BỘ GIÁO DỤC
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 240/QĐ

Hà Nội, ngày 5 tháng 3 năm 1984

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC

– Căn cứ quyết định số 19/CP ngày 29-1-1966 và số 6/CP ngày7-1-1971 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máycủa Bộ giáo dục;

– Căn cứ nghị định số 35/CP ngày 9-2-1981 của Hội đồng Chínhphủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng củaBộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;

– Căn cứ quyết định số 219/CP ngày 4-12-1975 của Hội đồngChính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Giáo dục tổ chức biên soạn sách giáo khoa vàsách hướng dẫn giảng dạy phục vụ cải cách giáo dục;

– Xét nhu cầu thống nhất chính tả và thuật ngữ trong sáchcải cách giáo dục;

– Theo đề nghị của Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ thành lậptheo quyết định 2000/QĐ ngày 25-12-1982 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và của Hộiđồng chuẩn hóa chính tả thành theo quyết định 2001/QĐ ngày 25-12-1982 của Bộtrưởng Bộ giáo dục;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay ban hành kèm theo quyết định này bản “Quy định về chính tả tiếngViệt và về thuật ngữ tiếng Việt” áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bảncủa ngành giáo dục.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và ban hành. Những quyđịnh trước đây trái với quyết định này đều bãi bỏ.

Điều 3: Các ông chánh văn phòng, giám đốc trung tâm biên soạn sách cải cách giáodục, thủ trưởng các đơn vị tổ chức thuộc Bộ, hiệu trưởng các trường trực thuộcBộ, giám đốc các sở giáo dục có trách nhiệm thi hành quyết định này.

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC




Nguyễn Thị Bình

QUY ĐỊNH

VỀ CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT VÀ VỀ THUẬTNGỮ TIẾNG VIỆT(Ban hành kèmtheo quyết định số 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ giáo dục)

Ngày 30 tháng 11 năm 1980, Bộ giáo dục và Ủy ban khoa học xãhội đã ban hành một số quy định về chính tả tiếng Việt. Nay căn cứ quyết nghịngày 1-7-1983 của Hội đồng chuẩn hóa chính tả và Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ,Bộ giáo dục ban hành những quy định mới. Những quy định này phần lớn là sựkhẳng định lại những quy định năm 1980 nói trên, nhưng cũng có phần, về chitiết, là sự điều chỉnh lại những quy định đó.

I- QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT

Chính tả tiếng Việt cần được chuẩn hóa và thống nhất. Để chocông việc này đạt được hiệu quả tốt, phải khẩn trương biên soạn các loại từđiênt chính tả. Trong khi chờ đợi xuất bản những sách công cụ cần thiết đó, bảnquy định này đề ra những nguyên tắc chung và một số quy định chủ yếu. Việc biênsoạn các từ điển tất nhiên phải dựa trên những nguyên tắc và quy định này.

Bản quy định này đề cập đến hai trường hợp về chính tả:những từ tiếng Việt mà hiện nay chuẩn chính tả chưa rõ; những tên riêng khôngphải tiếng Việt.

A - NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Đối với những từ tiếng Việt mà hiện nay chuẩn chính tảchưa rõ, nên chọngiải pháp chuẩn hoá theo nguyên tắc chung sau đây:

a) Tiêu chí của giải pháp chuẩn hoá cần được cân nhắc chothích hợp với các trường hợp khác nhau (tùy trường hợp, có thể là tiêu chí vềphát âm hay tiêu chí về từ nguyên).

b) Khi chuẩn chính tả đã được xác định, phải nghiêm túc tuântheo; tuy việc chuẩn hóa và thống nhất phát âm chưa đặt thành yêu cầu cao nhưngcũng nên dựa vào chuẩn chính tả mà phát âm.

c) Ở trường hợp chưa xác định được chuẩn chính tả thì nênchấp nhận biến thể.

2. Đối với tên riêng chưa không phải tiếng Việt thì nguyên tắc chung là:

a) Về chính tả, cần tôn trọng nguyên hình theo chữ viếtLatin hay chuyển tự Latin trong nguyên ngữ.

b) Về phát âm, phải hướng dẫn để dần dần có được cách phátâm thích hợp, thống nhất.

B - QUY ĐỊNH CỤ THỂ

1. Về những từ tiếng Việt mà chuẩn chính tả hiện nay chưa rõ, có thể nhận thấy những trường hợpchủ yếu sau đây, và đối với mỗi trường hợp, nên dùng tiêu chí thích hợp. Cụ thểlà:

a) Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xãhội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán).

Thí dụ: chỏng gọng (tuy là chổng gọng theo từnguyên)

đại bàng (tuy là đại bằng theo từ nguyên)

b) Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõmột hình thức ngữ âm ổn định.

