ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 235/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 1985

QUYẾT ĐỊNH

BANHÀNH QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH NGÀNH MAY SẴN TP.HỒCHÍ MINH

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Căn cứ Luậttổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được Quốc Hội thông qua ngày 30tháng 6 năm 1983;
- Căn cứ Quyết định số 111/HĐBT ngày 25-8-1984 của Hội đồng Bộ trưởng quy định nhữngmặt hàng Nhà nước độc quyền kinh doanh ;
- Theo đề nghị của đồng chí Trưởng Ban cải tạo CTN tư doanh, Giám đốc Sở Côngnghiệp, Giám đốc Sở Thương nghiệp, Trưởng Ban quản lý thị trường thành phố,Trưởng Ban Tổ chức Chánh quyền thành phố;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.- Ban hành kèm theo quyết định này, bản quy định tạm thời vềtổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh ngành may sẵn tại thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 2.- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, Sở công nghiệp phốihợp với các ngành chức năng hướng dẫn việc thực hiện. Những quyết định trướcđây trái với những điều trong bản quy định kèm theo quyết định này đều bãi bỏ.

Điều 3.- Các đồng chí Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân thành phố, Giámđốc các Sở, Ban, Ngành thành phố, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các quận, huyện chịutrách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
K/T CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC




Lê Văn Triết

BẢN QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀTỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH NGÀNH MAY SẴN TP.HỒ CHÍ MINH
(Ban hành kèm theo quyết định số235/QĐ-UB Ngày 15-11-1985 của UBND Thành phố).

Nhằm mục đích phát triển ngành maysẵn thành phố theo hướng sản xuất lớn XHCN, nâng cao chất lượng sản phẩm, cảitiến và sáng chế thêm nhiều kiểu mẫu mới thích ứng với thời trang thỏa mãn nhucầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, Ủy ban Nhân dân thành phố ban hành quyđịnh tạm thời về tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh ngành may sẵn theo cácquy định sau :

I- QUY ĐỊNH CHUNG:

Điều 1 : Liên hiệp xí nghiệp may sẵn thuộc Sở Công nghiệp thành phốlà cơ quan quản lý ngành may sẵn (gọi tắt là ngành), theo nguyên tắc quản lý ngànhkết hợp với quản lý theo địa bàn quận, huyện.

Ngành có trách nhiệm tổ chức và chỉđạo thực hiện phương án sắp xếp tổ chức lại sản xuất ngành may sẵn thành phốthành một ngành kinh tế kỹ thuật thống nhất và xuyên suốt từ xí nghiệp quốc doanhcấp thành phố đến xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh, hợp tácxã, sản xuất gia đình và cá thể trên địa bàn các quận, huyện (không kể cơ sởmay đo)

Điều 2 : Sau khi sắp xếp lại, tổ chức ngành may sẵn thành phố có cácthành phần kinh tế sau :

- Xí nghiệp quốc doanh thuộc ngànhvà xí nghiệp quốc doanh quận, huyện .

- Xí nghiệp hợp doanh, xí nghiệpcông tư hợp doanh.

- Hợp tác xã.

- May mặc tại gia đình.

Điều 3 : Hướng quy hoạch và phát triển ngành may sẵn thành phố cần đượcthể hiện cụ thể trong các đề án sản xuất kinh doanh của toàn ngành là :

a) Phát huy cao nhất năng lực sảnxuất của các thành phần kinh tế trong ngành may sẵn để phát huy thế mạnh củathành phố, không ngừng cải tiến sáng chế thêm nhiều kiểu mẫu mới hợp với thờitrang nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu trongnước và đẩy mạnh xuất khẩu.

b) Vận dụng các chính sách huy độngvốn, cùng với việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong ngành may sẵn thànhphố khai thác và mở rộng khả năng đóng góp của kiều bào ở nước ngoài để pháttriển ngành : về ngoại tệ, nguyên liệu trang bị kỹ thuật mới v.v…, để tiến đếnhiện đại hóa trang bị kỹ thuật ngành may sẵn, phát triển thêm nhiều sản phẩmmay sẵn, kịp với trình độ tiên tiến thế giới, trên cơ sở các chính sách của Ủyban Nhân dân thành phố quy định.

