SỞ THỦY SẢN NÔNG LÂM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 9 tháng 5 năm 1997

QUY ĐỊNH

Về việc khai thác gỗ rừng trồng

_______________________

GIÁM ĐỐC SỞ THỦY SẢN NÔNG LÂM TP ĐÀ NẴNG

Căn cứ Luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-8-1991;

Căn cứ Quyết định số 200/QĐ-KT ngày 31-3-1993 của Bộ Lâm nghiệp (cũ) ban hành quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92);

Căn cứ Quyết định số 927/QĐ ngày 29/8/1994 của Bộ Lâm nghiệp (cũ) ban hành quy chế về khai thác gỗ, củi, tre nứa;

Căn cứ Quyết định số 21/QĐ-UB ngày 03-01-1997 của UBND LT thành phố Đà Nẵng về việc thành lập Sở Thủy sản Nông lâm;

Để thống nhất quản lý về khai thác gỗ rừng trồng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

Sở Thủy sản Nông lâm thành phố quy định:

1. Đối tượng rừng khai thác

- Tất cả rừng trồng (tập trung, phân tán) từ các nguồn vốn của mọi tổ chức, cá nhân (trừ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ tập trung) khi đến tuổi thành thục đều có thể xin khai thác theo kế hoạch của Sở Thủy sản Nông lâm.

- Tuổi thành thục tối thiểu để khai thác (tính từ lúc gieo trồng hoặc tái sinh đến thời điểm khai thác) là:

Rừng keo (các loại): 6 tuổi

Rừng bạch đàn trồng bằng cây con (còn gọi là rừng bạch đàn hạt): 7 - 8 tuổi.

Rừng bạch đàn tái sinh chổi: 5 - 6 tuổi.

Rừng phi lao: 10 tuổi

2. Thủ tục khai thác:

a. Đối với rừng trồng tập trung bằng mọi nguồn vốn có diện tích từ 1 ha trở lên, khi đến tuổi khai thác, chủ rừng phải hoàn tất các thủ tục sau đây trước khi được Sở Thủy sản Nông lâm cấp giấy phép mở rừng:

- Có tờ trình xin khai thác, gởi Sở Thủy sản Nông lâm.

- Lập hồ sơ thiết kế khai thác rừng trồng và tái tạo rừng, do Sở Thủy sản Nông lâm phê duyệt.

- Làm nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất theo luật định và các nghĩa vụ khác theo quy định của thành phố.

Sau khi được cấp giấy phép mở rừng, chủ rừng phải xuất trình các hồ sơ nói trên cho Hạt kiểm lâm sở tại trước lúc khai thác. Hạt kiểm lâm có trách nhiệm kiểm tra quá trình khai thác theo giấy phép, lập biên bản nghiệm thu và đóng rừng sau khai thác, theo dõi và kiểm tra việc tái tạo rừng theo hồ sơ thiết kế được duyệt.

b. Đối với rừng trồng có diện tích dưới 1 ha, cây trồng phân tán hoặc trồng trong vườn nhà, trước khi khai thác chủ rừng phải làm đơn có xác nhận của UBND xã, phường, gởi Hạt kiểm lâm sở tại để giải quyết. Hạt kiểm lâm có trách nhiệm xác định chủ rừng, địa điểm; kiểm tra tuổi rừng khai thác, diện tích, số lượng cây, loài cây và sản lượng lâm sản sẽ khai thác; theo dõi quá trình khai thác; hướng dẫn và kiểm tra việc tái tạo rừng sau khai thác.

Cả 2 trường hợp nói trên, các Hạt kiểm lâm phải gởi báo cáo kết quả về Chi cục Kiểm lâm thành phố, Chi cục Kiểm lâm tổng hợp và báo cáo Sở Thủy sản Nông lâm theo định kỳ hằng quý.

3. Phương thức khai thác:

- Khai thác trắng toàn diện: Áp dụng đối với rừng thuần loại bạch đàn và rừng hỗn giao bạch đàn + keo trồng nơi đất dốc dưới 150 hoặc nơi không có yêu cầu phòng hộ.

- Khai thác trắng theo băng: Áp dụng đối với rừng thuần loại keo, phi lao; riêng rừng thuần loại bạch đàn và rừng hỗn giao bạch đàn + keo được áp dụng đối với những nơi đất dốc từ 150 - 250 hoặc những nơi có yêu cầu phòng hộ. Tùy theo độ dốc, băng chặt và băng chừa có thể có bề rộng bằng nhau và rộng không quá 30 m nhưng phải bảo đảm nơi chân đồi và đỉnh đồi phải có băng chừa để chống xói mòn. Ở vùng đồi, băng được bố trí song song với đường đồng mức; ở vùng cát, băng được bố trí thẳng góc với hướng gió chính.

4. Thiết kế khai thác rừng trồng và tái tạo rừng:

Phương án thiết kế do chủ rừng lập nên phải được UBND cấp xã, phường (hoặc hợp tác xã nông nghiệp) đồng ý cho khai thác (ngoại trừ rừng của lâm trường, nông trường quốc doanh) và Hạt kiểm lâm sở tại kiểm tra xác nhận trước khi trình Sở TSNL phê duyệt.

Nội dung cụ thể của phương án thiết kế được hướng dẫn tại phụ lục đính kèm quy định này.

Hồ sơ thiết kế được đóng thành 6 tập, mỗi tập phải kèm theo: Tờ trình xin phê duyệt (đính ở trang đầu, do đơn vị thiết kế và chủ rừng cùng ký tên), Bản đồ thiết kế kỹ thuật tỷ lệ 1/5.000 hoặc 1/10.000 (đính ở trang cuối, tỷ lệ bản đồ thay đổi tùy theo diện tích thiết kế khai thác lớn hay nhỏ).

Hằng năm, các chủ rừng phải hoàn tất phương án thiết kế trước ngày 30-8 và gửi về Sở TSNL để trình duyệt, chuẩn bị cho kế hoạch khai thác gỗ rừng trồng năm sau. Riêng năm 1997, do nhiều điều kiện khách quan nên vừa xúc tiến duyệt thiết kế khai thác gỗ rừng trồng năm 1998 (từ năm đến 30-8-1997) đồng thời với duyệt thiết kế khai thác và cấp giấy phép mở rừng khai thác gỗ rừng trồng năm 1997.

Quy định này áp dụng cho tất cả các cơ sở, tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Phó Giám Đốc

(Đã ký)

Trần Thạch