ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 24/QĐ-UB

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 02 năm 1982

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH BẢN QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNGCỦA NHÓM SẢN PHẨM

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồngnhân dân và Ủy ban Hành chánh các cấp ngày 27-10-1962 ;
- Căn cứ Nghị định 24/CP ngày 2-2-1976 của Hội đồng Chính phủ ban hành bản quyđịnh về nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền Nhà nước cấp tỉnhtrong lĩnh vực quản lý kinh tế ;
- Để tiến hành tổ chức hiệp tác sản xuất – kinh doanh theo ngành kinh tế - kỹthuật trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo đề nghị của đồng chí Giám đốc SởCông nghiệp thành phố trong tờ trình số : 1372 ngày 5-12-1981;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.-Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản quy định tạm thờivề tổ chức và hoạt động của nhóm sản phẩm.

Điều 2.-Bản quy định này áp dụng cho các nhóm sản phẩm thuộc cácngành công nghiệp được tổ chức và hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 3.-Căn cứ vào bản quy định tạm thời này trong phạm vi Côngnghiệp do địa phương trực tiếp quản lý, Sở Công Nghiệp có trách nhiệm hướng dẫnviệc thi hành cụ thể, tiếp tục theo dõi để bổ sung hoàn chỉnh bản quy định trìnhỦy ban nhân dân Thành phố ban hành chính thức.

Các cơ quan chức năng liên quancó trách nhiệm nghiên cứu và đề xuất các chế độ chính sách thích hợp đối với tổchức và hoạt động của nhóm sản phẩm.

Điều 4.-Các đồng chí Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố,Giám đốc Sở Công nghiệp và Giám đốc các sở có quản lý xí nghiệp công nghiệp, Chủnhiệm Liên hiệp xã Thành phố, Trưởng các ban, ngành trực thuộc Ủy ban nhân dânThành phố và Chủ tịch các Ủy ban nhân dân quận, huyện chịu trách nhiệm thi hànhQuyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Võ Thành Công

BẢN QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM SẢN PHẨM(Ban hành kèm theo Quyết định số : 24 /QĐ-UB ngày 18-02-1982 của Ủy bannhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.-Nhóm sản phẩm là một tổ chức hiệp tác sản xuất kinhdoanh theo ngành kinh tế - kỹ thuật hoặc theo mặt hàng giữa các đơn vị sản xuất– kinh doanh độc lập, thuộc những thành phần sở hữu và quan hệ trực thuộc khácnhau.

Việc tổ chức nhóm sản phẩm trênđịa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theongành với quản lý theo lãnh thổ, và được tiến hành theo hướng phân công sản xuấtchuyên môn hóa kết hợp với hiệp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các đơn vị thànhviên trong mỗi nhóm, bảo đảm sử dụng hợp lý mọi tiềm năng về lao động, vật tư,thiết bị và tiền vốn, đẩy mạnh sản xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nângcao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất – kinh doanh.

Điều 2.-Các đơn vị sản xuất – kinh doanh trên địa bàn thành phốcần được liên kết lại trong từng nhóm sản phẩm căn cứ vào sản xuất chính củachúng có những đặc điểm chung sau đây :

- Sản xuất ra sản phẩm giốngnhau hoặc sản phẩm cùng loại.

- Có công nghệ cơ bản giốngnhau.

- Sử dụng nguyên liệu chủ yếu giốngnhau hoặc cùng loại.

- Sản xuất ra các bộ phận cấuthành của sản phẩm hoặc thực hiện từng công đoạn của một quá trình sản xuất thốngnhất để làm ra sản phẩm cuối cùng là sản phẩm chung.

Điều 3.-Nhóm sản phẩm không phải là một đơn vị kinh tế mang tưcách pháp nhân, và không phải là một cấp quản lý.

Mọi hoạt động của nhóm sản phẩmphải quán triệt những nguyên tắc sau đây :

1. Bình đẳng trong quan hệ hiệptác sản xuất – kinh doanh giữa các đơn vị thành viên. Đó là quan hệ giữa cácđơn vị kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, và theo luật hợp đồng kinh tế củaNhà nước.

