HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 232-CP

Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 1979

QUYẾT ĐỊNH

VỀMỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG CÔNG TÁC NỘI THƯƠNG NĂM 1979

Trong phiên học ngày 14 tháng 5năm 1979, sau khi nghe đồng chí Trần Văn Hiển, Bộ trưởng Bộ Nội thương trìnhbày về những vấn đề chủ yếu trong công tác nội thương năm 1979 và nghe đại diệncác ngành có liên quan phát biểu ý kiến, Thường vụ Hội đồng Chính phủ quyếtđịnh một số vấn đề cụ thể, trước mắt nhằm đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ và kếhoạch nội thương năm 1979.

I. VỀ TỔ CHỨC THU MUA NẮMNGUỒN HÀNG TRONG NƯỚC

Ngành nội thương phải kết hợpchặt chẽ với các ngành có liên quan và các địa phương, nhất là ở các miền Namđể tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và tổ chức tốt việc thu mua nắm nguồn hàngnông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp tiêu dùng theo tinh thần nghị quyết trungương lần thứ năm và các chủ trương, chính sách thu mua, giá cả và quản lý thịtrường của Nhà nước, phấn đấu thực hiện với mức cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch1979 về thu mua, phân phối, giao nộp sản phẩm cho trung ương mà Chính phủ đãchính thức giao cho Bộ Nội thương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc.

1. Về các sản phẩm nông – lâm– ngư nghiệp.

Đi đôi với việc tăng cường giáodục chính trị đối với người sản xuất và quản lý chặt chẽ về mặt hành chínhthương nghiệp, phải khẩn trương triển khai và đẩy mạnh công tác hợp đồng kinhtế hai chiều để đảm bảo Nhà nước nắm được các nguồn hàng thực phẩm, nông sản,hải sản chủ yếu, nhất là ở các vùng sản xuất tập trung. Đối với những sản phẩmsản xuất lẻ tẻ do tận dụng ruộng đất xen canh, gối vụ hoặc thuộc loại sản phẩmthứ yếu mà Nhà nước không chỉ đạo giá, thì thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đượcmua theo giá thỏa thuận nhằm bảo đảm thu nhập hợp lý của người sản xuất, bảođảm kinh doanh của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa và phục vụ tốt cho người tiêudùng; trong việc này, không được tự phát chạy theo thị trường tự do đẩy giá lêncao, mà phải có ý thức kết hợp các biện pháp giáo dục, kinh tế và hành chính đểđấu tranh giữ giá và kéo giá hạ dần xuống.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thànhphố, nhất là ở miền Nam là nơi có nhiều khả năng, nhưng thu mua còn yếu, cần tậptrung lực lượng để chỉ đạo các huyện, xã thực hiện đầy đủ kế hoạch thu mua,phân phối, điều động mà trung ương đã giao.

2. Về hàng công nghiệp tiêudùng

Các đơn vị kinh tế quốc doanh vàcông tư hợp doanh (kể cả các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội làmkinh tế) sản xuất hàng hóa tiêu dùng đạt hay vượt mức kế hoạch kể cả chính phẩmvà thứ phẩm, đều phải giao nộp cho Nhà nước thông qua thương nghiệp quốc doanhtheo kế hoạch và giá cả chỉ đạo của Nhà nước. Không được tự ý giữ lại bán trongnội bộ, hoặc trao đổi với các cơ quan khác và bán ra thị trường. Hàng tiêu dùngdành cho xuất khẩu mà xuất khẩu không được cũng phải giao cho nội thương bán.Những sản phẩm sản xuất ngoài kế hoạch Nhà nước, dựa trên cơ sở tận dụng phếliệu, phế phẩm, hoặc tự khao thác được nguyên liệu, ngoài diện thống nhất quảnlý của Nhà nước, thì xí nghiệp cũng chủ yếu thông qua thương nghiệp xã hội chủnghĩa để tiêu thụ với giá cả do hai bên thỏa thuận.