Thí dụ: trí mạng (tuy cũng có gặp hình thức phát âm chímạng)

c) Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả màchưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả haihình thức ấy, cho đến khi nào thói quen sử dụng nghiêng hẳn về một hình thức.

Thí dụ: eo sèoeo xèo

sứ mạngsứ mệnh.

Trong khi chờ đợi có từ điển chính tả, tạm dùng cuốn “Từđiển chính tả phổ thông” do Viện văn học xuất bản năm 1963.

2. Về tên riêng không phải tiếng Việt, cần chú ý đến những trường hợpchính với quy định sau đây đối với mỗi trường hợp.

a) Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữđúng nguyên hình trên chữ viết của nguyên ngữ; kể cả các chữ cái f, j, w, znhư trong nguyên ngữ; dấu phụ ở một số chữ cái trong nguyên ngữ có thể lượcbớt.

Thí dụ: Shakespeare, Paris, Wrocaw (có thể lượcdấu phụ ở chữ cái )

Petõfi (có thể lược dấu phụ ở chữ cái õ)

b) Nếu chữ viết của nguyên ngữ thuộc một hệ thống chữ cáikhác thì dùng lối chuyển tự chính thức sang chữ cái Latin.

Thí dụ: Lomonosov, Moskva, Abdel

c) Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghitừng âm bằng chữ cái thì dùng lối phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin(thường là cách phiên âm đã có tính chất phổ biến trên thế giới).

Thí dụ: Tokyo

d) Đối với trường hợp tên riêng mà trong thực tiễn sử dụngrộng rãi trên thế giới đã quen dùng một hình thức viết bằng chữ cái Latin khácvới nguyên ngữ (thường đó là tên một số nước, thành phố) thì dùng hình thức tênriêng phổ biến đó.

Thí dụ: Hungary (tuy trong nguyên ngữ là Magyarorszag)

Bangkok (tuy trong nguyên ngữ là Krung Thep hoặc KrungRattanakosin)

e) Đối với trường hợp những sông, núi thuộc nhiều nước (vàdo đó có những tên riêng khác nhau) thì dùng hình thức tương đối phổ biến trênthế giới và trong nước; tuy vậy trong những văn bản nhất định, do yêu cầuriêng, có thể dùng hình thức dựa theo ngôn ngữ của địa phương.

Thí dụ: sông Danube (có thể dùng Donau theotiếng Đức, Duna theo tiếng Hungary, Dunares theo tiếng Rumania)

g) Đối với những tên riêng hay bộ phận của tên riêng (thườnglà địa danh) mà có nghĩa thì dùng lối dịch nghĩa phù hợp với chủ trương chungcó thể nhận thấy qua các ngôn ngữ trên thế giới.

Thí dụ: Biển Đen, Guinea xích đạo

h) Những tên riêng đã có hình thức phiên âm quen thuộc trongtiếng Việt thì hiện nay nói chung, không cần thay đổi, trừ một số trường hợpđặc biệt có yêu cầu riêng thì phải thay đổi.

Thí dụ: Pháp, Hy Lạp, Bắc Kinh, Lỗ Tấn; nhưng Italia(thay cho Ý), Astralia (thay cho Úc)

Tuy vậy cũng có thể chấp nhận sự tồn tại những hình thứckhác nhau của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau.

Thí dụ: La Mã (thành phố La Mã, đế quốc La Mã, chữsố La Mã)

Roma (thủ đô Italia ngày nay)

i) Tên riêng trong các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng thuộc trường hợp tên riêng không phải tiếng Việt: theo các quy định về chính tảcủa Bộ Giáo dục và Ửy ban Khoa học Xã hội ngày 30-11-1980.

Những quy định mới trên đây về tên riêng không phải tiếngViệt có thể thực hiện từng bước để tránh bỡ ngỡ lúc đầu, như vừa dùng nguyênhình theo nguyên ngữ, vừa có chú thích phát âm lối phiên âm. Nhưng cần phảitiến hành sự thực hiện từng bước này một cách khẩn trương và đặc biệt phải theotinh thần tôn trọng nguyên tắc nói trên.

Để thực hiện một cách nhất quán những quy định này, cần cótừ điển nhân danh, địa danh. Công việc biên soạn, xuất bản, phát hành các loạitừ điển này cần được tiến hành khẩn trương. Trong khi chờ đợi, có thể tham khảotừ điển nhân danh, địa danh nước ngoài và khi cần, đặc biệt khi biên soạn sách,nên tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn.

3. Về tên riêng tiếng Việt, theo các quy định của Bộ giáo dục và Ủy ban khoahọc xã hội ngày 30-11-1980:

a) Đối với tên người và tên nơi chốn, viết hoa chữ cái đầutất cả các âm tiết, không dùng gạch nối.