2. Mọi nhiệm vụ trong chươngtrình hoạt động của nhóm đều phải thông qua bàn bạc để tập thể nhất trí, bảo đảmphù hợp với phương hướng và nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước, các chế độ, chính sáchvà luật pháp hiện hành. Trên cơ sở ấy, từng đơn vị thành viên độc lập giải quyếtnhững nhiệm vụ được nhóm phân công với tinh thần tự chịu trách nhiệm.

3. Hiệp tác và giúp đỡ lẫn nhautrên cơ sở các bên đều có lợi, bảo đảm thống nhất lợi ích của mỗi đơn vị thànhviên với lợi ích của toàn nhóm và của xã hội.

Điều 4.

- Trong việc xây dựngphương án thành lập nhóm sản phẩm trên địa bàn thành phố phải căn cứ vào đặc điểmvề kinh tế kỹ thuật, thành phần sở hữu, quan hệ trực thuộc và sự phân bổ theolãnh thổ của các đơn vị sản xuất – kinh doanh trong từng ngành khác nhau đểnghiên cứu lựa chọn đối tượng hiệp tác sản xuất – kinh doanh, xác định chứcnăng quản lý và địa bàn tổ chức hoạt động cho phù hợp với điều kiện cụ thể củatừng nhóm. Trong điều kiện nền kinh tế còn 5 thành phần việc tổ chức nhóm sảnphẩm cần hết sức linh hoạt, nâng dần theo trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất và yêu cầu thực tiễn của sản xuất đề ra. Có thể tiến hành từ hẹp đến rộngvề qui mô hiệp tác, từ thấp đến cao về yêu cầu quản lý, nhằm từng bước phát huytác dụng của nhóm sản phẩm trong mọi tổ chức và quản lý sản xuất – kinh doanhtheo ngành kinh tế - kỹ thuật trên địa bàn thành phố.

Về đối tượng, có thể tiến hànhhiệp tác sản xuất – kinh doanh trên một mặt hàng, một số hoặc toàn bộ các đốitượng sản xuất – kinh doanh trong danh mục mặt hàng thuộc ngành kinh tế - kỹthuật đã được phân định, có thể hiệp tác trong việc khai thác vật tư, tận dụngphế liệu, phế phẩm, tổ chức thực hiện những dịch vụ phục vụ khách hàng.

Về chức năng quản lý, có thể tổchức thực hiện từng chức năng hoặc một số chức năng quản lý trong quá trình hiệptác sản xuất – kinh doanh, như các chức năng quản lý về kỹ thuật, kế hoạch, vậttư, tiêu thụ, lao động, tài chính, giá cả. Trong đó, quan trọng nhất là hợp tácvà quản lý về kỹ thuật, thống nhất về thiết kế sản phẩm, phân công chuyên mônhóa sản xuất, thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm tạo khả năng lắp lẫn, nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm, giúp đỡ nhau về thiết kế, chế tạo máychuyên dùng, gá lắp, dụng cụ kiểm tra…

Về địa bàn tổ chức hoạt động,nhóm sản phẩm được thành lập trên địa bàn thành phố không phụ thuộc vào ranh giớilãnh thổ của các quận, huyện. Một nhóm sản phẩm có thể liên kết các đơn vị sảnxuất – kinh doanh trên địa bàn toàn thành phố, trên một số quận, huyện, hoặctrong phạm vi từng quận, huyện.

Trong trường hợp xét thấy hợp lývề mặt tổ chức hiệp tác sản xuất – kinh doanh và có hiệu quả về kinh tế và kỹthuật, nhóm sản phẩm trên địa bàn thành phố có thể kết nạp những đơn vị sản xuất– kinh doanh ở các địa phương kế cận làm thành viên của nhóm, khi có sự nhấttrí của cơ quan cấp trên của những đơn vị ấy.

Điều 5.-Để phát huy đầy đủ năng lực sản xuất và sở trường nhiều mặtcủa mình, một đơn vị sản xuất – kinh doanh có thể tham gia một số nhóm sản phẩmkhác nhau, và có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những quy định của các nhóm mà mìnhtham gia.