Đối với sản phẩm của tiểu côngnghiệp và thủ công nghiệp nếu làm bằng vật tư, nguyên liệu do Nhà nước thốngnhất quản lý, thì thương nghiệp quốc doanh phải bằng cách gia công đặt hànghoặc bán nguyên liệu, mua thành phẩm nắm toàn bộ sản phẩm. Nếu làm bằng vật tư,nguyên liệu không do Nhà nước thống nhất quản lý, thì thương nghiệp quốc doanhvà thương nghiệp hợp tác xã được quyền thu mua với giá thỏa thuận tùy theo mặthàng, quy cách, chất lượng sản phẩm. Đối với những mặt hàng thương nghiệp quốcdoanh không thu mua hoặc thu mua không hết, cần để cho người sản xuất được bánthẳng cho người tiêu dùng.

Từ nay, những sản phẩm Nhà nướcgiao kế hoạch cho Bộ Nội thương gia công, thu mua hoặc bán nguyên liệu, muathành phẩm, thì Nhà nước giao chỉ tiêu vật tư, nguyên liệu cho Bộ Nội thươngquản lý. Bộ Nội thương căn cứ vào kế hoạch Nhà nước và năng lực sản xuất thựctế của các địa phương, bàn bạc giao chỉ tiêu sản xuất và thu mua cụ thể chotừng tỉnh, thành phố. Căn cứ vào đó, các ngành quản lý vật tư sẽ cung ứng vậttư, nguyên liệu cho các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để chỉ đạo các cơ quan,đơn vị kinh tế có trách nhiệm ở địa phương tiến hành gia công hay tổ chức sảnxuất. Bộ Nội thương và các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cùng chịu tráchnhiệm kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức sản xuất, quản lý nguyên liệu và thu hồithành phẩm.

II. VỀ CÔNG TÁC PHÂN PHỐIPHỤC VỤ ĐỜI SỐNG

Trên cơ sở làm tốt các khâu sảnxuất, thu mua, ngành nội thương cần phấn đấu để giữ mức cung cấp thực phẩm vàhàng tiêu dùng cho công nhân, viên chức và nhân dân ít nhất cũng phải giữ mứccung ứng như năm 1978, không được để giảm sút hơn nữa.

Sau khi đã cố gắng hết mức để tổchức nguồn hàng trong nước mà lực lượng hàng hóa vẫn không đủ trang trải chomọi nhu cầu, thì trong việc phân phối phải kiên quyết tập trung cho các nhu cầutrọng tâm và các đối tượng chủ yếu, không phân phối bình quân.

Về địa bàn, phải chú trọng trướchết thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các khu công nghiệp lớn, các tỉnhbiên giới phía Bắc, các công trường, nông trường, lâm trường lớn.

Về đối tượng, phải chú trọngtrước hết các lực lượng vũ trang, nhất là các đơn vị đang chiến đấu và sẵn sàngchiến đấu; người lao động sản xuất và xây dựng, nhất là người làm nghề nặngnhọc, ở môi trường độc hại; coi trọng việc chăm sóc bà mẹ và trẻ em, ngườibệnh, các thương binh gia đình liệt sĩ, v.v….

Cần vận dụng đúng các quy địnhvề bốn chế độ và quyền làm chủ tập thể của công nhân, viên chức để chống mọibiểu hiện cửa quyền, móc ngoặc, tham ô, bớt xén, gây phiền hà và làm thiệt hạicho người tiêu dùng.

Bộ Nội thương cần chỉ đạo cáccấp liên tục cải tiến tổ chức và phương thức phân phối hàng hóa theo hướng mởrộng mạng lưới phân phối thực phẩm xuống sát các khu dân cư; công khai hóa cáctiêu chuẩn phân phối để nhân dân biết và tham gia quản lý, phát huy quyền làmchủ tập thể của nhân dân trong lĩnh vực phân phối tiêu dùng. Ngành nội thương ởcác cấp phải phối hợp chặt chẽ với công đoàn và các đoàn thể phụ nữ, thanhniên, với các cơ quan, đơn vị để tổ chức và quản lý tốt các nhà ăn tập thể vàcác tổ chức ăn uống công cộng, nhằm phục vụ tốt đời sống của cán bộ, công nhân,viên chức, sinh viên, học sinh; cần cố gắng tạo ra các cơ sở sản xuất tự túccủa từng đơn vị để có nguồn thực phẩm bổ sung ngoài số được Nhà nước cung cấp.

