ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------

Số: 28/QĐ-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 03 năm 1985

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT VÀ BAN HÀNH QUY HOẠCHTỔNG THỂ HUYỆN HÓC MÔN

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ luật tổ chức Hội đồng nhândân và Ủy ban Nhân dân các cấp đã được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm1983;
Căn cứ những ý kiến đóng góp và nhất trí của các ngành liên quan ở thành phốtrong cuộc họp xét duyệt quy hoạch tổng thể của huyện Hóc môn ngày 21 tháng 7năm 1984;
Xét đề nghị của đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hóc môn (tờ trình số 36/TT-UB ngày 14-1-1985) và ý kiến nhất trí của đồng chí Trưởng ban phân vùngkinh tế thành phố (công văn số 36/QH-NN ngày 20-2-1985) về việc xin phê duyệtquy hoạch tổng thể của huyện Hóc môn;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1.Phê duyệt và ban hành kèm theo quyết định này quy hoạch tổng thể của huyện Hócmôn.

Điều 2.Các đồng chí Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, đồng chí Chủ tịch Ủy bannhân dân huyện Hóc Môn, Trưởng ban phân vùng kinh tế thành phố, đồng chí Chủnhiệm Ủy ban Kế hoạch thành phố và các đồng chí Giám đốc, Thủ trưởng các Sở banngành có liên quan ở thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT/CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH





Nguyễn Vĩnh Nghiệp

QUY HOẠCH TỔNG THỂ

HUYỆN HÓC MÔN(Kèm theo quyết định số 28/QĐ-UB ngày 14-3-1985 của UBND.TP)

Phần thứ nhất.

ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CƠ BẢN

 I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TỰNHIÊN:

1. Vị trí địa lý:

Hóc môn là một huyện vành đai nằm sát nội thành cáchtrung tâm thành phố 20km về hướng Tây Bắc.

Bắc giáp: Huyện Củ Chi

Nam giáp: quận Gò Vấp, Tân Bình và huyện BìnhChánh

Đông giáp: huyện Thuận An tỉnh Sông Bé

Tây giáp: tỉnh Long An.

Toàn huyện có 14 xã và 1 thị trấn. Tổng diện tíchtự nhiên là 16.576 ha. Trong đó, đất nông nghiệp 11.108 ha, chiếm 67% đất tựnhiên.

1. Địa hình chia làm 3 vùng:

- Vùng đất cao, độ cao từ 7 – 11 mét. Diện tích 1.465ha, chiếm 8,9%

- Vùng đất triền, độ cao từ 3 – 6 mét. Diện tích6.682 ha, chiếm 40,3%.

- Vùng trũng, dưới 2 mét. Diện tích 8.429 ha, chiếm50,80%

2. Thổ nhưỡng: gồm 3 loại đấtchủ yếu.

- Đất xám: 5.887 ha, chiếm 35,5%.

- Đất phèn: 7.262 ha, chiếm 43,8% trong đó đất phènnặng mới khai phá gần 1.500 ha.

- Đất vàng xám: 326 ha, chiếm 2% diện tích toàn huyện.

3. Nguồn nước cho sản xuất vàđời sống:

Hiện đang sử dụng 3 nguồn: Nước mưa, nước mặn vànước ngầm. Nhìn chung chất lượng nước ngọt, tốt. Việc khai thác và sử dụng nguồnnước ngầm có ý nghĩa đặc biệt đối với vùng rau chuyên canh và cây công nghiệpngắn ngày của huyện. Nguồn nước ngầm khá dồi dào, năng lực khai thác có thể đạt150.000 m3/ngày.

Nguồn nước mưa tập trung theo mùa. Lượng mưa trungbình 1.949 ly, tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Mùa khô thiếunước tưới.

Nước sông hàng năm có bị nhiễm mặn và phèn xuất hiệntừ tháng 1 – 5. Nặng nhất là tháng 3 – 4 hàng năm.

II. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI:

1. Dân số và lao động.

- Dân số đến năm 1983 là 215.686 người (Tốc độ tăngtự nhiên từ 1976 đến 1983 bình quân 2,1%).