Việc các đơn vị sản xuất – kinhdoanh gia nhập nhóm sản phẩm hoàn toàn không làm giảm trách nhiệm của các đơn vịấy trước cấp trên trực tiếp của mình trong việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ kếhoạch Nhà nước được giao.

Điều 6.-Để tạo điều kiện cho sự hình thành nhóm sản phẩm và hiệptác sản xuất – kinh doanh thực sự giữa các đơn vị ấy có trách nhiệm phối hợp chặtchẽ với nhau trong việc chỉ đạo công tác nhóm sản phẩm. Sự phối hợp đó phải đượctiến hành đều đặn theo chu kỳ kế hoạch, và trên một số dự án sau đây :

1. Dự án bố trí, sắp xếp các đơnvị sản xuất – kinh doanh vào các nhóm sản phẩm theo quy định ở điều 2 và tiến cửđơn vị chủ đạo trong nhóm (theo điểm 2, điều 10, chương III). Trên cơ sở ấy, hướngdẫn và động viên các đơn vị sản xuất – kinh doanh tham gia nhóm sản phẩm.

2. Dự án về tổ chức và phân côngsản xuất chuyên môn hóa trong nhóm sản phẩm.

3. Dự án kế hoạch hiệp tác sảnxuất – kinh doanh trong nhóm sản phẩm trên một số chỉ tiêu chủ yếu, trước hếtlà chỉ tiêu sản lượng sản phẩm chủ yếu và khối lượng vật tư được cân đối.

4. Dự án kế hoạch tiến bộ khoa học- kỹ thuật và quản lý chất lượng sản phẩm. Trong đó, đề ra các mức chỉ tiêukinh tế - kỹ thuật để phối hợp hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện đối với các đơn vịtham gia nhóm sản phẩm.

Cơ quan chủ trì phối hợp là cơquan cấp trên trực tiếp của đơn vị chỉ đạo trong nhóm sản phẩm.

Chương II

NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦANHÓM SẢN PHẨM VÀ CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN

Điều 7.-Nhóm sản phẩm có những nhiệm vụ chính sau đây :

1. Căn cứ vào phương hướng pháttriển và nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước của ngành, xây dựng các phương án kế hoạch hiệptác sản xuất – kinh doanh và phân công sản xuất chuyên môn hóa, bảo đảm khaithác mọi tiềm năng và sở trường truyền thống của các đơn vị thành viên nhằm sửdụng một cách có hiệu quả nhất sức mạnh tổng hợp của toàn nhóm.

2. Xây dựng và tổ chức thực hiệncác phương án hiệp tác về kỹ thuật và quản lý kỹ thuật trong nhóm, từ khâu thiếtkế, qua quá trình công nghệ đến kiểm tra xuất xưởng đối với những sản phẩm hiệptác sản xuất của nhóm ; phối hợp nghiên cứu phát triển mặt hàng mới, công nghệmới, phát hiện và tận dụng các nguồn vật tư có trong nước để thay thế những vậttư nhập khẩu; thực hiện việc đăng ký sản phẩm của nhóm, nêu rõ quy cách, thànhphần cấu tạo và các mức chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm ; tổ chức công tác kiểmtra kỹ thuật trong nhóm, bảo đảm thực hiện các định mức kinh tế - kỹ thuật vàtiêu chuẩn chất lượng quy định.

3. Tổ chức việc phổ biến nhữngkinh nghiệm về sản xuất và quản lý giữa các đơn vị thành viên, giúp nhau giảiquyết những khó khăn về kỹ thuật, hỗ trợ chuyên gia và bồi dưỡng đào tạo cán bộ,công nhân.

4. Tổ chức việc phối hợp khaithác và cung ứng vật tư, xây dựng và cùng nhau thực hiện những định mức vật tưcó căn cứ khoa học ; nhượng cho nhau những thiết bị, vật tư ứ đọng và phế liệu,phế phẩm theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp của Nhà nước.