Nguyên liệu, phụ tùng thay thế chocác máy ngành may sẵn gởi từ nước ngoài về cho thân nhân sản xuất trong nước màcó hợp đồng bán sản phẩm lại cho Nhà nước theo giá thỏa thuận sẽ được xét giảmhoặc miễn thuế nhập khẩu.

c) Cùng với việc mở rộng phương thứcmay gia công theo nhu cầu trong nước và nước ngoài theo hợp đồng kinh tế, đồngthời tích cực chủ động tạo nguồn nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa,trong đó phải tạo được sản phẩm có chất lượng co khả năng xuất khẩu tái tạongoại tệ, phát triển ngành.

Điều 4 : Ngành được phép liên doanh liên kết kinh tế với các ngành kinhtế khác trong khu vực, với các tỉnh bạn để phát triển sản xuất trên nhiều hìnhthức có hiệu quả kinh tế và phương thức phân phối thỏa đáng quyền lợi giữa cácbên :

* Liên doanh liên kết hẳn lao độngvới ngành dệt (cấp thành phố, quận, huyện hoặc với các tỉnh bạn).

* Gắn sản xuất của ngành với sự baotiêu của Thương nghiệp và Tổng công ty xuất nhập khẩu, bằng nguyên liệu của ngànhqua thu mua từ nhiều nguồn vải do thương nghiệp quản lý và các cửa hàng hợp táckinh doanh vải, hoặc được thương nghiệp ủy thác.

* Đối lưu sản phẩm may sẵn của ngànhvới các tỉnh để tái tạo ngoại tệ.

* Gắn sản phẩm may sẵn với việc trangtrí mỹ thuật in hoa, thêu ren của khu vực sản xuất thủ công nghiệp có trình độkỹ thuật, tạo cho sản phẩm tăng giá trị thẩm mỹ, mang tính dân tộc độc đáo, đadạng, tăng sức cuốn hút thị trường.

Điều 5 : Ngành cần soạn thảo các văn bản sau đây trình Thường trực Ủyban Nhân dân thành phố ban hành dưới dạng quy chế để quản lý ngành :

1) Quy hoạch và phương hướng pháttriển dài hạn và chính sách đầu tư, bảo đảm phát triển ngành đúng với phươnghướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

2) Quy định về cách xây dựng kế hoạchvà chỉ đạo thực hiện theo hướng làm kế hoạch từ cơ sở.

3) Quy định tiêu chuẩn chất lượng,định mức vật tư, giá gia công cho những mặt hàng chuẩn, và cho từng công đoạn :cắt, may, hoàn tất v.v… làm căn cứ thống nhất quản lý gia công trên địa bànthành phố.

4) Đề xuất những phương thức sảnxuất lao động và những chính sách cần thiết cho ngành thực hiện được quyền chủ độngtrong sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chánh, bảo đảm cho sản xuất của ngànhổn định và phát triển.

II- MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN CỤ THỂ :

Điều 6 : Xí nghiệp liên hợp may sẵn, được sắp xếp tổ chức lại thànhLiên hiệp Xí nghiệp may sẵn thuộc Sở Công nghiệp thành phố, là tổ chức sản xuấtkinh doanh, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế có tư cách pháp nhân (Xí nghiệpliên hợp may sẵn cần làm đề án chuyển thành Liên hiệp Xí nghiệp may sẵn và biệnpháp triển khai chuyển tổ chức).

- Các xí nghiệp quốc doanh trực thuộcLiên hiệp xí nghiệp may sẵn, là những xí nghiệp có tư cách pháp nhân, hoạt độngtheo các chế độ hạch toán kinh tế, bao gồm :

1) Xí nghiệp may Sàigòn 1 (nguyênlà Xưởng may Sàigòn 5).

