THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 248-TTg

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 1973

QUYẾT ĐỊNH

VỀVIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG SỞ THUỘC NGÀNH GIÁO DỤC.

I. PHƯƠNG HƯỚNG, CHỦ TRƯƠNG VỀXÂY DỰNG CÁC TRƯỜNG HỌC

Sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻtrong những năm qua phát triển với quy mô lớn và tốc độ nhanh, đã góp phần quantrọng vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, những điều kiện vậtchất cần thiết để bảo đảm chất lượng giáo dục thì còn quá thiếu thốn, nhiều địaphương phải tổ chức học nhiều ca, học sinh phải ngồi chen chúc, lớp học thiếuánh sáng, mùa hè quá nóng bức, mùa đông quá rét, nhiều trường chưa có phòng thínghiệm, vườn trường, xưởng trường, sân chơi, bãi tập… Giáo viên thiếu chỗ làmviệc. Việc bảo quản bị buông lỏng. Tình trạng như trên cần được chấm dứt càng sớmcàng tốt. Vì vậy việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho các trườngmẫu giáo, phổ thông, sư phạm đã trở thành một vấn đề hết sức cấp bách, không nhữngchỉ nhằm có đủ chỗ học cho học sinh mà còn phải nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục và chuẩn bị một số điều kiện để thực hiện cải cách giáo dục trong thời gian tới.

Căn cứ vào khả năng của ta hiệnnay, cần phấn đấu để trong một thời gian tương đối ngắn tranh thủ xây dựng tấtcả các trường học bằng gạch ngói, nửa kiên cố hoặc kiên cố, trước mắt bảo đảm học2 ca, sau này từng bước sẽ tiến lên học hai buổi bình thường trong ngày.

Trong những năm 1973-1975, cầnhuy động mọi khả năng để bảo đảm đủ trường sở cho học sinh học tập; chấm dứttình trạng phải học 3 ca, 4 ca. Muốn vậy, phải nhanh chóng khôi phục những trườngbị chiến tranh tàn phá, tích cực cải tạo các trường hiện có, bảo đảm đủ ánhsáng, không khí, thoáng mát về mùa hè, đủ ấm về mùa đông, đồng thời làm thêm nhữngtrường mới; cố gắng tranh thủ xây dựng trường nửa kiên cố hoặc kiên cố; nhữngnơi chưa có điều kiện thì xây dựng bằng tre lá, nhưng phải đúng quy cách. Trongkhi xây dựng trường sở, ngoài việc bảo đảm xây dựng các phòng học, phải tuỳtheo khả năng của từng địa phương mà tranh thủ lần lượt xây dựng những cơ sởkhác của trường, như phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng trường, vườn trường, nhàlàm việc và nhà ở của giáo viên, sân chơi, bãi tập…

Từ năm 1976 trở đi, cần đẩy mạnhtốc độ xây dựng bảo đảm tất cả các trường đều làm nửa kiên cố hoặc kiên cố, đồngthời hoàn thành việc xây dựng những cơ sở khác (ngoài những phòng học) của trường.

Đi đôi với việc xây dựng trườngsở, phải tích cực và từng bước giải quyết trang bị cần thiết cho trường học:bàn ghế, bảng đen, tủ, tranh ảnh, bản đồ, sách, đồ dùng dạy học, thí nghiệm,lao động, thể dục thể thao.

Quy hoạch xây dựng trường sở phảikết hợp với quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Việc thiết kế xây dựng,trang bị, thiết bị… cần phải quy định thành mẫu tiêu chuẩn và có quy hoạch chặtchẽ.

II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

A. Nguồn vốnxây dựng và phương hướng sử dụng nguồn vốn đó.

Trong việc xây dựng các trường họccủa ngành giáo dục, cần kết hợp sự đóng góp hợp lý, tự nguyện của nhân dân vớisự đầu tư thích đáng của Nhà nước.

1. Nguồn vốn dành cho việcxây dựng các trường học của ngành giáo dục bao gồm:

a) Sự đóng góp của nhân dân địaphương về công, tiền, vật liệu. Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục phối hợp nghiên cứuchính sách cụ thể huy động sự đóng góp này để trình Chính phủ thông qua vàotháng 12-1973;

b) Toàn bộ số tiền học phí thu được của học sinh phổ thông;

c) Phần trích từ quỹ phúc lợi củanhà máy, công trường, nông trường, lâm trường và quỹ công ích của hợp tác xã;

d) Phần vốn xây dựng cơ bản màhàng năm Nhà nước dành cho việc xây dựng cơ bản của ngành giáo dục, theo một tỷlệ thích đáng, phần trích trong tổng số vốn xây dựng cơ bản của các tỉnh, thànhphố hàng năm cố gắng dành ít nhất 5%. Ngân sách của các xã cũng cần dành một sốvốn theo tỷ lệ do Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hướng dẫn.