Thí dụ: Trần Quốc Toản, Quang Trung, Hà Nội, Bình TrịThiên, Vũng Tàu

b) Đối với tên tổ chức, cơ quan, chỉ viết hoa chữ cái đầucủa âm tiết đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên.

Thí dụ: Đảng cộng sản Việt Nam, Trường đại học bách khoaHà Nội

II- QUY ĐỊNH VỀ THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT

Chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ tiếng Việt nói chung, vàđặc biệt thuật ngữ của các chuyên ngành khoa học, kĩ thuật là một công việc rấtquan trọng và có tính chất cấp thiết.

Trong hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, có bộ phận thuật ngữđược cấu tạo bằng chất liệu và theo quy tắc tiếng Việt, và có bộ phận vốn đượccấu tạo bằng chất liệu và theo quy tắc của một số ngôn ngữ cổ điển và hiện đạiphương Tây.

Yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ tiếng Việt đượcđặt ra đối với cả hai bộ phận nói trên và cần xúc tiến khẩn trương việc biênsoạn, xuất bản và phát hành các từ điển thuật ngữ để hoàn chỉnh hệ thống thuậtngữ tiếng Việt.

Bản quy định này chú ý nhiều hơn đến bộ phận thuật ngữ thứhai, vì ở bộ phận này đang cần có những quy định mới.

A - NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Trong yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ tiếngViệt, cần rất coitrọng các tiêu chí về tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng để xác địnhchuẩn về từ ngữ nói chung. Tuy nhiên trong tình hình khoa kĩ thuật tiến như vũbão với hiện tượng “bùng nổ thông tin”, nên đặc biệt chú ý đến các tiêu chí vềtính khoa học và tính quốc tế của thuật ngữ, nhất là thuật ngữ của các chuyênngành hẹp về khoa học và kĩ thuật.

2. Đối với những thuật ngữ đã được dùng phổ biến trong cáctiếng nước ngoàithì nói chung nên dùng một hình thức đã thành quen thuộc trong phạm vi quốc tế,có thể chấp nhận một sự điều chỉnh nhất định đối với hình thức đó, nhưng khôngnên lấy yêu cầu đồng hóa theo ngữ âm và chữ viết tiếng Việt làm tiêu chí chỉđạo. Đối với những thuật ngữ này, chuẩn chính tả là chính, về ngữ âm, nên hướngdẫn để dần dần tiến tới cách phát âm thống nhất trong cả nước.

B - QUY ĐỊNH CỤ THỂ

1. Về những thuật ngữ tiếng nước ngoài được dùng vào tiếngViệt, có những quyđịnh sau đây:

a) Trong quá khứ sử dụng thuật ngữ tiếng nước ngoài vàotiếng Việt, và theo các quy định trước đây, các phụâm đầu như p, z, w... và tổ hợp phụ âm đầu như bl, cr, str... vốn khôngcó trong tiếng Việt và đã được dùng thì nay, theo quy định mới này, những phụâm cuối vốn không có trong tiếng Việt như b, d, f, g, j, l, r, s, v, w, z...cũng đều được dùng.

Thí dụ: acid, sulfur, laser, parabol. Cũng có thể sửdụng những tổ hợp phụ âm cuối nếu thấy cần.

b) Cần tôn trọng mối quan hệ có tính hệ thống giữa các thuậtngữ.

Thí dụ: fluor, fluorur

c) Trong thực tiễn sử dụng một số thuật ngữ tiếng nước ngoàiđã có những điều chỉnh nhất định theo lối rút gọn như: met, gram... Những điềuchỉnh ấy có thể được chấp nhận theo lối phiên âm một số âm tiết tiếng nướcngoài, như “ce” thành “xe”, “ge” thành “ghe”, “cid” thành “xit”, “ur” thành“ua”... thì không được chấp nhận theo nguyên tắc chung đã nói trên đối với bộphận thuật ngữ tiếng nước ngoài dùng vào tiếng Việt. Những chữ cái như c, d, g,s, t, r, x... được dùng vào bộ phận thuật ngữ này không giữ giá trị phát âmriêng trong tiếng Việt.

2. Về những thuật ngữ được cấu tạo bằng chất liệu và quy tắc tiếng Việt theophương thức dịch nghĩa thì trong khi tận dụng khả năng ấy, cần chú ý đến tínhhệ thống và cả tính chính xác. Cụ thể là có thể dùng cả chất liệu Việt hay Việthóa một cách thích hợp tùy theo trường hợp.

Thí dụ: tương ứng với anti thì dùng chốngtrong chống ẩm, chống nhiễu, chống tăng, chống nhiễm khuẩn...nhưng có thể dùng phản trong phản khoa học..., phòng trongphòng không..., giải trong giải độc...