ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 246/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 7 tháng 12 năm 1985

QUYẾT ĐỊNH

BANHÀNH QUY ĐỊNH VỀ CẢI TẠO TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ KINH DOANH NGÀNH MỸ PHẨMTHÀNH PHỐ

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Căn cứ Luậttổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã được Quốc hội thông qua ngày30-6-1983;
- Căn cứ Quyết định số 111/HĐBT ngày 25-8-1984 của Hội đồng Bộ trưởng quy địnhnhững mặt hàng Nhà nước độc quyền kinh doanh;
- Theo đề nghị của các đồng chí Trưởng ban cải tạo CTN tư doanh, Giám đốc SởCông nghiệp, Giám đốc Sở Thương nghiệp, Trưởng Ban quản lý thị trường thànhphố, Trưởng Ban Tổ chức chính quyền thành phố;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này bản quy định về cải tạo tổchức sản xuất và quản lý kinh doanh ngành mỹ phẩm của thành phố.

Điều 2: Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký, Sở Công nghiệp phốihợp với các Sở, Ban, Ngành và UBND các quận, huyện căn cứ chức năng nhiệm vụ đãđược quy định để hướng dẫn và tổ chức thực hiện.

Những quyết định trước đây tráivới những điều trong bản quy định kèm theo qu‎yết định này đều bãi bỏ.

Điều 3: Các đồng chí Chánh Văn phòng UBND Thành phố, Giám đốc cácSở, Ban, Ngành thuộc thành phố, Chủ tịch UBND các quận, huyện chịu trách nhiệmthi hành quyết định này.

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT/CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC




Lê Văn Triết

BẢN QUY ĐỊNH

VỀCẢI TẠO SẮP XẾP LẠI SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ KINH DOANH NGÀNH MỸ PHẨM THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH
(Ban hành kèm theo Quyết định số246/QĐ-UB ngày 7-12-1985 của UBND Thành phố)

Bột giặt, xà bông các loại, kemđánh răng và mỹ phẩm là những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, vừa mang tính thẩmmỹ và có quan hệ trực tiếp đến việc bảo vệ và tính an toàn cho sức khỏe củangười tiêu dùng.

Năng lực sản xuất rất lớn, vàtrong giai đoạn trước mắt còn phải nhập nhiều loại vật tư nguyên liệu từ nướcngoài, cần sử dụng hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Nhằm mục đích phát triển sảnxuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, với chất lượng sảnphẩm ngành càng được nâng cao, giá thành hạ và tính thẩm mỹ tranh thủ được sự tínnhiệm của đông đảo khách hàng.

Ủy ban Nhân dân thành phố banhành quy định về cải tạo, tổ chức lại sản xuất và quản lý kinh doanh ngành sảnxuất bột giặt, xà bông các loại, kem đánh răng, và mỹ phẩm (gọi tắt là ngành mỹphẩm) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như sau:

I- NGUYÊN TẮC CHUNG:

Điều 1: Liên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm, thuộc Sở Công nghiệp là cơquan quản lý ngành sản xuất: bột giặt, xà bông các loại, kem đánh răng và hàngmỹ phẩm của thành phố (gọi tắt là ngành), theo nguyên tắc quản lý ngành kết hợpvới quản lý theo địa bàn quận huyện.

Ngành được giao trách nhiệm phốihợp cùng với Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp thành phố, Ủy ban Nhân dân cácquận, huyện để tiến hành cải tạo, sắp xếp tổ chức lại sản xuất các cơ sở sảnxuất thuộc ngành mỹ phẩm, trên địa bàn thành phố thành một ngành kinh tế kỹthuật thống nhất và xuyên suốt từ các xí nghiệp quốc doanh thành phố và quậnhuyện đến các xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp doanh, hợp tác xã, tổsản xuất, hộ cá thể và sản xuất gia đình theo đề án tổ chức ngành đã đượcduyệt.

Điều 2: Sau khi sắp xếp tổ chức lại sản xuất; ngành mỹ phẩm thànhphố có các thành phần kinh tế sau:

- Xí nghiệp quốc doanh thuộcngành và quận huyện.

- Xí nghiệp công tư hợp doanh.

- Xí nghiệp hợp doanh.

- Hợp tác xã, tổ sản xuất.

- Hộ sản xuất gia đình.

Điều 3:Ngành mỹ phẩm thành phố được tổ chức các nhóm sản xuất theoquy chế tổ chức và hoạt động của nhóm sản phẩm ban hành kèm theo quyết định số 24/QĐ-UB ngày 18-2-1982 của UBND Thành phố. Gồm 4 nhóm sau:

1- Nhóm sản phẩm kem đánh răng.

