ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1795/QĐ-UBND

Đồng Nai, ngày 12 tháng 6 năm 2013

QUYẾT ĐỊNH

PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “NÂNGCAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰNGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI”

ỦY BAN NHÂNDÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước ngày 03/6/2008;

Căn cứ Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản Nhànước;

Căn cứ Nghị định số 66/2012/NĐ-CP ngày 06/9/2012 của Chínhphủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụngtài sản Nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg ngày 18/7/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về việc Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiện làm việccủa cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chínhphủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủvề việc quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đilại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 61/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 củaThủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyếtđịnh số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêuchuẩn, định mức và chế độ quản lý sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quannhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 35/2007/TT-BTC ngày 10/4/2007 của Bộ Tài chính về việcvề việc hướng dẫn thực hiện nghị định số 137/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 củaChính phủ quy định việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tạicơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập quyền sởhữu của nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính quyđịnh thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý,sử dụng tài sản nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 123/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 của Bộ Tài chính Hướngdẫn việc quản lý, khai thác phần mềm quản lý đăng ký tài sản nhà nước;

Căn cứ Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012 của Bộ Tài chính Quy địnhviệc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơquan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trịxã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũtrang nhân dân;

Căn cứ Quyết định số 411/QĐ-BTC ngày 02/3/2009 của Bộ Tài chính về việctriển khai áp dụng Chương trình quản lý đăng ký tài sản nhà nước phiên bản 1.0;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính tại Tờ trình số 1737/TTr-STC ngày27/5/2013 về việc phê duyệt ban hành Đề án Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tàisản Nhà nước tại các đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án“Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước tại các đơn vị hành chínhsự nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tàichính, Giám đốc các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã Long Khánhvà thành phố Biên Hòa; Thủ trưởng các tổ chức, đơn vị có liên quan chịu tráchnhiệm thi hành Quyết định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH



Trần Minh Phúc

ĐỀ ÁN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢNLÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀNTỈNH ĐỒNG NAI(Ban hành kèm theo Quyết định số 1795/QĐ-UBND ngày 12 /6 /2013 của UBNDtỉnh Đồng Nai)

Tài sản nhà nước bao gồm: Đất khuôn viên trụ sở, cơ sở hoạt động sựnghiệp, nhà, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất khuônviên; phương tiện giao thông vận tải; máy móc, trang thiết bị làm việc và cáctài sản khác được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốctừ ngân sách nhà nước, hoặc hình thành từ những nguồn khác mà theo quy định củapháp luật là tài sản của nhà nước, được nhà nước giao cho đơn vị trực tiếp quảnlý, sử dụng để phục vụ hoạt động của cơ quan, đơn vị.

I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

Tài sản nhà nước có giá trị rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong việcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong thời gian qua căn cứ vào quyđịnh của Nhà nước, chỉ đạo của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành đã có nhiều cốgắng trong việc tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản công. Bên cạnhnhững kết quả đạt được thì công tác quản lý tài sản công vẫn bộc lộ nhiều sơhở, yếu kém. Tình hình sử dụng đất đai không đúng mục đích; nhà ở thuộc sở hữuNhà nước quản lý lỏng lẻo, phát sinh tiêu cực, xe công được sử dụng vào mụcđích riêng...

Quản lý tài sản công là một phần trong công tác quản lý tài chính công, vìvậy để đáp ứng yêu cầu chất lượng công tác quản lý tài chính công tại các đơn vịsự nghiệp việc quản lý tài sản công là hết sức cần thiết để phát huy những kếtquả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế và đáp ứng yêu cầu quản lýtài sản công trong giai đoạn mới. Việc kê khai, quản lý tài sản công là một trongnhững nhiệm vụ của công tác hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán trong toànngành, để phát huy hiệu quả sử dụng của tài sản. Vì vậy cần thiết phải xây dựnghoàn thiện các quy định về quản lý tài sản công và nâng cao hiệu quả quản lý,sử dụng tài sản công tại các đơn vị HCSN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhằm manglại hiệu quả cao nhất.

II. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TRÊNĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA

1. Về hệ thốngcác văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng TSNN

Sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội thông qua, ngày03/6/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2009/NĐ-CP quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật, đây được coi là văn bản khung, điềuchỉnh toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng TSNN tại các cơ quan Nhà nước, đơn vịsự nghiệp công lập từ khâu đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê tài sản đến chế độbảo dưỡng, sửa chữa tài sản và thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý tài sản; chếđộ báo cáo, công khai, kiểm tra TSNN; sắp xếp lại, xử lý TSNN tại các cơ quan,tổ chức, đơn vị. Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trướckhi Luật được thông qua đến nay vẫn còn hiệu lực thi hành, cùng với Nghị địnhsố 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hànhđã tạo ra hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng TSNN đầyđủ và đồng bộ.

Trong phạm vi trách nhiệm quản lý của địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnhĐồng Nai đã ban hành Nghị quyết về phân cấp quản lý, sử dụng TSNN trên địa bànvà trên cơ sở đó UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 92/2009/QĐ-UBND ngày30/12/2009 Quy định thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản Nhà nướcthuộc phạm vi quản lý của tỉnh Đồng Nai.

Đánh giá tình hình xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sửdụng TSNN

- Thôngqua các quy định của Luật về phân công, phân cấp trách nhiệm của các cơ quan trongquản lý, sử dụng TSNN; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, đơn vị, tổ chức trực tiếpsử dụng TSNN; ý thức trách nhiệm của các cơ quan quản lý và cơ quan, đơn vịtrực tiếp sử dụng TSNN được nâng lên rõ rệt; góp phần đưa công tác quản lý, sửdụng TSNN đi vào nề nếp.