2) Xí nghiệp may Sàigòn 2 (nguyênlà Xưởng may Sàigòn 1và 4 hợp nhất).

3) Xí nghiệp may Sàigòn 3 (nguyênlà Xưởng may Sàigòn 3 và 2 hợp nhất).

- Liên hiệp xí nghiệp được thànhlập Xí nghiệp cơ khí của ngành làm nhiệm vụ bảo trì, sửa chữa, chế tạo phụ tùngcho các thiết bị chuyên ngành (phương án tổ chức cần có sự gắn bó phối hợp với xínghiệp liên hợp máy may Sin-cô, số cơ sở TTCN vốn có truyền thống tay nghề vàthiết bị kỹ thuật chế tạo các chi tiết máy của ngành may có tín nhiệm).

- Liên hiệp xí nghiệp được thànhlập cửa hàng trực thuộc chuyên lo giao dịch, hợp tác kinh tế, tìm kiếm thị trường,giới thiệu hàng mẫu, tổ chức các cuộc giới thiệu mẫu mới vừa mang tính chất thămdò thị trường, đồng thời hướng dẫn thẫm mỹ thời trang cho nhu cầu xã hội, vớinhiều hình thức sinh động, nghệ thuật, thẩm mỹ, có sức cuốn hút sự quan tâm củađông đảo người tiêu dùng thuộc nhiều lức tuổi, ngành nghề v.v… thông qua tổchức trực tiếp ở từng khu dân cư hoặc qua phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 7 : Ngành may sẵn thành phố được tổ chức thành các nhóm sản phẩmkết hợp theo 2 hướng :

- Theo nhóm sản phẩm chuyên may xuấtkhẩu và nhóm chuyên may hàng nội địa tùy theo trình độ trang bị kỹ thuật taynghề, chất lượng sản phẩm thực hiện so với quy định : (Nhóm may áo gió, áo khoác,mũ nón, găng tay, đồ lót nam, đồ lót nữ v.v…).

- Hoặc tổ chức chuyên môn hóa theotừng công đoạn sản xuất của mỗi loại sản phẫm như công đoạn cắt, may, thêu, inhoa v.v…

Thành phần kinh tế được tham giatừng nhóm sản phẩm ngành may sẵn, tùy thuộc vào trình độ trang bị kỹ thuật, kỹ thuậtthay nghề, trình độ chất lượng sản phẩm để quyết định, trong đó Xí nghiệp quốcdoanh ngành và quận, huyện giữ vai trò chủ đạo của các nhóm, các thành phầnkinh tế khác là vệ tinh. Nhóm sản phẩm hoạt động theo quy định tạm thời banhành theo Quyết định số 24/QĐ-UB ngày 18-02-1982 của Ủy ban Nhân dân thành phố.

Điều 8 : Các cơ sở may sẵn thuộc các thành phần kinh tế do quận, huyệnquản lý, được sắp xếp tổ chức lại theo thành phần kinh tế quy định ở điều 1 vàthành lập các nhóm sản xuất theo quy hoạch ngành.

- Các hợp tác xã, tùy theo khả năng,tiềm năng trình độ kỹ thuật của xã viên để tổ chức sản xuất theo hướng chuyênmôn hóa từng công đoạn sản xuất (cắt, thêu, may hoàn chỉnh v.v…), nay chuyênmôn hóa theo từng loại sản phẩm một cách hợp lý, hoặc theo hướng đầu tư đa dạnghóa về trang bị sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm may sẵn trong điềukiện kế hoạch sản xuất ổn định và sản xuất hàng loạt lớn.

- Thành phần kinh tế tổ sản xuấtvà cá thể nghề may sẵn không còn duy trì, Ủy ban Nhân dân quận, huyện căn cứ vàoquy hoạch phát triển của ngành may sẵn trên địa bàn quận, huyện và điều kiện cụthể hóa các tổ sản xuất và cá thể để tổ chức thành hợp tác xã, xí nghiệp hợpdoanh hoặc đưa về khu vực sản xuất gia đình. Những cửa hàng may sẵn trá hình (kiểu cai, thầu) sẽ xóa bỏ.