2- Nhóm sản phẩm chất tẩy rửa,xà bông.

3- Nhóm sản phẩm mỹ phẩm cácloại.

4- Nhóm cơ khí bao bì mỹ phẩm.

- Nhóm sản phẩm được tổ chứctheo nguyên tắc kế thợp chuyên môn hóa với quản lý trên địa bàn khu vực hợp lý.Xí nghiệp quốc doanh ngành hay quận huyện là xí nghiệp đầu đàn, giữ vai trò chủđạo của từng nhóm sản phẩm (trường hợp chưa có xí nghiệp quốc doanh, thì xínghiệp công tư hợp doanh hoặc xí nghiệp hợp doanh giữ vai trò chủ đạo)

- Mỗi nhóm sản phẩm có thể tùytình hình thực tế trên địa bàn quận huyện để thành lập các phân nhóm theo yêucầu quản lý.

Điều 4: Phân công sản xuất các mặt hàng ngành mỹ phẩm:

a) Sản phẩm kem đánh răng, bộtgiặt, xà bông thơm cao cấp, hàng mỹ phẩm cao cấp (son, phấn thoa mặt, phân rômtrẻ em, kem xoa mặt, nước hoa, dầu gọi đầu v.v…) thuộc tiêu chuẩn chất lượng dongành quy định.

- Các thành phần kinh tế quốcdoanh, xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp doanh, hợp tác xã cấp cao cóđủ trang bị kỹ thuật và công nghệ cần thiết và hợp lý, đảm bảo sản phẩm đạtchất lượng theo quy định và hiệu quả kinh tế thì được giao nhiệm vụ sản xuất.

b) Các loại xà bông thông dụngkhác (xà bông cục, xà bông nước, xà bông bột, xà bông có hương thơm, kem giặt),theo tiêu chuẩn chất lượng do ngành quy định.

- Các thành phần kinh tế quốcdoanh, công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp doanh, hợp tác xã đều được giao kếhoạch sản xuất tùy theo khả năng tự cân đối nguyên liệu vật tư và nhu cầu thịtrường; tổ sản xuất và sản xuất gia đình được sắp xếp, làm vệ tinh cho các đơnvị quốc doanh công tư hợp doanh theo năng lực sản xuất, mặt hàng, công nghệ sảnxuất và địa bàn sản xuất hợp lý.

c) Các xí nghiệp quốc doanh, xínghiệp công tư hợp doanh và hợp tác xã các ngành khác có trang bị kỹ thuật, đảmbảo sản phẩm đạt chất lượng theo quy định, đạt hiệu quả kinh tế đều được thamgia sản xuất sản phẩm cơ khí bao bì mỹ phẩm và chịu sự quản lý theo chuyênngành kinh tế kỹ thuật của ngành mỹ phẩm.

Điều 5: Ngành được phép kinhdoanh, liên kết kinh tế với các ngànhkinh tế khác trong khu vực, với các tỉnh bạn để phát triển sản xuất, tổ chức,hợp đồng thu mua nguyên liệu, hương liệu v.v… theo quy chế của các tỉnh và củathành phố bảo đảm phân phối thỏa đáng quyền lợi giữa các bên.

Được thiết lập mối quan hệ hợptác kinh tế hay tiếp nhận sự hỗ trợ của các tổ chức Việt kiều ở ngoài nước vềvốn ngoại tệ, nguyên liệu, hương liệu, hóa chất chuyên ngành để phát triển sảnxuất, hay các thiết bị, phụ tùng thay thế, các phương tiện kỹ thuật để phântích thí nghiệm v.v… nhằm đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sảnphẩm trên cơ sở các chính sách của Ủy ban Nhân dân thành phố quy định.

- Khuyến khích các thành phầnkinh tế thuộc ngành mỹ phẩm, huy động vốn ngoại tệ nguyên liệu hóa chất, hươngliệu để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh sản phẩmxuất khẩu.

Thành phố sẽ miễn hoạc giảm thuếnhập khẩu đối với số nguyên liệu, hương liệu, hóa chất gởi từ nước ngoài về chothân nhân sản xuất trong nước mà có hợp đồng bán sản phẩm lại cho Nhà nước theogiá thỏa thuận kể cả các tư gia trong nước theo giá thỏa thuận kể cả các tư giatrong nước được các cơ sở sản xuất có quan hệ kinh tế với Nhà nước, ký hợp đồngmua lại những hàng do thân nhân ở nước ngoài gởi về.