- Tạo hành lang pháp lý bảo đảm cho việc kiểm soát và định hướng thực hiệncác quan hệ về TSNN (đầu tư, mua sắm, sử dụng, bán, chuyển nhượng...) minh bạch,công khai thông qua cơ chế đấu thầu, đấu giá, mua sắm tập trung.

- Tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế công khai dân chủ; nhấtlà cơ chế giám sát của cộng đồng đối với quá trình quản lý, sử dụng TSNN của cơquan, đơn vị, tổ chức; nhằm phát hiện và ngăn chặn hành vi sử dụng lãng phíhoặc làm thất thoát TSNN.

- Luật Quản lý, sử dụng TSNN lần đầu tiên được Quốc hội ban hành, tuy nhiêndo tính chất phức tạp và phạm vi điều chỉnh rộng nên mặc dù Luật và hệ thốngvăn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá chi tiết và đồng bộ song vẫn còn mộtsố hạn chế sau đây:

+ Việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụngTSNN thực hiện trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi hết sức mạnh mẽ,luôn nảy sinh ra những vấn đề mới trong các mối quan hệ về quản lý, sử dụng TSNN,các hình thức và phương thức mới trong đầu tư, mua sắm, xử lý TSNN và chịu sựtác động của nền kinh tế thế giới; do đó, chính sách, chế độ về quản lý, sử dụngTSNN cũng phải thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu thế pháttriển của đất nước, từ đó sự ổn định của chính sách cũng bị ảnh hưởng rất lớn.

+ Với các quy định mang đậm nét đổi mới tại Luật, thể hiện sự quyết tâm củaNhà nước thay đổi về nhận thức và tư duy của các ngành, các cấp trong quản lý,sử dụng TSNN nhằm phát huy tối đa hiệu quả của TSNN. Tuy nhiên, những đổi mớinày để mang lại sự thành công đòi hỏi phải có sự nỗ lực và cố gắng rất nhiềucủa tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và phải chịu sự kiểm tra,giám sát của các tổ chức, các tầng lớp công chúng.

+ Còn có một số văn bản vẫn còn chậm được ban hành như hướng dẫn về tiêu chíxác định đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giátrị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp…nên tính hiệu lực thi hành của Luật cũng phần nào bị hạn chế.

2. Về tình hìnhquản lý, sử dụng tài sản Nhà nước

a) Về mua sắm tàisản nhà nước:

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 170/2006/QĐ-TTg ngày18/7/2006 về việc Quy định tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị và phương tiệnlàm việc của cơ quan và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; Quyết định số59/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 và Quyết định số 61/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 vềviệc quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đilại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước.

Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 68/2012/TT-BTC ngày 26/4/2012Quy định việc đấu thầu để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyêncủa cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chứcchính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,đơn vị vũ trang nhân dân (thay thế Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007và Thông tư số 131/2007/TT-BTC ngày 05/11/2007).

Thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” UBNDtỉnh đã ban hành Công văn số 3252/UBND-KT ngày 28/4/2010 về việc triển khaithực hiện ưu tiên mua sắm tài sản trong nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, theođó yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị HCSN trên địa bàn tỉnh khi phê duyệt danh mụcdự toán mua sắm hàng hoá lưu ý: ưu tiên lựa chọn mua sắm hàng hoá được sản xuấttrong nước bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu công việc. Tránh đưa vào danhmục mua sắm các loại hàng hoá nhập khẩu mà trong nước đã sản xuất được.

Thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ansinh xã hội, ngày 24/02/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP trong đó có chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương phải dừng trang bị mới xe ô-tô,điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điệnthoại, văn phòng phẩm, xăng dầu,....Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, UBND tỉnhĐồng Nai đã bàn hành Quyết định số 621/QĐ-UBND ngày 11/3/2011 về việc ban hànhChương trình hành động của UBND tỉnh, trong đó có chỉ đạo tạm dừng mua sắm xe ôtô, thiết bị văn phòng…

UBND tỉnh cũng đã chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các sở, ban,ngành, địa phương triển khai các Công văn số 6932/BTC-QLCS ngày 23/05/2012 vàCông văn số 8473/BTC-QLCS ngày 22/06/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thựchiện mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách nhà nước năm 2011 và năm 2012 theo chỉđạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012.

Triển khai Thông tư số 68/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính, UBND tỉnh cũng đãban hành Quyết định số 2071/QĐ-UBND ngày 01/8/2012 quy định phân cấp phê duyệt,thẩm định hồ sơ đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyêncủa các tổ chức, cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh ĐồngNai và Sở Tài chính đã có văn bản số 2311/STC-GCS ngày 12/7/2012 hướng dẫn lậphồ sơ trình duyệt kế hoạch đấu thầu mua sắm tài sản nhà nước.

Số liệu báo cáo tình hình thực hiện mua sắm tài sản nhà nước từ năm 2010đến năm 2012 như sau:

- Năm 2010: UBND tỉnh phê duyệt cho 36 đơn vị, với 84 gói thầu, trị giámua sắm khoảng 163.026.891.700 đồng và Sở Tài chính Quyết định theo thẩm quyềnphê duyệt kế hoạch đấu thầu cho 19 đơn vị, với 26 gói thầu, trị giá khoảng7.746.136.000 đồng. Trong đó, phê duyệt kế hoạch đấu thầu trang bị mới 17 xe ôtô, phương tiện vận tải các loại.

- Năm 2011: UBND tỉnh phê duyệt cho 32 đơn vị với 61 gói thầu, trị giá muasắm khoảng 126.405.148.430 đồng, Sở Tài chính phê duyệt cho 19 đơn vị, với 26 góithầu, trị giá khoảng 8.972.971.410 đồng. Trong đó, phê duyệt kế hoạch đấu thầutrang bị mới 02 xe ô tô (phê duyệt kế hoạch đấu thầu trước ngày Nghị quyết số11/NQ-CP của Chính phủ được ban hành) và 04 phương tiện vận tải các loại.