Trong đó nông nghiệp 99.955 người, chiếm tỷ lệ 46,3%dân số.

Tổng số hộ là: 37.011 hộ trong đó nông nghiệp 17.990hộ, chiếm 48,6% số hộ toàn huyện.

- Lao động trong độ tuổi 95.128 người. Trong đó laođộng đang làm việc 76.528 người, chiếm 80,4% lao động dự trữ 8.962 người, mấtsức lao động 2.542 người, chưa có việc làm 7.96 người chiếm 7,4%.

+ Lao động đang làm việc chia ra:

Nông lâm ngư nghiệp 48.939 người, chiếm 63,95%.

Công nghiệp – TTCN: 11.820 người, chiếm 15,4%.

Xây dựng 1.992 người, chiếm 2,6%.

Thương nghiệp, cung ứng vật tư 6.258 người chiếm8,17%.

Ngành nghề khác: 7.519 người, chiếm 9,82% so vớilao động đang làm việc (lao động công nghiệp – TTCN huyện quản lý 7.019 người, thànhphố quản lý 4.801 người)

2. Tình hình phát triển nôngnghiệp những năm qua:

Huyện Hóc Môn là huyện nông nghiệp ngoại thành vớinhiệm vụ là huyện vành đai thực phẩm, cung cấp rau, thịt, trứng, sữa mà đặc biệtlà rau xanh cho thành phố.

Nhìn chung trong những năm qua sản xuất nông nghiệpcủa huyện đã không ngừng tăng lên, vùng rau chuyên canh đã được hình thành,cung cấp được một phần đáng kể cho thành phố.

a) Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng chủyếu:

Trong những năm qua diện tích gieo trồng trên địabàn huyện tập trung vào ba nhóm cây chính:

- Cây thực phẩm.

- Cây lương thực.

- Cây công nghiệp ngắn ngày.

Sản xuất năm 1983 đạt kết quả như sau:

+ Cây rau đậu: 4.154ha, năng xuất 13.169 tấn/ha,sản lượng 54.700 tấn.

+ Cây công nghiệp ngắn ngày: 1.867 ha, trong đó:

- Mía 996 ha, năng suất 48 tấn/ha, sản lượng 47.808tấn.

- Đậu phộng: 430 ha, năng suất 1,356 tấn/ha sản lượng325,6 tấn.

Tổng diện tích gieo trồng năm 1983 đạt: 14.820ha.

Năm cao nhất đạt 15.535 ha (1982).

Tốc độ tăng bình quân hằng năm từ 1976 – 1983 là2,9%.

Trong đó cây rau là cây có tốc độ tăng cao nhất:12% hàng năm; kể đến là cây công nghiệp ngắn ngày 10,1%.

Riêng cây lương thực giảm bình quân 4,7%/năm.

Hệ số sử dụng ruộng đất năm 1983 đạt 1,4 lần. Tốcđộ tăng bình quân hàng năm là 3,9% từ 1976 – 1983.

b) Tổng đàn gia súc gia cầm 1983:

- Tổng đàn trâu có 5.900 con, tốc độ tăng bình quânhàng năm từ 1976 – 1983 là 1,9%.

- Đàn bò: 8.595 con, tốc độ tăng bình quân hằngnăm là 0,45%.

- Đàn heo 17.536 con.

Năm cao nhất: 21.027 con (1982)

Năm thấp nhất: 11.130 con (1979)

Tốc độ tăng bình quân hằng năm là 3,2%. Riêng khuvực quốc doanh gồm 500 con.

- Tổng đàn gia cầm 302.371 con, tốc độ tăng bìnhhằng năm từ 1977 – 1982 là 13,0%. Riêng năm 1983 tăng 75,8% so với năm 1982 – docó chính sách gia công vịt xuất khẩu.

- Sản lượng thịt các loại đạt 1.697 tấn, tốc độ tăngbình quân hằng năm từ 1978 – 1983 là 10,1%. Trong đó thịt heo chiếm 74,2% sảnlượng thịt các loại.

c) Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp đạt 176.414.000đtốc độ tăng hằng năm (từ 1980 – 1983) là 4,28% (tính theo giá cố định 1982).