5. Tổ chức hợp lý các mối quan hệvề tiêu thụ sản phẩm, tiến hành nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của thị trườngtrong nước và ngoài nước, giới thiệu các loại mặt hàng của nhóm, và tổ chức cácdịch vụ phục vụ khách hàng.

6. Xây dựng và thực hiện phươngán hiệp tác về tiền vốn để đầu tư xây dựng, trang bị kỹ thuật và mở rộng sản xuất– kinh doanh.

7. Không ngừng phát triển và kiệntoàn về tổ chức và hoạt động của nhóm, củng cố và hoàn thiện các mối quan hệ hiệptác giữa các đơn vị thành viên, xây dựng nhóm thành một tổ chức hiệp tác sản xuất– kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Qua đó, kiến nghị với các cơ quan cấp trên cảitiến, đổi mới cơ chế quản lý hiện hành để thúc đẩy sản xuất – kinh doanh ngàycàng phát triển.

Căn cứ vào mục tiêu hiệp tác sảnxuất – kinh doanh trong từng kỳ kế hoạch và những chỉ dẫn vận dụng ở điều 4chương I, những nhiệm vụ trên đây cần được cụ thể hóa thành chương trình hoạt độngphù hợp với điều kiện của từng nhóm sản phẩm.

Điều 8.-Mọi đơn vị thành viên đều có nghĩa vụ góp phần xây dựngvà củng cố nhóm sản phẩm, thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ được phân công theonghị quyết của nhóm mà mình đã tham gia biểu quyết.

Điều 9.-Mọi đơn vị thành viên nhóm sản phẩm đều được hưởng cácquyền lợi sau :

1. Được sử dụng thiết kế nhãn hiệuchung của sản phẩm do nhóm làm ra và được sử dụng các kết quả nghiên cứu chungcủa nhóm.

2. Được Nhà nước ưu tiên giao kếhoạch sản xuất, gia công đặt hàng và tùy khả năng cho phép được ưu tiên xétcung cấp trang thiết bị, vật tư kỹ thuật, năng lượng…

3. Được Nhà nước ưu tiên xét cấpvốn đầu tư xây dựng cơ bản, ưu tiên vay vốn ngân hàng, với lãi suất khuyếnkhích để tự trang tự chế thiết bị mở rộng sản xuất.

4. Được cử người tham gia đào tạo,bồi dưỡng tay nghề, tham gia khảo sát và thực tập trong và ngoài nước theo kếhoạch chung của nhóm.

Chương III

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦANHÓM SẢN PHẨM

Điều 10.-Dựa vào dự án do các cơ quan chủ quản phối hợp chuẩn bị(theo điều 6 chương I), hội nghị toàn thể những người đứng đầu các đơn vị dự địnhlà thành viên của nhóm sản phẩm được tổ chức để thảo luận và ra quyết địnhthành lập nhóm.

Nghị quyết thành lập nhóm sản phẩmphải định rõ phương hướng, mục tiêu, chương trình hoạt động, và cơ cấu tổ chứccủa nhóm phù hợp với những quy định trong bản quy định này.

Nghị quyết thành lập nhóm sản phẩmphải được toàn thể những người đứng đầu các đơn vị thành viên biểu quyết thôngqua.

Điều 11.-Cơ cấu tổ chức của nhóm sản phẩm được quy định như sau :

1. Hội đồng những người đứng đầucác đơn vị thành viên của nhóm sản phẩm (gọi tắt là Hội đồng nhóm sản phẩm) lànơi quyết định toàn bộ chương trình hoạt động và các biện pháp quản lý củanhóm.

Hội đồng nhóm sản phẩm bầu raBan thường trực của Hội đồng gồm có Chủ tịch, một hoặc hai Phó Chủ tịch và mộtsố ủy viên. Trong đó, Giám đốc hoặc Chủ nhiệm đơn vị chủ đạo là Chủ tịch nhóm.