- Năm 2012: UBND tỉnh phê duyệt cho 49 đơn vị, với 101 gói thầu, trị giá muasắm khoảng 265.076.930.000 đồng, Sở Tài chính phê duyệt 35 đơn vị, với 49 góithầu, trị giá khoảng 16.127.828.820 đồng. Trong đó, phê duyệt kế hoạch đấu thầutrang bị mới 36 xe ô tô, và 03 phương tiện vận tải các loại.

Đánh giá tình hình trang bị, mua sắm tải sản nhà nước:

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đã ý thức được trách nhiệm trong việc quản lý,sử dụng TSNN, tuân thủ đúng các thủ tục và trình tự mua sắm TSNN. Quá trình thẩmđịnh hoặc phê duyệt kế hoạch đấu thầu mua sắm tài sản, Sở Tài chính đã yêu cầuthủ trưởng các đơn vị khi phê duyệt danh mục dự toán mua sắm hàng hoá ưu tiênlựa chọn mua sắm hàng hoá được sản xuất trong nước bảo đảm chất lượng, đáp ứngyêu cầu công việc và tránh mua sắm các loại hàng hoá nhập khẩu mà trong nước đãsản xuất được.

Đến nay, việc trang bị xe ô tô cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp trênđịa bàn tỉnh đảm bảo tiêu chuẩn, định mức theo quy định. Năm 2011 cũng đã thựchiện tốt việc tạm dừng trang bị xe ô tô theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu kiềm chế lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Bên cạnh kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý, mua sắm TSNN cũngcòn một số tồn tại, khó khăn như sau:

+ Thủ trưởng một số ít cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ mụcđích, ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc thực hiện cuộc vận động “Người ViệtNam dùng hàng Việt Nam”, khi duyệt danh mục, vẫn chọn đưa vào danh mục mua sắmcác loại hàng hoá nhập khẩu mà trong nước đã sản xuất được, việc trang bị tàisản chưa căn cứ vào các tiêu chuẩn, định mức.

+ Nhiều đơn vị chưa ban hành Quy chế quản lý và sử dụng tài sản nhà nước, quychế quản lý và sử dụng xe ô tô; việc mua sắm tài sản, trang thiết bị chưa sátvới nhu cầu thực tế,... nên chưa phát huy tối đa công suất sử dụng tài sản đãđược trang bị, làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách.

+ Chất lượng đấu thầu mua sắm tài sản của một số đơn vị còn hạn chếdo khi lập phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu chưa đảm bảo yếu tốcạnh tranh, chưa chặt chẽ về tiêu chuẩn chất lượng, nghiệm thu, chuyển giaocông nghệ.

+ Tỉnh Đồng Nai là địa phương có kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu sửdụng xe ô tô để giải quyết nhiệm vụ công tác của các cơ quan hành chính, sựnghiệp là tương đối lớn. Đối với cơ quan Văn phòng UBND cấp huyện, quy địnhđược trang bị tối đa không quá 03 xe ô tô hiện nay không còn phù hợp, không đảmbảo phương tiện phục vụ công tác để giải quyết khối lượng lớn công việc phátsinh; hoặc đối với đơn vị sự nghiệp mà thủ trưởng đơn vị có hệ số phụ cấp là0,7, quy định được trang bị duy nhất 01 xe ô tô phục vụ công tác chung, quakiểm tra công tác quyết toán hàng năm, một số đơn vị phát sinh chi phí thuê xelên đến hơn 200 triệu đồng/năm (chi phí thuê xe 03 năm có thể mua được 01 xe ôtô mới). Đề nghị Bộ Tài chính báo cáo và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ sửa đổi,bổ sung quy định về tiêu chuẩn, định mức trang bị xe ô tô cho phù hợp với tìnhhình thực tế của địa phương, đơn vị.

+ Theo quy định hiện hành về thực hiện mua sắm tài sản là xe ô tô thì Thủtrưởng các cơ quan, đơn vị phải thực hiện các thủ tục về đấu thầu lựa chọn nhàcung cấp theo các hình thức mua sắm như: Đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnhtranh …

Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc đấu thầu mua sắm tài sản là xe ô tô sảnxuất, lắp ráp trong nước là không cần thiết do hãng sản xuất đã niêm yết giácông khai; việc thực hiện đấu thầu làm thời gian bị kéo dài do thực hiện cácbước theo quy trình đấu thầu và làm tăng chi phí dẫn đến hiệu quả không cao. Đềnghị Bộ Tài chính báo cáo và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép các địaphương được thực hiện mua xe ô tô lắp ráp trong nước đã có giá bán thống nhấttrong cả nước bằng hình thức mua sắm trực tiếp hoặc chỉ định thầu (không thôngqua hình thức đấu thầu). Thủ trưởng đơn vị mua sắm hoặc chủ đầu tư quyết địnhphê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ, đồngthời chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

b) Về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước:

Xuất phát từ thực tế sử dụng TSNN trong những năm qua, Thủ tướng Chính phủđã ban hành Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 về việc sắp xếp lại,xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi cả nước.