Điều 6: Ngành cần soạn thảo các văn bản sau đây trình Thường trựcỦy ban Nhân dân thành phố ban hành dưới dạng quy chế quản lý ngành:

1. Quy hoạch và phương hướngphát triển dài hạn và chính sách đầu tư phát triển ngành đúng với phương hướngphát triển xã hội của thành phố. Trong đó chú trọng phương án đầu tư khoa họckỹ thuật để nghiên cứu sử dụng các nguyên liệu hóa chất trong nước, từng bướcthay thế nguyên liệu nhập, phương án đẩy nhanh tốc độ tham gia xuất khẩu đốivới sản phẩm của ngành đang có khả năng thực hiện.

2. Quy định tiêu chuẩn chấtlượng cho những mặt hàng chuẩn của toàn ngành và định mức tiêu hao nguyên liệu.

3. Quy định cách xây dựng và chỉđạo được thực hiện theo phương hướng làm kế hoạch từ cơ sở, theo hạch toán kinhtế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

II- MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN CỤ THỂ:

Điều 7: Xí nghiệp liên hợp mỹ phẩm hiện nay được sắp xếp tổ chứclại thành Liên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm thuộc Sở Công nghiệp, là đơn vị sản xuấtkinh doanh, hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân.

Liên hiệp xí nghiệp bao gồm cácxí nghiệp sản xuất và hậu cần trực thuộc sau:

1. Xí nghiệp chất tẩy rửa và xàphòng.

2. Xí nghiệp kem đánh răng.

3. Xí nghiệp mỹ phẩm.

4. Xí nghiệp vật tư ngành mỹphẩm.

5. Củng cố xưởng cơ điện đủ sứclàm nhiệm vụ bảo trì, sửa chữa các thiết bị và từng bước sản xuất các phụ tùngthay thế cho thiết bị chuyên ngành.

Các xí nghiệp trên hoạt dộngtheo chế độ hạch toán kinh tế đầy đủ, có tư cách pháp nhân theo quy định hiệnhành của Nhà nước, chịu sự quản lý trực tiếp của Liên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm.

- Liên hiệp xí nghiệp được tổchức phòng thí nghiệp và nghiên cứu khoa học kỹ thuật.

- Được mở một cửa hàng trung tâmtrưng bày giới thiệu các sản phẩm ngành sản xuất lấy ý kiến góp ý của ngườitiêu dùng, được bán sản phẩm trung bày để thăm dò, thị hiếu và nhu cầu thịtrường, mở các mối quan hệ liên doanh liên kết hợp tác sản xuất kinh doanh củangành mỹ phẩm.

Ngành cần đặt quan hệ với SởThương nghiệp để được sự giúp đỡ về kinh nghiệm và nghiệp vụ quản lý.

Điều 8:Các cơ sở sản xuất thuộc ngành mỹ phẩm thành phố bao gồmcác thành phần kinh tế do quận huyện quản lý (kể cả các xí nghiệp được thànhlập theo Chỉ thị 54/CT-UB đặt trên địa bàn quận huyện) được sắp xếp tổ chức lạisản xuất với các quy định:

- Thành phần kinh tế đã ghi ở điều2.

- Sắp xếp theo nhóm sản phẩm ghiở điều 3.

- Phân công sản xuất theo cácmặt hàng mỹ phẩm, ghi ở điều 4.

- Các cơ sở sản xuất đang cónhưng không hội đủ các điều kiện trang bị kỹ thuật và công nghệ hợp lý đủ bảođảm cho sản phẩm đạt chất lượng theo quy định hiệu quả kinh tế thấp kém màkhông có khả năng đầu tư bổ sung và khắc phục thì không duy trì sản xuất.

- Duyệt xét cấp giấy phép chothành lập cơ sở sản xuất mới cần có sự thống nhất giữa ngành và UBND các quậnhuyện để đảm bảo sự thống nhất quy hoạch và kế hoạch chung của toàn ngành nếuxét có đủ điều kiện cơ bản sau:

- Cơ sở sản xuất và trang bịthiết bị kỹ thuật đủ điều kiện sản xuất ra sản phẩm có chất lượng.

- Khả năng tự cân đối vật tưnguyên liệu.

- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụsản phẩm.

- Giá thành sản phẩm bảo đảm giábán được duyệt.