2. Mỗi nhóm sản phẩm phải có mộtđơn vị chủ đạo là đơn vị đầu đàn trong nhóm về kinh tế, kỹ thuật, đội ngũ cán bộvà năng lực tổ chức quản lý, có khả năng thiết lập và điều phối các mối quan hệtrong phân công và hiệp tác sản xuất – kinh doanh giữa các đơn vị thành viêntrong nhóm. Đơn vị chủ đạo có thể là xí nghiệp quốc doanh trung ương, xí nghiệpquốc doanh địa phương hoặc hợp tác xã khi trong nhóm chưa có xí nghiệp quốcdoanh giữ vị trí chủ đạo.

- Đơn vị chủ đạo trong nhóm sảnphẩm do các cơ quan cấp trên trực tiếp của các đơn vị thành viên nhất trí tiếncử.

3. Mỗi nhóm sản phẩm có một sốban chuyên môn (phối hợp kế hoạch, phối hợp cung tiêu, kỹ thuật, đào tạo…) tùytheo yêu cầu cần thiết của từng nhóm. Thành viên trong các ban chuyên môn làcán bộ kiêm nhiệm, được tiến cử từ các đơn vị thành viên, chủ yếu dựa vào đơn vịchủ đạo.

4. Đối với những nhóm sản phẩmhoạt động trên qui mô tương đối lớn, địa bàn rộng, trong mỗi nhóm có thể lập ramột số phân nhóm.

Điều 12.-Hội đồng nhóm sản phẩm mỗi năm họp đại hội 1 lần để tiếnhành những công việc sau đây:

1. Kiểm điểm hoạt động của nhómtrong kỳ kế hoạch trước.

2. Thảo luận và kiến nghị lên cơquan chủ quản và Ủy ban nhân dân Thành phố các phương án về đầu tư xây dựng vàmở rộng sản xuất kinh doanh của nhóm trong kỳ kế hoạch tới, về phân công sản xuất,về những vấn đề trong cơ chế quản lý cần được hoàn thiện.

3. Thảo luận để xác định mụctiêu và thông qua chương trình hoạt động của nhóm trong kỳ kế hoạch tới.

4. Thỏa thuận trên nguyên tắc vàhướng dẫn việc ký kết các hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị thành viên trong hiệptác sản xuất – kinh doanh.

5. Thảo luận và thông qua các biệnpháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của nhóm, về quan hệ giữa các đơn vịthành viên, về kết nạp các thành viên mới…

6. Bầu các Ủy viên trong Ban Thườngtrực của Hội đồng nhóm sản phẩm và cử các ban chuyên môn theo nhiệm kỳ hai năm.

7. Duyệt quyết toán và dự toánkinh phí của nhóm.

8. Xét khen thưởng những đơn vịvà cá nhân có thành tích trong công tác nhóm sản phẩm.

Ngoài cuộc họp đại hội hàng năm,tùy theo đặc điểm hoạt động của từng nhóm. Hội đồng nhóm sản phẩm có thể họptheo định kỳ sáu tháng hoặc hàng qúy để tiến hành những công việc ở các mục 1,3, 4, 5 và 8 nói trên, và có thể triệu tập họp bất thường để giải quyết nhữngcông việc cấp thiết của nhóm khi đa số các thành viên yêu cầu hoặc Chủ tịchnhóm xét thấy cần thiết.

Điều 13.-Đơn vị chủ đạo trong nhóm sản phẩm có nhiệm vụ :

1. Chủ trì và là hạt nhân phối hợpvới các đơn vị thành viên trong nhóm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hợptác sản xuất – kinh doanh, và đảm nhận những nhiệm vụ then chốt trong chươngtrình hoạt động của nhóm.

2. Giúp đỡ các đơn vị thành viêntrong nhóm giải quyết những khó khăn về phương tiện và kỹ thuật sản xuất, đào tạocán bộ, công nhân, truyền thụ những kinh nghiệm về tổ chức quản lý, phát hiệnvà trợ giúp những tài năng, tay nghề truyền thống.. nhằm huy động mọi tiềm năngđể phát triển sản xuất – kinh doanh, tăng thu nhập của các đơn vị thành viên vàthực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước.

Điều 14.-Ban Thường trực của Hội đồng nhóm sản phẩm có nhiệm vụ :

1. Thường xuyên theo dõi và điềuhòa, phối hợp hoạt động của toàn nhóm trong thời gian giữa hai kỳ họp của Hội đồngnhóm sản phẩm.