Theo chính sách này, toàn bộ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp,cơ sở sản xuất kinh doanh được bố trí, sắp xếp lại theo nguyên tắc: Di dời cáccơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường ra các khu công nghiệp, khukinh tế. Cơ quan, đơn vị, tố chức được chủ động sắp xếp lại nhà, đất hiện cótheo đúng chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu cho sản xuất kinh doanh và phù hợp vớiquy hoạch sử dụng đất của địa phương; số nhà, đất dôi dư được phép bán nhà vàchuyển nhượng hoặc chuyển mục đích sử dụng, từ đó đã tạo ra nguồn tài chính mớiđể đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc hoặc được sử dụng để đầutư xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh mới, đầu tư chiều sâu, tăng thêm năng lựcsản xuất kinh doanh; giành quỹ đất có lợi thế thương mại cho hoạt động kinhdoanh, thương mại, dịch vụ, du lịch; đồng thời giành quỹ đất để xây dựng cáccông trình phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện và các công trình phúc lợiquan trọng khác của địa phương... góp phần chỉnh trang quy hoạch lại đô thịtheo hướng hiện đại.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, từ giữa năm 2009 đến cuối năm2010, UBND tỉnh Đồng Nai đã thực hiện xong sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà,đất thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn tỉnh và đã có báo cáo Bộ Tài chính vềkết quả thực hiện, cụ thể việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhànước thuộc phạm vi tỉnh quản lý đạt được như sau:

a) Khối sở, ban, ngành, hội, đoàn thể và các đơn vị trực thuộc tỉnh:

+ Giữ lại tiếp tục sử dụng 295/305 cơ sở nhà, đất của 199 đơn vị với tổngdiện tích nhà 768.937,24m2, tổng diện tích đất 4.706.450,92m2,(chiếm tỷ lệ 96,72%).

+ Thu hồi 01 cơ sở nhà, đất của Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh dodư dôi, sử dụng sai mục đích với diện tích đất 127.058m2.

+ Bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất 06 cơ sở nhà, đấtcủa 06 đơn vị với tổng diện tích đất 1.164,5m2, tổng diện tích nhà1.670,49m2.

+ Xử lý khác 03 cơ sở nhà, đất của 03 đơn vị với tổng diện tích nhà4.786,8 m2, tổng diện tích đất 4.324,8 m2 (di dời các hộdân ra khỏi khuôn viên trụ sở, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp hiện trạng sửdụng …).

b) Khối các đơn vị thuộc huyện, thị xã Long Khánh, TP. Biên Hòa:

+ Giữ lại tiếp tục sử dụng 2.534/2.576 cơ sở nhà, đất của 1.151 đơn vị vớitổng diện tích nhà 1.616.280,64m2, tổng diện tích đất 7.471.657,03m2(chiếm tỷ lệ 98,37%).

+ Thu hồi 22 cơ sở nhà, đất của 15 đơn vị với tổng diện tích nhà 2.728,83m2,diện tích đất 40.367,20m2.

+ Điều chuyển 04 cơ sở nhà, đất của 04 đơn vị với tổng diện tích nhà717,34m2, diện tích đất 9.524m2.

+ Xử lý khác 16 cơ sở nhà, đất của 13 đơn vị (giao cho địa phương kiểmtra, rà soát thu hồi đất đối với các cơ sở bị lấn chiếm; rà soát điều chỉnhdiện tích đất theo thực tế sử dụng; rà soát quy hoạch sử dụng đất, nhu cầu sửdụng trụ sở làm việc tại địa phương để lập kế hoạch sử dụng) với tổng diện tíchnhà 4.306,58m2, tổng diện tích đất 38.279,30m2.

Đánh giá việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước:

+ Việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước theo Quyết địnhsố 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ được UBND tỉnh ĐồngNai xác định là nhiệm vụ quan trọng cần thiết, và đã thành lập Ban chỉ đạo 09để chỉ đạo các cấp, ngành tập trung thực hiện và thường xuyên tháo gỡ vướng mắctrong quá trình thực hiện.

+ Về tiến độ thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nướccủa các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh Đồng Nai nhìn chung đảm bảo theo Kế hoạch số 9029/BCĐ09 ngày 04/11/2009 của Ban Chỉ đạo 09 tỉnh đề ra.

+ Qua công tác sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, Thủ trưởngcác cơ quan, đơn vị đã ý thức được trách nhiệm trong việc sử dụng đúng mục đíchcác cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước thuộc phạm vi mình quản lý, thực hiệnchấn chỉnh việc sử dụng sai mục đích, chấm dứt việc cho các tổ chức, cá nhânthuê phần diện tích nhà, đất để sử dụng vào mục đích kinh doanh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, tồn tạinhư sau:

+ Thủ trưởng các đơn vị, Chủ tịch UBND cấp huyện chưa tích cực chỉ đạo,đôn đốc các đơn vị trực thuộc thực hiện hoặc trong quá trình thực hiện các đơnvị không chú trọng nội dung dẫn đến kê khai sơ sài, thiếu sót, các hồ sơ cóliên quan kèm theo không đầy đủ như quyết định giao đất, bảng vẽ thửa đất, hồsơ về nhà… vì vậy cần phải rà soát điều chỉnh, kê khai lại làm ảnh hưởng đếntiến độ thực hiện.

+ Việc kê khai về đất: Các đơn vị được giao đất hoặc được bàn giaotừ đơn vị khác nhưng chưa liên hệ với cơ quan có thẩm quyền đo vẽ để làm thủtục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên diện tích đất kê khai căn cứ theoquyết định giao đất hoặc biên bản bàn giao nên diện tích đất báo cáo chưa chínhxác theo thực tế.

c) Tình hìnhbáo cáo kê khai TSNN

Căn cứ Thông tư số 35/2007/TT-BTC ngày 10/4/2007 của Bộ Tài chính về việc hướngdẫn thực hiện Nghị định số 137/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quyđịnh việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại cơ quan hànhchính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhànước.

Căn cứ Quyết định số 411/QĐ-BTC ngày 02/3/2009 của Bộ Tài chính về việc triểnkhai áp dụng Chương trình quản lý đăng ký tài sản nhà nước phiên bản 1.0.