Điều 9 : Các xí nghiệp quốc doanh, xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệphợp doanh hợp tác xã thuộc ngành may sẵn do Ủy ban Nhân dân quận, huyện quản lýđều được quyền chủ động tìm khách hàng, ký kết hợp đồng kinh tế, tạo nguyênliệu từ các nguồn quan hệ hợp tác kinh tế, liên doanh, liên kết hợp tác sảnxuất trong ngành, ngoài ngành trong khu vực và các địa phương khác nhằm pháttriển sản xuất trên nguyên tắc :

- Tuân theo các quy định hiện hànhcủa Ủy ban Nhân dân thành phố về quy chế gia công ký kết hợp đồng kinh tế.

- Các cơ sở sản xuất có trách nhiệmthông báo lại cho ngành những nội dung về hợp tác kinh tế và hợp đồng kinh tếđã ký với các nơi, để ngành làm trách nhiệm quản lý theo chức năng quy định.

Điều 10 : Kế hoạch sản xuất kinh doanh toàn ngành được xây dựng từ cơsở sản xuất trên từng địa bàn quận, huyện theo tinh thần chủ động kế hoạch sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm, tự cân đối nguyên liệu vật tư và tự chủ về tàichánh.

Kế hoạch ngành sau khi được Ủy banNhân dân thành phố duyệt, cơ sở sản xuất thuộc quyền quản lý cấp nào do cấp đóchịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo tổ chức thực hiện. Liên hiệp xí nghiệp maysẵn thành phố làm chức năng quản lý ngành theo quy định.

Điều 11 : Tiêu thụ sản phẩm và quản lý thị trường :

- Đối với sản phẩm sản xuất theokế hoạch được cân đối nguyên liệu vật tư và sản xuất theo hợp đồng gia công, cáccơ sở sản xuất phải giao nộp sản phẩm đầy đủ cho khách hang được chỉ định vàtheo hợp đồng kinh tế .

- Sản phẩm thuộc diện kế hoạch tựcân đối, các cơ sở sản xuất ưu tiên tiêu thụ qua thương nghiệp quốc doanh, thươngnghiệp hợp tác xã, sản phẩm xuất khẩu thì tiêu thụ ủy thác qua Tổng Công tyxuất nhập khẩu thành phố. Nếu thương nghiệp và Tổng Công ty xuất nhập khẩu tiêuthụ không hết hoặc từ chối đề nghị tiêu thụ của ngành; các cơ sở được quyền chủđộng đối lưu với các tỉnh, các cơ quan có nhu cầu để tái tạo ngoại tệ, tái sảnxuất.

- Việc thu mua nguồn vải, thu muahàng may sẵn do thương nghiệp quốc doanh đảm trách và tổ chức phân phối, bán lẻcho nhân dân.

Các hợp tác xã mua bán thường xãchỉ có nhiệm vụ làm đại lý bán lẻ và hàng may sẵn cho các tổ chức thương nghiệpquốc doanh, không có chức năng đi thu mua vải và hàng may sẵn.

- Cấm tư nhân và các tổ chức tậpthể không có chức năng về phân phối lưu thông đi thu mua các nguồn vải, hàng maysẵn làm dịch vụ trao đổi hàng hóa khác hay mua đi bán lại kiếm lời.

III- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH :

Điều 12 : Sở Công nghiệp, Liên hiệp xã thành phố, Ủy ban Nhân dân cácquận, huyện, Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh thành phố, Liên hiệp xínghiệp may và các Sở, Ban, Ngành thành phố có liên quan chịu trách nhiệm tổ chứctriển khai việc thực hiện bản quy định tạm thời này.

Điều 13 : Bản quy định này có hiệu lực từ ngày ký, những quy định trướcđây trái với những điều trong bản quy định này đề bãi bỏ.

 ỦY BANNHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH