. Hoàn thành công tác kiểm kê đánh giá hiện trạng rừng, hoàn thành công tác đo đạc và hồ sơ địa chính đất lâm nghiệp cấp xã, phường, thị trấn; tiến hành giao rừng thí điểm cho tổ chức, cá nhân của huyện Đông Hải.

- Năm 2009 - 2010, triển khai giao rừng và đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân của huyện Hòa Bình và thị xã Bạc Liêu, kết thúc vào năm 2010.

2. Kinh phí thực hiện việc giao rừng:

- Ngân sách nhà nước đảm bảo cho việc giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch giao rừng, thu hồi rừng hàng năm của địa phương quản lý và bố trí ngân sách để thực hiện kế hoạch.

3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh:

a. Phê duyệt đề án giao rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh đến năm 2010.

b. Phê duyệt phương án giao rừng, thu hồi rừng của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị.

c. Quyết định việc giao rừng, thu hồi rừng đối với các tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo thẩm quyền.

d. Chỉ đạo cơ quan chức năng của tỉnh phối hợp thực hiện giao rừng, thu hồi rừng thống nhất đồng bộ với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất đối với tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

4. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị:

a. Chỉ đạo việc lập và phê duyệt thông qua Đề án giao rừng, thu hồi rừng trên đại bàn huyện, thị trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện.

b. Phê duyệt phương án giao rừng của UBND cấp xã, phường, thị trấn.

c. Quyết định việc giao rừng thu hồi rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

d. Chỉ đạo thực hiện việc giao rừng, thu hồi rừng thống nhất, đồng bộ với việc giao đất, thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

đ. Đo đạc lập bản đồ địa chính diện tích rừng theo mục đích sử dụng và tiêu chí phân loại rừng, xác định ranh giới cắm mốc địa chính của từng loại rừng.

e. Cân đối quỹ diện tích rừng và đất lâm nghiệp với nhu cầu của các đối tượng nhận rừng. Những diện tích rừng đã giao cho các chủ quản lý sử dụng nhưng sử dụng sai mục đích hoặc chưa sử dụng phải tiến hành thu hồi theo thẩm quyền hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi theo quy định.

5. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn:

a. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước về giao rừng, thu hồi rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trên địa bàn.

b. Rà soát tình hình quản lý, sử dụng rừng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

c. Lập phương án giao rừng trình Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị phê duyệt và tổ chức thực hiện.

d. Tổ chức việc tiếp nhận đơn xin giao rừng, trả lại rừng theo phương án giao rừng, thu hồi rừng của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn; thực hiện các nội dung về giao rừng, thu hồi rừng theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị.

đ. Tổ chức việc bàn giao rừng hoặc nhận lại rừng ngoài thực địa theo sự hướng đẫn và phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị.

6. Trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

a. Hướng dẫn tổ chức tư vấn về giao rừng; đào tạo cán bộ về giao rừng ở địa phương.

b. Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường để đảm bảo việc giao rừng, thu hồi rừng thống nhất, đồng thời với việc giao đất, thu hồi đất:

- Xác định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được giao rừng, thu hồi rừng đồng thời với giao đất, thu hồi đất.

- Sau khi có Quyết định giao rừng, thu hồi rừng của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, có trách nhiệm gửi tài liệu có liên quan đến Sở Tài nguyên và Môi trường để lập hồ sơ trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thu hồi đất.

7. Trách nhiệm của Chi cục Kiểm lâm:

Bàn giao toàn bộ hồ sơ giao khoán rừng phòng hộ cho cấp huyện, thị tiếp nhận.

Tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo tổ chức thực hiện việc giao rừng, thu hồi rừng:

a. Tuyên truyền hướng dẫn việc giao rừng, thu hồi rừng.

b. Chỉ đạo Hạt Kiểm lâm liên huyện rừng phòng hộ ven biển Đông tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị, cán bộ kiểm lâm địa bàn tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn trong việc giao rừng, thu hồi rừng thực hiện việc quản lý, kiểm kê, thống kê sau đó.

c. Tổ chức quản lý hồ sơ về giao rừng, thu hồi rừng, theo dõi, thống kê biến động; tổng hợp báo cáo theo quy định hiện hành.

d. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng rừng của các chủ rừng sau khi đã được giao, được thuê.

đ. Bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong các hoạt động về giao rừng, thu hồi rừng tại địa phương; phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan giải quyết tranh chấp về rừng.

8. Trách nhiệm của chủ rừng:

a. Thực hiện về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo quy định tại Điều 30 và các Điều trong Chương V, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

b. Thực hiện trách nhiệm của chủ rừng quy định trong thủ tục xin giao rừng mà chủ rừng phải thực hiện.

­­c. Ngoài ra chủ rừng còn có các trách nhiệm sau:

- Không được sử dụng đất để sản xuất nuôi thuỷ sản vượt quá tỷ lệ 40% trên diện tích sản xuất Lâm - Ngư kết hợp (không tính diện tích rừng phòng hộ rất xung yếu).

- Không được ứ nước ngập trên mặt đất rừng quá 20 cm nơi sâu nhất; đối với diện tích rừng mới trồng phải điều chỉnh mặt nước cho phù hợp theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây nhưng không được ứ nước ngập trên mặt đất rừng trồng quá 10 cm nơi sâu nhất.

- Thời gian ứ nước nuôi thủy sản tối đa là 15 ngày để đảm bảo cho cây rừng sinh trưởng, phát triển tốt.

- Không được sử dụng các hóa chất độc hại trong nuôi trồng thủy sản kết hợp làm ảnh hưởng đến rừng, gây ơ nhiễm môi trường và nguồn lợi thủy sản.­­