Dưới đây là những mục tiêu phấnđấu và biện pháp cụ thể nhằm giải quyết cho được những nhu cầu bức thiết về đờisống hiện nay:

1. Về rau: Để phấn đấutrong hai năm 1979 – 1980 bảo đảm cung cấp đủ rau cho thành phố Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp, công trường lớn, cho dành khoảng 15000hécta với số lao động và số lương thực cần thiết để xây dựng các vùng rauchuyên canh ở những nơi kể trên.

Bộ Nội thương chủ động phối hợpvới Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và thực phẩm và cácngành, các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có liên quan bàn việc xây dựng cácvùng rau chuyên canh này.

Riêng đối với nguồn rau Đà Lạt,đồng ý dành ra… (1) tấn lương thực quy gạo để cung cấp cho vùng rauchuyên canh; Bộ Nội thương bàn bạc cụ thể với Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực vàthực phẩm, Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban nhândân thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện tốt việc quy hoạch vùng rau chuyên canh,làm tốt hợp đồng kinh tế hai chiều với các hợp tác xã và nông dân trồng rau,gắn chặt với các khâu cung cấp lương thực, xăng dầu, phân bón (chú ý xác mắm)và thu mua rau; đồng thời tổ chức tốt việc vận chuyển, bảo đảm nhu cầu rau hàngngày của thành phố Hồ Chí Minh và dành một phần rau cao cấp cho xuất khẩu.

2. Về trứng: Bộ Nôngnghiệp phải phối hợp với Bộ Nội thương, Bộ Lương thực và thực phẩm giải quyếttốt các vấn đề giống và thức ăn để đẩy mạnh sản xuất trứng gà công nghiệp củacác nông trường và trại gà quốc doanh. Mặt khác, trong cân đối lương thực năm1979 của Nhà nước, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cần bàn thống nhất với Bộ Lươngthực và thực phẩm và Bộ Nội thương xác định cụ thể chỉ tiêu lương thực cần dànhđể gia công cho các cơ sở nuôi vịt tập trung, bảo đảm Nhà nước nắm được khoảng100 triệu quả trứng vịt để cung cấp cho các thành phố và khu công nghiệp ở miềnBắc và 50 triệu quả cung cấp cho thành phố Hồ Chí Minh, khu công nghiệp BiênHòa và Vũng Tàu.

Ngoài ra, ngành nội thương cóthể tổ chức thu mua trứng gà, trứng vịt của nông dân theo giá thoả thuận hợp lývà bán ra theo giá bảo đảm kinh doanh, để bổ sung số lượng trứng cung cấp hàngtháng cho các đối tượng.

3. Về thu mua lợn và xuấtkhẩu lợn: Các tỉnh, thành phố phải phấn đấu thực hiện tốt chỉ tiêu kế hoạchthu mua lợn năm 1979. Các tỉnh miền Nam cần tìm cách khôi phục đàn lợn nái vừa qua bị giảm sútnghiêm trọng, động viên thu mua ít nhất 50% số lợn thịt xuất chuồng. các tỉnhkhu 5 cũ cần tích cực thu mua thêm trâu, bò thịt để bổ sung cho nguồn thịt lợn.

Trong tình hình thực phẩm ởthành phố Hồ Chí Minh đang hết sức căng thẳng, trước mắt số lợn mua được ở đồngbằng sông cửu Long cần ưu tiên cung cấp cho thành phố Hồ Chí Minh, một phần chokhu công nghiệp Biên Hòa, khu dầu khí Vũng Tàu, các nông trường cao-su và quânđội.

Để đảm bảo kế hoạch xuất khẩunăm 1979 đạt…. (1) tấn thịt quy hơi, Bộ Ngoại thương phải phối hợp với Bộ Nôngnghiệp và các tỉnh, thành phố có điều kiện tận dụng các nguồn phế liệu côngnghiệp thực phẩm sẵn có và có thể nhập thêm một số lương thực, bớt xuất khẩucám mì để đẩy mạnh chăn nuôi lợn ở các cơ sở quốc doanh, hoặc gia công chănnuôi cho các hợp tác xã và gia đình để tạo ra nguồn lợn thịt xuất khẩu vữngchắc.

