HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 201-CP

Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 1974

QUYẾT ĐỊNH

VỀSẮP XẾP VIỆC LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢ NĂNG LÀM VIỆC

Hiện nay, do thiếu tổ chức và quảnlý nên trong xã hội, nhất là các thành phố, thị xã, khu công nghiệp, còn nhiềungười chưa có việc làm trong lúc có nhiều việc có thể thu hút nhiều lao động màchưa huy động được người làm; cũng có những người chưa có việc làm lại muốn tìmnhững việc làm dễ dàng mà thu nhập lại cao, trong khi đó thì nhiều người chỉmong có việc làm nhưng chưa được các ngành, các địa phương tìm cách sử dụng .

Để thực hiện Nghị quyết của Hộinghị lần thứ 22 của Trung ương Đảng, Nghị quyết 228-NQ/TW của Bộ Chính trị vàNghị quyết số 96-CP của Hội đồng Chính phủ về cuộc vận động lao động sảnxuất, thực hiện tiết kiệm nhằm thúc đẩy mọi người đều làm việc, tăng năng suấtlao động, tăng sản phẩm xã hội, tăng thu nhập, và cải thiện đời sống nhân dân,góp phần ngăn chặn và xóa bỏ tệ nạn làm ăn phi pháp, bài trừ tận gốc tệ nạn xãhội, Hội đồng Chính phủ sơ bộ quyết định một số chủ trương và biện pháp sau nhằmsắp xếp việc làm cho những người có khả năng làm việc mà chưa có việc làm.

I. NHỮNG LOẠI VIỆC CÓ THỂ SẮPXẾP ĐỂ THU NHẬN LAO ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNH, CÁC CẤP ĐỐI VỚIVIỆC SẮP XẾP ĐÓ

Ở các thành phố, thị xã, khucông nghiệp bị chiến tranh tàn phá hiện nay có biết bao nhiêu công việc phảilàm: dọn dẹp các nhà cửa bị đổ nát, sửa chữa đường sá, lấp hố bom, san mặt bằngxây dựng, bốc xếp hàng hoá, thu nhặt sắt thép hư hỏng v.v… Công việc sản xuấtvà tổ chức đời sống trong điều kiện hòa bình cũng đòi hỏi rất nhiều loại lao độngkhác nhau như: sửa chữa nhà, quét vôi, sơn cửa, sản xuất đồ dùng gia đình, giữtrẻ, phục vụ, chế biến bột mì, tận dụng các nguồn nước gạo, thức ăn thừa… đểchăn nuôi, phát triển các ngành thủ công v.v… Vì vậy, việc động viên và tổ chứccác loại lao động vào những công việc nói trên nhằm bảo đảm đời sống cho ngườilao động và làm lợi ích chung cho xã hội là cần thiết.

Trong việc tổ chức và sắp xếp việclàm cho những người có sức lao động mà chưa làm việc, cần coi trọng những việclàm tại chỗ. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, các ngành sản xuất và kinh doanh,các cơ quan chức năng của Nhà nước như lao động, tài chính, ngân hàng… từ trungương đền địa phương cần phát huy sáng kiến, đề ra những chủ trương thiết thựcgiải quyết những khó khăn về vật tư và tiền vốn, ra tay tổ chức sản xuất vàkinh doanh để thu hút ngày càng nhiều lao động. Các Ủy ban Hành chính tỉnh,thành phố, các Ủy ban Hành chính khu phố, các hợp tác xã, các tổ sản xuấtcũng phải góp sức mình một cách tích cực vào chủ trương nói trên.

II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHÍNH ĐỂSẮP XẾP VIỆC LÀM CHO NHỮNG NGƯỜI CHƯA LÀM VIỆC NHẤT LÀ Ở CÁC THÀNH PHỐ,THỊ XÃ, KHU CÔNG NGHIỆP.

1. Dựa vào kết quả cuộc tổng điềutra dân số vừa qua, kết hợp với việc đăng ký lao động và đăng ký kinh doanh,các ngành, các cấp cần nắm cụ thể nguồn lao động và tình hình công ăn việc làmcủa nhân dân: số người có việc làm, số người chưa có việc làm, số người làm ănkhông chính đánh, số người có thể điều động đi xa, số người cần phải sắpxếp việc làm tại chỗ, v.v..; sóat lại những công việc phải làm và có thể làm đuợc,những chính sách cần đề ra và những điều kiện có thể giải quyết.

2. Trên cơ sở tình hình đã nắmđược, các cấp chính quyền phải phối hợp mật thiết với các ngành sản xuất vàkinh doanh tiến hành sắp xếp việc làm cho nhân dân theo hướng: ai đã có việclàm chính đáng thì tiếp tục làm việc đó, ai chưa có việc thì được sắp xếp việclàm. Việc sắp xếp này sẽ tiến hành từng bước: người có khó khăn thì giải quyếttrước, người chưa thật khó khăn thì giải quyết sau; thương binh, gia đình liệtsĩ, gia đình bộ đội, bộ đội và thành niên xung phong phục viên được ưu tiên sắpxếp; những người làm nghề buôn bán không cần thiết và chuyển sang sản xuất thìphải sắp xếp để chuyển họ sang làm sản xuất, những người làm ăn phi pháp thì buộcphải lao động.