2. Phương hướng sử dụng cácnguồn vốn trên đây vào việc xây dựng các loại trường học như sau:

a) Việc tu bổ, mở rộng, xây dựngcác trường lớp mẫu giáo, vỡ lòng, phổ thông cấp 1, cấp 2, do công trường, nôngtrường, lâm trường, nhà máy, hợp tác xã, khu phố đảm nhiệm bằng cách trích quỹphúc lợi của nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, quỹ công ích của hợptác xã cùng với sự đóng góp của nhân dân. Ngoài ra, ngân sách xã và ngân sách tỉnh,thành phố bổ trợ.

b) Việc tu bổ, mở rộng, xây dựngcác trường phổ thông cấp 3 do ngân sách tỉnh, thành phố đài thọ. Khi thật cầnthiết cũng có thể huy động thêm một cách có mức độ sự đóng góp của nhân dân bằngnhững hình thức thích hợp.

c) Đối với những khu kinh tế mới,những công trường, nông trường, lâm trường mới thành lập… Nhà nước sẽ cấp vốnxây dựng trường lớp mẫu giáo, vỡ lòng, phổ thông cấp 1, 2, 3 cùng với vốn xây dựngtoàn bộ cơ sở đó.

d) Việc xây dựng các trường sưphạm (đào tạo và bồi dưỡng) về mẫu giáo, phổ thông, bổ túc văn hóa của các tỉnh,thành phố thì do vốn xây dựng cơ bản của trung ương cấp (nếu ngân sách địaphương không có vốn để xây dựng ) Bộ Giáo dục cần sắp xếp lại cho hợp lý mạnglưới các trường sư phạm hiện nay ở các địa phương.

e) Riêng đối với miền núi, nếungân sách của địa phương và sự đóng góp của nhân dân vẫn không đủ để xây dựng các trường lớp mẫu giáo, phổ thông, thì ngân sách Nhà nước có trách nhiệm trợ cấpcho đủ.

B. Việc quyhoạch xây dựng trường sở, thiết kế thi công và cung cấp nguyên liệu, vật liệu,xây dựng.

Bộ Giáo dục cân hướng dẫn các Uỷban hành chính tỉnh, thành phố lập quy hoạch xây dựng trường sở của ngành ở địaphương và tổng hợp thành quy hoạch chung để trình Chính phủ và ghi vào kế hoạchNhà nước.

Bộ Xây dựng cùng với Bộ Giáo dụccần ban hành các bản thiết kế mẫu và quy định tiêu chuẩn sử dụng đất đai và vậtliệu. Trên cơ sở kế hoạch của các địa phương, Ủy ban kế hoạch các cấp cần cân đốilực lượng thi công và vật liệu xây dựng cần thiết như gỗ, sắt thép, xi măng,than…để xây dựng và trang bị đủ cho trường học.

Ủy ban hành chính các cấp cótrách nhiệm lập và chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng trường sở của ngành giáodục ở địa phương. Cụ thể là:

- Ủy ban hành chính các xã, thịtrấn chỉ đạo việc xây dựng các trường mẫu giáo, vỡ lòng, các trường phổ thông cấp1, cấp 2;

- Uỷ ban hành chính các huyện,khu phố chỉ đạo việc xây dựng các trường phổ thông cấp 3;

- Ủy ban hành chính các tỉnh,thành phố chỉ đạo việc xây dựng các trường sư phạm (đào tạo và bồi dưỡng).

Cần động viên và tổ chức tốt chogiáo viên và học sinh tham gia trồng cây lấy gỗ, làm gạch, ngói, vôi và góp phầnxây dựng trường sở theo đúng chỉ thị số 237-TTg ngày 1-12-1970 của Thủ tướngChính phủ.

C. Việc bảo quản trường sở.

Bảo quản nhà cửa, thiết bị củatrường học là trách nhiệm chung của giáo viên, học sinh, trước hết là của Bangiám hiệu với sự giúp đỡ tích cực của chính quyền và nhân dân địa phương.

Để tạo thêm điều kiện đưa việcquản lý nhà trường vào nền nếp, từ nay quy định cho mỗi trường 2 người để làmcác việc: bảo quản trường sở, thiết bị (người coi trường); công tác văn phòng,thu học phí, thống kê, kế toán… (cán bộ văn phòng trường).

Ở các trường phổ thông cấp 1, cấp2 ở thành phố, thị xã, khu công nghiệp và ở tất cả các trường phổ thông cấp 3(cả thành phố và nông thôn) người coi trường thuộc biên chế Nhà nước; ở các trườngphổ thông cấp 1, cấp 2 ở nông thôn người coi trường hưởng theo chế độ định suấtáp dụng cho cán bộ xã. Bộ Giáo dục, Bộ Lao động và Bộ Tài chính cần có thông tưliên bộ để hướng dẫn thực hiện vấn đề biên chế này.

Bộ Giáo dục cần ban hành quy chếquản lý các trường sở thuộc ngành giáo dục.

Các Bộ và Uỷ ban hành chính cáccấp trong phạm vi trách nhiệm của mình, cần thi hành nghiêm chỉnh và hướng dẫnthi hành quyết định này.

K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Nguyễn Duy Trinh