Sở Tài chính đã thực hiện chuyển mã các đơn vị và duyệt đăng ký quản lý sửdụng tài sản nhà nước (nhà, đất, ô tô và tài sản khác có giá trị tên 500 triệu đồng),cập nhật vào chương trình đăng ký tài sản nhà nước phiên bản 1.0 của Bộ Tàichính số dư ban đầu. Tính đến nay đã đăng nhập xong vào chương trình trên 1.500đơn vị (đạt 100% trên tổng số đơn vị cần đăng ký), định kỳ hàng năm cập nhậtcác biến động về tăng, giảm tài sản vào chương trình.

Theo số liệu báo cáo của các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã LongKhánh và TP. Biên Hòa đến ngày 31/12/2012 thì TSNN có đến ngày 31/12/2011 nhưsau:

- Đất: 10.312.274 m2 với giá trị là 10.480 tỷ đồng;

- Nhà: có 5.647 ngôi nhà với tổng diện tích 2.291.761 m2 vớinguyên giá 3.149 tỷ đồng và giá trị còn lại là 2.041 tỷ đồng. Về cơ cấu nhà chủyếu là nhà cấp IV với 4.439 ngôi và diện tích 881.818 m2 chiếm 78%trên tổng số ngôi nhà báo cáo.

- Xe ô tô: 586 chiếc, trong đó xe phục vụ chức danh là 04 chiếc; xe dùngchung là 373 chiếc, xe chuyên dùng là 209 chiếc với nguyên giá là 260 tỷ đồng,giá trị còn lại 82 tỷ đồng.

- Tài sản khác có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên: Có 221 đơn vị tài sảnvới nguyên giá 320 tỷ đồng và giá trị còn lại là 163 tỷ đồng. Về cơ cấu tài sảnkhác chủ yếu là tài sản máy móc, trang thiết bị y tế với 156 đơn vị tài sảnchiếm 70% trên tổng số tài sản khác báo cáo.

Đánh giá tìnhhình báo cáo kê khai TSNN

- Đây là lần đầu tiên ứng dụng triển khai tin học vào công tác quản lýTSNN; việc ứng dụng Chương trình ĐKTS 1.0 để xây dựng CSDL quốc gia về TSNN đãgóp phần trang bị đồng bộ hơn các công cụ phục vụ công tác quản lý TSNN theoyêu cầu của Luật quản lý, sử dụng TSNN. Chương trình là công cụ có hiệu quảphục vụ xây dựng thành công CSDL quốc gia về TSNN. Lần đầu tiên tỉnh Đồng Naicó một CSDL về TSNN trong đó chứa đựng khá đầy đủ thông tin về TSNN thuộc phạmvi quản lý. CSDL là một kênh thông tin đắc lực giúp các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền đưa ra các biện pháp quản lý, xử lý TSNN phù hợp hơn ; góp phầnnâng cao hiệu quản lý, sử dụng TSNN.

- Thực hiện ứng dụng Chương trình ĐKTS 1.0 vào công tác quản lý TSNN đãtạo ra bước đột phá mới về đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại,nhanh nhạy, kịp thời và có hiệu quả cao; dần thay thế cho phương pháp quản lýtruyền thống (kiểm kê, báo cáo giấy, …) tốn kém, thông tin thiếu kịp thời. Sửdụng CSDL để quản lý TSNN đã góp phần thiết thực vào công tác hiện đại hoá côngtác quản lý của ngành Tài chính; đẩy mạnh thực hiện chủ trương cải cách thủ tụchành chính của Chính phủ.

- Thông qua việc vận hành Chương trình, thực hiện các tác nghiệp nghiệp vụcủa CSDL từng bước hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý công sản tại Sở Tài chính,các sở, ban, ngành và địa phương có trình độ ngày càng chuyên nghiệp hơn. Bêncạnh đó, ý thức trách nhiệm của các đối tượng trực tiếp quản lý, sử dụng TSNNvà các cơ quan quản lý đã có chuyển biến tích cực nhờ các thông tin được cungcấp đầy đủ, công khai, kịp thời từ CSDL.

Kết quả đã đạt được nêu trên là đáng kể. Tuy nhiên đến nay cơ sở dữ liệuvẫn còn một số hạn chế sau:

+ Thông tin tại CSDL chưa phản ánh được toàn bộ TSNN tại 100% cơ quan, tổchức, đơn vị phải thực hiện kê khai đăng ký theo quy định của Chính phủ và BộTài chính. Nguyên nhân do các cơ quan, đơn vị không thực hiện nghiêm túc việclập và gửi Tờ khai đăng ký TSNN đến Sở Tài chính để cập nhật số liệu vào CSDL.

+ Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý TSNN phương thức quản lý mới,đòi hỏi người sử dụng phải được tập huấn kỹ năng sử dụng. Song trên thực tế,hiện tượng cán bộ đã được tập huấn không được làm mà giao người khác (khôngđược tập huấn) thực hiện làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng số liệu cậpnhật vào CSDL của địa phương.

+ Hiện tượng TSNN không có hồ sơ ban đầu hoặc có nhưng thông tin không đủhoặc thông tin bị sai lệch so với thực tế (nhất là nhà đất) còn lớn, ảnh hưởngđến tính chính xác số liệu của CSDL.

3. Nhận xétchung:

Kể từ khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các văn bản quy phạmpháp luật dưới Luật đã được ban hành, công tác quản lý TSNN từ chỗ thụ động vớicông tác lập và chấp hành ngân sách nhà nước thì nay đã chủ động gắn với côngtác lập và chấp hành ngân sách nhà nước, việc xây dựng dự toán ngân sách nhànước được căn cứ trên cơ sở nhu cầu đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phục vụhoạt động của các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, TSNN bước đầu đã gắn giá trị vớihiện vật, đảm bảo phù hợp với quá trình đầu tư xây dựng mới, mua sắm và sử dụngtài sản.