4. Về cá biển: Bộ Hải sảnphải có biện pháp quản lý và phấn đấu đạt chỉ tiêu kế hoạch năm 1979 về sảnxuất và thu mua cá biển và hải sản khác phục vụ tiêu dùng trong nước (nước mắm,mắm tôm, cá tươi, cá khô,...) xuất khẩu (chủ yếu là tôm, mực) và một phần cáchế biến.

Ngành nội thương phải tích cựctổ chức thu mua và phơi sấy những loại hải sản, thủy sản mà ngành hải sản khôngquản lý; đồng thời theo yêu cầu của ngành hải sản và tùy theo điều kiện cụ thểở từng địa phương, ngành nội thương có thể tham gia vào việc tổ chức phơi sấycác loại cá, tôm, moi,… ở những nơi có nhiều mà ngành hải sản chưa vươn lên kịpthời với nhu cầu.

Bộ Hải sản phối hợp với Bộ Giaothông vận tải và Bộ Nội thương để cố gắng đưa từ miền Nam ra miền Bắc… (1) tấn hải sản quy tươi (trong đó điềuđộng… (1) tấn cá biển ăn tươi cho thành phố Hà Nội) và điều …(1) tấncá biển ăn tươi ở miền Nam cho thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về nước chấm: Ngoàiphần ngành hải sản đẩy mạnh thu mua cá và sản xuất nước mắm cung cấp cho ngànhnội thương theo kế hoạch đã định, Bộ Nội thương bàn với Bộ Lương thực và thựcphẩm sử dụng một phần đậu tương và lúa mì để sản xuất nước chấm, nhất là ởthành phố Hà Nội (tự sản xuất 3 triệu lít) và thành phố Hồ Chí Minh (tự sảnxuất 5 triệu lít).

6. Về chất đốt: Ngoài dầuhỏa, Bộ Điện và than, Bộ Lâm nghiệp phải cố gắng phấn đấu đẩy mạnh sản xuất,vận chuyển giao than và củi cho ngành nội thương và các thành phố, khu côngnghiệp theo đúng chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.

Các Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố phải quản lý chặt chẽ và tổ chức phân phối tốt các loại chất đốt sẵn có ởđịa phương : than qua lửa, trấu, mùn cưa, dầu cặn, v.v…

7. Về vải : Sau khi hoànthành việc thanh toán tem phiếu năm 1978, từ ngày 01 tháng 7 năm 1979, Bộ Nộithương cần phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức kê khai, cấp phát tem,phiếu vải năm 1979 cho công nhân, viên chức và nhân dân ở cả hai miền, nói rõlà phiếu vải năm 1979 dùng cho cả năm 1980 và tiêu chuẩn ghi trong phiếu vảinăm 1979 sẽ được bán đủ trong hai năm 1979 và 1980. Đối với các nhu cầu khác:bảo hộ lao động, ma chay, sinh đẻ,… thì bảo đảm cung cấp đủ theo tiêu chuẩn,chế độ hiện hành.

Đối với các tỉnh miền núi phíaBắc, Bộ Nội thương bàn với Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cố gắng giải quyết cho cánbộ, công nhân, nhân viên và nhân dân mỗi người có đủ tiêu chuẩn vải hàng năm,đồng thời ưu tiên phân phối vải màn và các mặt hàng thời vụ rét.

Đối với đồng bào Thượng ở cáctỉnh Tây Nguyên (Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum), để giải quyết thỏa đángnhu cầu về mặc và xóa bỏ tình trạng dân còn phải đóng khố, trong năm 1979, cốgắng cung cung cấp đủ số lượng theo chủ trương và phương thức phân phối đã quyđịnh trong công văn số 200-VP1 ngày 14-01-1977 của Phủ thủ tướng.