Trong quá trình sắp xếp công việctheo tinh thần trên đây, cần cố gắng hết sức sắp xếp công việc làm thích hợp vớinghề nghiệp (nếu có) và sức khỏe của từng người.

3. Các ngành sản xuất và kinhdoanh sử dụng lao động cần chú ý đến việc tổ chức dạy nghề cho những người có sứclao động mà chưa có nghề. Trường hợp nhân dân tự tổ chức lớp học nghề thì cáccơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn, giúp đỡ và quản lý.

4. Các cơ quan quản lý kinh tế,các xí nghiệp quốc doanh công nghiệp và thương nghiệp, phải có sáng kiến mở rộngsản xuất và kinh doanh, nhằm thu hút thêm lao động hiện nay không có việc làm,tăng thêm sản phẩm xã hội, phục vụ đời sống nhân dân.

5. Các cấp chính quyền và đoànthể cần giáo dục nhân dân ý thức cần cù lao động, làm việc có năng suất, làm ănchính đáng, sản xuất mặt hàng tốt, không lấy cắp nguyên liêu, chấp hành đúngchính sách và luật pháp, đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, làm ăn phipháp.

III. BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚINHỮNG NGƯỜI TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG CÓ SỨC LAO ĐỘNG MÀ KHÔNG CHỊU LAO ĐỘNG.

Các cấp chính quyền phải đề caotrách nhiệm trong việc sắp xếp cho mọi người có việc làm thích hợp, tạo điều kiệncho họ vừa có nguồn sinh sống, vừa đóng góp cho xã hội. Đối với những ngườikhông chịu lao động theo sự sắp xếp của cơ quan có thẩm quyền và những ngườilàm ăn phi pháp, thì tùy theo từng trường hợp cụ thể mà xử lý như sau:

1. Những người đang làm việc ởcơ quan, xí nghiệp Nhà nước, mà bỏ ra ngoài làm ăn thì cơ quan, xí nghiệp cótrách nhiệm quản lý người đó tùy theo lỗi nặng, nhẹ mà xử lý:

- Nếu bỏ việc ra ngoài làm ăn đểkiếm thêm thu nhập cao thì bị kiểm điểm, khiển trách, cảnh cáo, hạ chức, hạlương trước khi giao việc trở lại.

Trường hợp cơ quan, xí nghiệp đãgọi nhưng đương sự không trở lại thì buộc thôi việc và báo cáo cho Ủy ban Hành chính cơ sở họ đang cư trú để Ủy ban Hành chính đó quản lý theo chế độ chung.

- Nếu bỏ việc ra ngoài làm ănphi pháp, đầu cơ trục lợi… thì bị buộc thôi việc. Cơ quan hoặc xí nghiệpsẽ báo cáo cho Ủy ban Hành chính cơ sở nơi họ đang cư trú để Ủy ban Hành chính đó quản lý và điều họ đi lao động, hoặc xử lý theo pháp luật hiệnhành.

2. Những học sinh tốt nghiệp cáctrường dạy nghề, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp ở trong nước vàngoài nước không tuân thủ theo sự điều động của Nhà nước, thì các cơ quan có thẩmquyền không cấp bằng, thu lại bằng (nếu đã cấp), báo cho Ủy ban Hànhchính nơi họ đang cư trú để quản lý và điều họ làm các việc sản xuất và xây dựng.

3. Những đốitượng sau đây thì Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương ra lệnh buộc phải lao động theo chế độ bắt buộc lao động từ 6 thángđến 2 năm:

a) Những người nói ở điểm 1 và 2trên đây đã được Ủy ban Hành chính cơ sở điều động đi lao động, nhưng vẫnkhông chịu đi lao động;

b) Những người không chịu làm việc(ngoài những đối tượng đã nói ở trên điểm a), mặc dầu đã được cơ quan lao độngsắp xếp và nhân dân ở địa phương giáo dục, giúp đỡ mà không chịu lao động.

4. Đối với những đối tượng nói ởđiểm 3 (gồm a, b) nếu không thi hành lệnh bắt buộc lao động, những người chuyênmộ người phi pháp (cai đầu dài) thì đối xử theo quyết định số 154-CP ngày 1-10-1973của Hội đồng Chính phủ, kiên quyết tập trung lại để cải tạo.

IV. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC NGÀNHVÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG

Dưới sự lãnh đạo của Thường vụ Hộiđồng Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm tích cựccùng các Bộ sản xuất và kinh doanh phối hợp với các cơ quan chức năng: tàichính, ngân hàng có kế hoạch cụ thể để thực hiện quyết định này; phải thông quacác Ủy ban Hành chính tỉnh và thành phố truyền đạt kế hoạch đó cho các cơquan và đơn vị thuộc mình phụ trách để tổ chức thực hiện.

Các Ủy ban Hành chính tỉnh,thành phố chịu trách nhiệm trước Hội đồng Chính phủ phối hợp và chỉ đạo cácngành ở địa phương thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp nói trên và thườngxuyên báo cáo kết quả công việc với Hội đồng Chính phủ.

Trong phạm vi cả nước, Ủy ban kếhoạch Nhà nước phải cùng các ngành quản lý kinh tế, trước hết là ngành lao độngvà các cơ quan chức năng khác nghiên cứu một kế hoạch toàn diện giải quyếtcông ăn việc làm cho các loại lao động khác nhau trong kế hoạch năm 1975.

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ



Phạm Văn Đồng