Điều 9: Để bảo đảm môi sinh và vệ sinh môi trường, khu dân cư,ngành và quận huyện cần quy hoạch lại địa điểm sản xuất cho phù hợp trên từngđịa bàn; trước mắt những cơ sở xét thấy đã gây ô nhiễm làm hại sức khỏe nhândân trong khu vực thì cần có kế hoạch di chuyển hoặc có biện pháp bảo vệ môisinh. Nếu không có biện pháp thỏa đáng thì ngừng sản xuất.

Điều 10: Các xí nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất thuộc cácthành phần kinh tế theo quy định ở điều 2, đều được quyền chủ động tìm kháchhàng ký kết hợp đồng kinh tế, tạo nguyên liệu từ các nguồn bằng quan hệ hợp táckinh tế, liên doanh liên kết hợp tác sản xuất trong ngành, ngoài ngành, liênphường, liên quận huyện trong khu vực và các địa phương khác nhằm phát triểnsản xuất trên nguyên tắc:

- Tuân theo các quy định hiệnhành của Ủy ban Nhân dân thành phố về quy chế gia công, ký kết hợp đồng kinhtế.

- Các cơ sở sản xuất có tráchnhiệm thông báo lại ngành những nội dung về hợp tác kinh tế và hợp đồng kinh tếđã ký với các nơi, để ngành làm trách nhiệm quản lý theo chức năng quy định.

Điều 11: Kế hoạch toàn ngành được xây dựng từ cơ sở sản xuất theođịa bàn quận huyện. Sau khi kế hoạch được tổng hợp và UBND thành phố duyệt, cáccơ sở sản xuất thuộc quyền quản lý cấp nào do cấp đó chịu trách nhiệm chỉ đạothực hiện. Liên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm làm chức năng quản lý ngành theo quyđịnh.

Điều 12: Tiêu thụ sản phẩm:

- Sản phẩm sản xuất theo kếhoạch được cân đối vật tư nguyên liệu và sản xuất theo hợp đồng gia công, cáccơ sở sản xuất phải giao nộp sản phẩm đầy đủ cho khách hàng được chỉ thị vàtheo hợp đồng kinh tế.

- Sản phẩm thuộc diện kế hoạchtự cân đối các cơ sở sản xuất, ưu tiên tiêu thụ của thương nghiệp quốc doanh vàthương nghiệp hợp tác xã, sản phẩm có hợp đồng xuất khẩu thì tiêu thụ ủy tháccho Tổng Công ty xuất nhập khẩu thành phố.

- Được chủ động đối lưu với cáctỉnh, các cơ quan có nhu cầu để tái tạo ngoại tệ, tái sản xuất.

- Được giữ lại sản phẩm để làmhàng đối lưu lấy vật tư nguyên liệu theo số lượng đã ghi và được duyệt cho kếhoạch.

Điều 13: Việc tổ chức bán lẻ các mặt hàng mỹ phẩm cho nhu cầu củanhân dân do ngành thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã cùng vớicác cửa hàng đại lý bán lẻ thực hiện.

- Không duy trì thành phần kinhtế tư nhân, cá thể và các ngành khác, không được giao trách nhiệm tổ chức thumua nguyên liệu, hóa chất, hương liệu của chuyên ngành mỹ phẩm tiến hành dịchvụ thương mại hoặc dùng nguyên liệu vật tư để gia công lấy sản phẩm đem lưuthông phân phối trên thị trường.

Điều 14: UBND Thành phố ủy quyền cho Ủy ban Vật giá thành phố cùngLiên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm, Sở Thương nghiệp, Ủy ban Nhân dân các quận huyệnnghiên cứu vận dụng thống nhất giá bán buôn, bán lẻ sản phẩm do ngành mỹ phẩmsản phẩm trong khung giá chuẩn của Nhà nước.

Điều 15: Chánh quyền các cấp cùng các ngành có trách nhiệm phối hợptổ chức quản lý, kiểm tra chặt chẽ việc thi hành giá, về chất lượng sản phẩmhàng mỹ phẩm có tính an toàn đến sức khỏe của người tiêu dùng (phấn rôm trẻ em,phấn, kem, son, dầu gội đầu, xà bông thơm cao cấp thuộc hàng trang sức và vệsinh cao cấp) có hình thức xử lý thích đáng đối với các trường hợp làm hànggian hàng giả và vi phạm giá.

III- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH:

Điều 16: Sở Công nghiệp, Liênhiệp xã thành phố, UBND các quận huyện, Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanhthành phố, Liên hiệp xí nghiệp mỹ phẩm và các ngành có liên quan chịu tráchnhiệm tổ chức triển khai việc thực hiện quy định này.

 ỦYBAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