8. Về chiếu cói: Các địaphương trồng cói cần phải tích cực đẩy mạnh sản xuất, để bảo đảm cả hai mặt nhucầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu theo đúng kế hoạch Nhà nước năm 1979, trongđó có phần dự trữ cần thiết khoản 20000 tấn cho sản xuất chiếu cói những thángđầu năm 1980, để bảo đảm cho mỗi hộ được mua một chiếc chiếu khổ rộng trong năm1980. Các Ủy ban nhân dân địa phương cần thực hiện đúng các chỉ tiêu kế hoạchđã được phân bố cho hai ngành nội thương và ngoại thương. Trường hợp sản xuấtbị giảm sút, thu mua không đạt kế hoạch, các địa phương không được tự ý thayđổi kế hoạch giao sản phẩm cho nội thương hay ngoại thương, mà phải báo cáo lênhai Bộ chủ quản và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xét và trình Thủ tướng Chính phủquyết định.

9. Về giấy: Bộ Côngnghiệp nhẹ cần chỉ đạo các xí nghiệp giấy khắc phục khó khăn về nguyên liệu,chuyển sang sản xuất giấy viết phục vụ kịp thời cho kỳ khai giảng năm học1979-1980. Về phần nhập khẩu, ngoài phần đã ghi trong kế hoạch nhập khẩu năm1979 (kể cả phần nằm trong số viện trợ bổ sung vừa qua của Liên Xô và các nướcanh em khac), cần tranh thủ nhập thêm của các nước xã hội chủ nghĩa một số giấyhọc sinh, hoặc vở học sinh, phục vụ cho năm học tới.

10. Về xà phòng giặt: Bộcông nghiệp nhẹ, Bộ Lương thực và thực phẩm, Bộ Nội thương, Bộ Ngoại thương cầnphối hợp cử cán bộ về giúp các địa phương đẩy mạnh thu mua và chế biến các loạidầu dừa, dầu lạc, dầu hạt cao-su, dầu hạt bông,… để có nguyên liệu cung cấp chocác cơ sở sản xuất xà-phòng, kem đánh răng, dầu pha sơn, dầu ăn… Ngoài ra, bộNgoại thương cần …(1)nhập thêm một số xà-phòng trong năm 1979.

11. Về vấn đề thống nhất chếđộ tiêu chuẩn cung cấp thực phẩm trong cả nước : trong hoàn cảnh cụ thểhiện nay, việc nắm nguồn hàng ở các tỉnh miền Nam còn thấp và chưa vững chắc,Nhà nước chưa chính thức công bố chế độ, tiêu chuẩn cung cấp thực phẩm cho nhândân và cán bộ, công nhân, viên chức ở miền Nam, sản xuất, thu mua các loại thựcphẩm, nhất là rau đậu, quả, thịt lợn, cá biển, cá đồng, trứng, nước mắm, nướcchấm… Trên cơ sở đó, dựa theo các chế độ, tiêu chuẩn đang áp dụng thực tế ởmiền Bắc mà vận dụng vào việc định chế độ, tiêu chuẩn cung cấp cho các loại đốitượng ở miền Nam, tùy theo điều kiện thực tế của sản xuất và thu mua ở từng địaphương mà định lượng cung cấp cụ thể từng loại thực phẩm, nhất là giữa thịt vàcá cho thích hợp. Bộ Nội thương phải cố gắng tổ chức và quản lý tốt việc thumua, phân phối thực phẩm để tiến tới bảo đảm thực hiện thống nhất tiêu chuẩncung cấp trong cả nước.

12. Về việc trao đổi nộithương với nước ngoài: Bộ Nội thương được trực tiếp tổ chức trao đổi hànghóa nội thương và hợp tác xã mua bán với các nước. Trong việc này, Bộ Nộithương chịu sự quản lý thống nhất về các mặt chính sách xuất khẩu, nhập khẩucủa Bộ Ngoại thương theo đúng quy định của Nhà nước; đồng thời cần có sự giúpđỡ và phối hợp chặt chẽ của Bộ Ngoại thương và Bộ Ngoại giao về các mặt giaodịch đối ngoại.

TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Lê Thanh Nghị





(1)Không in các số liệu cụ thể.