2. Phân công chỉ đạo hoạt động củacác phân nhóm và các ban chuyên môn.

3- Chuẩn bị báo cáo sơ kết hàngquý, sáu tháng và tổng kết hàng năm để Chủ tịch nhóm trình bày trước cuộc họp Hộiđồng nhóm sản phẩm.

Điều 15.-Chủ tịch nhóm sản phẩm có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Điều hành mọi hoạt động củanhóm theo Nghị quyết của Hội đồng nhóm sản phẩm.

2. Đôn đốc, kiểm tra và hướng dẫncác đơn vị thành viên thực hiện những nhiệm vụ được phân công theo Nghị quyết củaHội đồng nhóm sản phẩm.

3. Được sử dụng kinh phí củanhóm vào các mục đích và theo thủ tục đã được Hội đồng nhóm sản phẩm thông qua.

4. Đại diện cho nhóm trong cácquan hệ giao dịch với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức sản xuất – kinh doanhtheo ủy nhiệm của Hội đồng nhóm sản phẩm hoặc các đơn vị thành viên.

5. Chỉ định người trong Ban Thườngtrực thay thế mình khi vắng mặt. Người đuợc chỉ định thay thế có đầy đủ quyền hạnvà nhiệm vụ như Chủ tịch nhóm sản phẩm.

6. Triệu tập các cuộc họp Hội đồngnhóm sản phẩm.

Điều 16.-Các Ban chuyên môn có nhiệm vụ :

1. Nghiên cứu giải quyết những vấnđề về kỹ thuật và tổ chức quản lý, về đào tạo cán bộ, công nhân theo yêu cầu củanhóm hoặc từng đơn vị thành viên.

2. Tổ chức sinh hoạt chuyên đề đểtrao đổi kinh nghiệm, phổ biến những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất hoặc những thành tựu khoa học - kỹ thuật để vận dụng vào giải quyết nhữngnhiệm vụ trong chương trình hoạt động của nhóm và của các đơn vị thành viên.

Điều 17.-Các cán bộ làm công tác nhóm sản phẩm, kể cả Chủ tịchnhóm, là cán bộ kiêm nhiệm, vẫn hưởng lương và các khoản phụ cấp do đơn vị quảnlý những cán bộ đó đài thọ.

Hội đồng nhóm sản phẩm có thểquyết định trích kinh phí của nhóm để đài thọ thêm cho những cán bộ, nhân viênkiêm nhiệnm công tác nhóm sản phẩm và thưởng cho những người có nhiều thànhtích.

Điều 18.-Kinh phí của nhóm sản phẩm chỉ để chi cho các hoạt độngchung của nhóm như chi cho các hội nghị, mua sắm văn phòng phẩm, chi cho hoạt độngcủa Chủ tịch nhóm, khen thưởng và đài thọ thêm cho những cán bộ, nhân viên kiêmnhiệm công tác nhóm sản phẩm.

Kinh phí của nhóm sản phẩm docác đơn vị thành viên đóng góp tương ứng với phần giá trị sản lượng của từngđơn vị thành viên trong tổng giá trị sản lượng sản phẩm hiệp tác của nhóm.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 19.-Bản quy định này áp dụng cho các nhóm sản phẩm thuộc cácngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Dựa vào bản quy định này,mỗi nhóm sản phẩm cần xây dựng những quy định cụ thể cho phù hợp với đặc điểm củamình.

Điều 20.-Sau khi thành lập, Chủ tịch nhóm sản phẩm phải đăng ký tổchức nhóm tại Sở Công nghiệp (hoặc Sở chủ quản) nếu đơn vị chủ đạo là Xí nghiệpquốc doanh, công tư hợp doanh hoặc đăng ký tại Liên hiệp xã Thành phố nếu đơn vịchủ đạo lả hợp tác xã, tổ sản xuất.

Điều 21.-Bản quy định này có hiệu lực từ ngày Ủy ban nhân dânThành phố Hồ Chí Minh ký quyết định ban hành.