Thực hiện phân cấp rõ ràng nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với TSNN giữatỉnh, huyện và xã; giữa các cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về tài sản(Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường và các Sở chuyên ngành)và các cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng TSNN; đồng thời xác định rõthẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong quản lý, trách nhiệm của từng đơn vịtrong sử dụng tài sản đảm bảo cho việc sử dụng TSNN đi dần vào nề nếp, kỷ cươngvà minh bạch.

Bên cạnh kết quả đã đạt được nêu trên, công tác quản lý TSNN cũng còn mộtsố tồn tại, yếu kém chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu như:

+ Vẫn còn tình trạng sử dụng TSNN sai mục đích, lãng phí, thể hiệntập trung ở:

- Một bộ phận đất đai, trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, đơn vị sựnghiệp, nhất là tại các đô thị còn bị sử dụng sai mục đích như: Bỏ trống, cho thuê,sử dụng để kinh doanh, dịch vụ... Một số trường hợp thực hiện mua sắm, điều chuyển,thanh lý... TSNN sai thẩm quyền, sai tiêu chuẩn, chế độ dẫn đến thất thoátTSNN.

- Trong đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản: Tình trạng đầu tư, mua sắmvượt tiêu chuẩn định mức, vượt mức giá cho phép vẫn còn tồn tại mặc dù đã hạnchế đáng kể. Tình trạng sử dụng TSNN lãng phí, sai mục đích còn lớn.

+ Chế tài xử lý nhữngsai phạm về quản lý, sử dụng trụ sở làm việc; mua sắm sử dụng xe ô tô công,trang thiết bị... còn chưa kịp thời, có trường hợp còn dùng quỹ công để bồithường thiệt hại do việc mua sắm, sử dụng tài sản sai dẫn đến tác dụng răn đebị hạn chế.

+Đa số các địa phương, mà cụ thể là tại các Phòng TC-KH các huyện, thị xã, thànhphố mới chỉ bố trí được 01 cán bộ làm công tác quản lý công sản, song song đó kiêmthêm công tác quản lý giá, từ đó dẫn đến thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước vềTSNN còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, bị động. Tổ chức bộ máy cơquan thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về TSNN chưa được chú trọng kiện toàn.

4. Nguyên nhâncủa những hạn chế, tồn tại

a) Nguyên nhân kháchquan

Một thời gian dài việcquản lý TSNN trong khu vực HCSN ảnh hưởng bởi cơ chế tập trung bao cấp. Việc lãng phí TSNN trong khu vực HCSN đãlà căn bệnh trầm kha. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý củaNhà nước và xu hướng hội nhập quốc tế thì cơ chế quản lý TSNN trong khu vực HCSNchưa bắt nhịp kịp thời. Do vậy, cơ chế chính sách ban hành thiếu tính thực tiễn,việc buông lỏng quản lý, thiếu sự kiểm tra kiểm soát đối với TSNN trải qua thờikỳ dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã thành thói quen tập quán; dođó việc chuyển biến cả về tư tưởng, nhận thức và tổ chức thực hiện là cả mộtquá trình lâu dài.

b) Nguyên nhân chủ quan

- Chính quyền các cấpchưa thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước đối với TSNN:

+ Một số đơn vị, tổ chức chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về mục đích, ýnghĩa và tầm quan trọng của công tác quản lý TSNN. Việc nhận thức về thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý TSNN chưa tương xứng với bản chất củanó nên chưa ban hành đồng bộ, kịp thời các cơ chế, chính sách để thống nhấtquản lý TSNN và thiếu quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

+ Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụngTSNN tự do, tuỳ tiện trong việc bố trí sử dụng tài sản, chưa tự giác chấp hành đầyđủ chế độ báo cáo sự biến động của tài sản và thậm chí chưa tổ chức theo dõi vềsố lượng, giá trị của các tài sản được giao, thiếu nghiêm túc trong việc triểnkhai thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý TSNN.

- Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sáchvề quản lý TSNN chưa được thực hiện nghiêm túc. Sở Tài chính, Phòng Tài chínhcác huyện, thị xã, thành phố (cơ quan được giao trực tiếp quản lý công sản ởđịa phương) chưa thực hiện triệt để vai trò kiểm tra, kiểm soát về việc thựchiện chính sách chế độ cũng như kiểm tra định kỳ thường xuyên để phát hiện nhưngsai phạm trong thực thi chính sách và tổ chức thực hiện của các đơn vị trựctiếp sử dụng TSNN. Các vi phạm trong quản lý, sử dụng TSNN chưa được phát hiệnvà xử lý kịp thời hoặc các trường hợp sai phạm đã được xử lý, song chưa được xửlý dứt điểm, thiếu kiên quyết hoặc có sai phạm đã xử lý nhưng còn mang nặngtính hình thức, hành chính nên tác dụng giáo dục và ngăn chặn còn hạn chế.

- Chuyển biến nhận thứcvề quản lý TSNN của hệ thống các cơ quan Nhà nước nói chung còn chậm. Trongquá trình đổi mới cơ chế quản lý TSNN còn hạn chế về mặt tư duy bao cấp, nhậnthức về việc quản lý TSNN còn đơn giản, thiếu trách nhiệm vì vậy cơ chế quản lýchưa có những bước đột phá phù hợp với cơ chế thị trường và cơ chế quản lý nhànước bằng pháp luật.

IV. MỘT SỐ GIẢIPHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁCĐƠN VỊ HCSN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI TỪ NAY ĐẾN NĂM 2015

1. Tập huấn hướng dẫn chế độ chính sách về quản lý,sử dụng tài sản Nhà nước và công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quyđịnh của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công

Triển khai cho tất cả các đội ngũ cán bộ làm công tác tài chính, kế toánđơn vị HCSN trên địa bàn tỉnh, bước đầu tập trung triển khai cho các cán bộ tàichính, kế toán cấp xã việc thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước,như; Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiếtvà hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng TSNN, Thông tư số245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính quy định thực hiện một số nộidung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP Thông tư số 89/2010/TT-BTC ngày 16/6/2010của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo công khai quản lý, sử dụng TSNN tạiCQNN, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức được giao quản lý, sử dụng TSNN, Quyếtđịnh số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29/5/2008 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độquản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan nhà nuớc, đơn vị sựnghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước và Quyết định số92/2009/QĐ-UBND ngày 30/12/2009 của UBND tỉnh ban hành Quy định thẩm quyền,trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnhĐồng Nai.

Đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị thực hiện công khai, minh bạch trong quảnlý, sử dụng tài sản công (công khai cả dự toán, hình thức mua, giá trị mua...);không chỉ được tiến hành theo định kỳ mà phải làm thường xuyên tránh trường hợplãng phí, gây thất thoát.

Phổ biến, quán triệt Nghị định số 66/2012/NĐ-CP ngày06/9/2012 của Chính phủ quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựcquản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Thông tư số 14/2013/TT-BTC ngày 05/02/2013của Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghịđịnh số 66/2012/NĐ-CP ngày 06/9/2012 của Chính phủ.

Thường xuyên triển khai công tác giám sát, thanh tra, kiểm traviệc thực hiện các cơ chế, chính sách về quản lý TSNN tại các đơn vị HCSN. Cơquan tài chính các cấp thực hiện triệt để vai trò kiểm tra, kiểm soát về việcthực hiện chính sách chế độ cũng như kiểm tra định kỳ thường xuyên để phát hiệnnhững sai phạm trong thực thi chính sách và tổ chức thực hiện của các đơn vịtrực tiếp sử dụng TSNN. Phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm trong quản lý,sử dụng TSNN, đặc biệt phải xứ lý kiên quyết và xử lý dứt điểm các trường hợpsai phạm trong việc sử dụng nhà, đất không đúng mục đích được giao, nhằm giáodục và ngăn chặn những trường hợp tương tự.

- Thời gian dự kiến tổ chức tập huấn vào khoảng giữa quýII/2013.

- Kinh phí thực hiện: Từ nguồn ngân sách tỉnh do Sở Nội vụ thựchiện thanh toán theo các quy định hiện hành.

2. Trình UBND tỉnh ban hành quyết địnhvề quy chế phối hợp kiểm tra, đối chiếu thông tin và sử dụng thông tin trong cơsở dữ liệu quốc gia về tài sản Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Quy chế này quy định mối quan hệ phối hợp giữa các sở, ban, ngànhcấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, tổ chức, đơn vịđược giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước với Sở Tài chính trong việc cung cấpthông tin để kiểm tra, đối chiếu kết quả đăng nhập dữ liệu tài sản nhà nước thuộcdiện phải kê khai đăng ký (trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; xe ô tôcác loại; tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500 triệu đồng trởlên/01 đơn vị tài sản) vào phần mềm quản lý đăng ký tài sản nhà nước và sử dụngthông tin lưu giữ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước vào các mụcđích: Thực hiện báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hàng nămtheo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và các báo cáo kháctheo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; lập dự toán, xét duyệt quyếttoán, quyết định, kiểm tra, kiểm toán, thanh tra việc đầu tư xây dựng, mua sắm,nâng cấp cải tạo, sửa chữa, sử dụng, xử lý (thu hồi, bán, điều chuyển, thanhlý, tiêu hủy) tài sản nhà nước.

3. Thực hiện rà soát, chuẩn hóa dữliệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tàichính

Qua kiểm tra số liệu trong CSDL còn có những bất hợp lý, saisót, chưa phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng và biến động của tài sản nhà nước.Việc rà soát, chuẩn hóa dữ liệu nhằm chuẩn xác lại toàn bộ dữ liệu, nâng caochất lượng dữ liệu trong CSDL quốc gia về tài sản nhà nước. Dữ liệu sau khi đượcrà soát, chuẩn hoá sẽ là số liệu chính thức về tài sản nhà nước của cả tỉnh, củatừng sở, ban, ngành, địa phương và đơn vị để phục vụ công tác báo cáo, quản lý,điều hành của các cấp, các ngành về tài sản nhà nước.

Thực hiện rà soát, chuẩn hoá dữ liệu một cách toàn diện cáctrường thông tin trong CSDL quốc gia về tài sản nhà nước, từ danh mục đơn vịđến từng loại tài sản, cụ thể: Chuẩn hoá dữ liệu về đất: Gồm các nội dung vềloại đất, diện tích đất, giá trị quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng; Chuẩnhoá dữ liệu về nhà: gồm các nội dung về cấp hạng nhà, thời gian sử dụng đượcsau kê khai ban đầu (thời điểm 31/12/2008), giá trị còn lại; Chuẩn hóa dữ liệuvề xe ô tô: Gồm các nội dung về cách phân loại xe (chức danh, phục vụ chung,chuyên dùng); Chuẩn hóa dữ liệu về tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồngtrở lên/1 đơn vị tài sản.

- Thời gian thực hiện từ nay đến hết quý IV/2013.

- Kinh phí thực hiện: Từ nguồn ngân sách tỉnh do Sở Tàichính thực hiện thanh toán theo quy định tại Khoản 2, Điều 11, Thông tư số123/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 và hướng dẫn tại Công văn số 10809/BTC-QLCS ngày10/8/2012 của Bộ Tài chính về kinh phí nhập, duyệt, chuẩn hóa dữ liệu về Tàisản nhà nước.

4 Triển khai ứng dụng phần mềm quản lýtài sản cố định đến tất cả các đơn vị HCSN thuộc phạm vi quản lý của tỉnh ĐồngNai

Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 411/QĐ-BTC ngày02/03/2009 về việc áp dụng thống nhất phần mềm quản lý đăng ký TSNN trên phạmvi cả nước để hình thành CSDL quốc gia về tài sản nhà nước. Theo đó các TSNNphải kê khai báo cáo gồm: Đất, nhà thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sựnghiệp; Xe ô tô các loại; các tài sản khác có nguyên giá theo sổ kế toán từ 500triệu đồng/ 1 đơn vị tài sản trở lên.

Như vậy, đối với tài sản còn lại (có nguyên giá dưới 500triệu đồng/ một đơn vị tài sản) thì chưa có phần mềm quản lý đồng bộ trên phạmvi toàn tỉnh, các đơn vị hiện nay chủ yếu theo dõi, tổng hợp báo cáo trên sổsách kế toán hoặc công cụ hỗ trợ đơn giản là phần mềm Microsoft Excel. Từ đó,công tác tổng hợp báo cáo tất cả các tài sản nhà nước gặp nhiều khó khăn; hơnnữa, số lượng tài sản có nguyên giá dưới 500 triệu đồng/ một đơn vị tài sản tạicác đơn vị HCSN trong phạm vi quản lý của tỉnh là rất lớn. Vì vậy, đòi hỏi phảicó phần mềm quản lý tài sản cố định triển khai đến tất cả các đơn vị hành chínhsự nghiệp trên địa bàn tỉnh để thống nhất quản lý, tổng hợp và kịp thời báo cáotheo quy định và góp phần cải cách hành chính trong lĩnh quản lý tài sản công.

- Thời gian thực hiện bắt đầu từ Quý II/2014 đến QuýIV/2015.

- Kinh phí thực hiện: Đối với các đơn vị quản lý nhà nướcchi từ nguồn ngân sách tỉnh; đối với các đơn vị sự nghiệp chi từ kinh phí đượcgiao tự chủ hàng năm hoặc nguồn Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Tài chính có trách nhiệm:

a) Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, UBNDcác huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa triển khai thực hiện Đề ánnày, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện cho UBND tỉnh.

b) Tổ chức sơ kết việc thực hiện Đề án tháng 06 năm 2014 vàtổng kết vào cuối năm 2015.

c) Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc SởTài chính tổng hợp, báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xem xét, bổ sung sửa đổi cho phùhợp.

2. Sở Tài nguyên và Môi trường cótrách nhiệm:

a) Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phươngđẩy nhanh việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đơn vị sử dụngnhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn tỉnh.

b) Phối hợp Sở Tài chính và Sở Xây dựng định kỳ thực hiệnkiểm tra việc sử dụng đất của các đơn vị nhằm kịp thời phát hiện các trường hợpsử dụng nhà, đất không đúng mục đích được giao để báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xửlý theo thẩm quyền.

3. Sở Xây dựng có trách nhiệm:

a) Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phươngđẩy nhanh việc thực hiện lập hồ sơ quản lý công sở theo quy định tại Quyết địnhsố 213/2006/QĐ-TTg ngày 25/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 01/2007/TT-BXD ngày 31/01/2007 của Bộ Xây dựng nhanh chóng liên hệ với cơ quantài nguyên môi trường để được hướng dẫn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất.

b) Phối hợp Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường địnhkỳ thực hiện kiểm tra việc sử dụng nhà của các đơn vị nhằm kịp thời phát hiện cáctrường hợp sử dụng nhà, đất không đúng mục đích được giao để báo cáo, đề xuấtUBND tỉnh xử lý theo thẩm quyền.

4. Sở Nội vụ có trách nhiệm:

Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và UBND các huyện, thị xãLong Khánh, thành phố Biên Hòa kiểm tra, rà soát tình hình biên chế cán bộ làm côngtác quản lý tài sản công tại các đơn vị. Trên cơ sở nội dung Đề án và các quyđịnh của pháp luật hiện hành, tham mưu UBND tỉnh kiện toàn tổ chức bộ máy cơquan thực thi nhiệm vụ quản lý Nhà nước về TSNN trên địa bàn tỉnh.

5. Các sở, ban, ngành thuộc tỉnh và UBNDcác huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa có trách nhiệm:

Trong phạm vi quản lý của mình, xây dựng và tổ chức thực hiệnkế hoạch hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo tiến độchung của Đề án. Chí đạo, đôn đốc bộ phận quản lý công sản, bộ phận kế toán củacơ quan và các đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện tốt các nội dung của Đề ántrong quá trình triển khai thực hiện, đặc biệt là công tác báo cáo, rà soát, chuẩnhóa dữ liệu tài sản ... nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án.

6. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trực tiếpsử dụng, quản lý tài sản công có trách nhiệm: Thựchiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng thời gian yêu cầu các nộidung của đơn vị chủ trì triển khai Đề án như: Tham gia và cử cán bộ tham gialớp tập huấn, lập hồ sơ công sở, liên hệ với cơ quan Tài nguyên - Môi trườnghoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, báo cáo số liệu số liệurà soát, chuẩn hóa về tài sản nhà nước trong dữ liệu quốc gia... Ngoài ra, chấphành tốt các quy định của Luật Quản lý tài sản Nhà nước năm 2008 và các quyđịnh khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm sử dụng tài sản nhà nước đúng mụcđích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và hiệu quả, tiết kiệm.

Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc các đơnvị báo cáo đề xuất gửi về Sở Tài chính để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh xem xét,bổ sung sửa đổi cho phù hợp theo quy định./.