Trong đó, trồng trọt đạt: 146.114.000đ chiếm 83%.

Chăn nuôi đạt: 30.300.000đ, chiếm 17% giá trị toànngành công nghiệp.

Giá trị hàng nông nghiệp tham gia cung ứng xuất khẩutại chỗ đạt 530.000đ.

MỘT SỐ CHỈ TIÊU BÌNH QUÂN ĐẠT ĐƯỢC:

- Lúa: 220kg/1 nhân khẩu nông nghiệp.

- Rau: 547ha/1 nhân khẩu nông nghiệp.

- Thịt các loại: 8kg/1 nhân khẩu nông nghiệp.

- 2,5 gia súc tiêu chuẩn/1 ha canh tác.

- 0,5 trâu bò/1 ha canh tác.

- Giá trị sản lượng nông nghiệp trên 1 nhân khẩunông nghiệp đạt 1.765đ.

TÓM LẠI:

Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp trên địabàn huyện có chiều hướng phát triển tốt đã hình thành nên vùng rau chuyên canh,diện tích cây lương thực dần dần thu hẹp lại hợp lý. Những cây công nghiệp cógiá trị xuất khẩu như đậu phộng, thuốc lá được chú trọng phát triển. Sản xuấtđang trên đà chuyên môn hóa, thâm canh tăng năng suất.

- Nhưng giữa 2 ngành trồng trọt và chăn nuôi chưacân đối, năng suất cây trồng còn thấp.

Đồng thời với việc phát triển sản xuất huyện đã tiếnhành công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp. Hiện nay huyện đãxây dựng được 4 hợp tác xã (1 hợp tác xã rau, 3 hợp tác xã lúa), 158 TĐSX, đưadiện tích canh tác được tập thể hoá đạt 51% và 56% số hộ nông nghiệp vào làm ăntập thể.

3. Tình hình sản xuất ngành lâm nghiệp:

Các năm qua việc trồng cây phân tán còn hạn chế,tỷ lệ cây sống thấp do công tác chăm sóc chưa tốt. Tới năm 1983 toàn huyện trồngđược khoảng 4 triệu cây, trong đó huyện quản lý 3 triệu cây. Nguồn lâm sản chủyếu đưa vào khai thác tại các tỉnh bạn theo chỉ tiêu của ngành cấp trên.

4. Tình hình sản xuất ngành thủy sản (nuôi trồng):

Chiếm vị trí rất khiêm tốn, các năm qua diện tíchnuôi trồng được 23 ha, rải rác ở các ao hồ trong dân và một số tập đoàn sảnxuất. Việc mở rộng diện tích nuôi trồng còn hạn chế do việc đầu tư, áp dụng khoahọc kỹ thuật chưa thỏa đáng.

5. Tình hình sản xuất ngành công nghiệp – TTCN:

Trước giải phóng, ngành công nghiệp – TTCN ở huyệnchủ yếu là dệt, chế biến lương thực với quy mô trung bình lớn. Từ sau giảiphóng, tuy có những bước thăng trầm đáng kể, song ngành công nghiệp – TTCN trênđịa bàn huyện vẫn có những bước tiến bộ mới, với sự phát triển của cả 3 khuvực: năm 1983 quốc doanh 6 cơ sở và 741 cơ sở tập thể, tư nhân, cá thể; với cơcấu ngành nghề khá phong phú.

- Ngành LTTP: 334 cơ sở, chiếm 45%.

- Ngành cơ khí: 212 cơ sở, chiếm 28%.

- Ngành dệt da may mặc: 98 cơ sở, chiếm 13%.

- Ngành vật liệu xây dựng: 45 cơ sở, chiếm 6%.

- Ngành hoá chất: 10 cơ sở, chiếm 1,4%.

- Ngành in văn hoá phẩm: 2 cơ sở, chiếm 0,3% và trên40 cơ sở các ngành công nghiệp khác: Thu hút 11.820 lao động trên địa bàn huyện,chiếm 15,4% số người đang làm việc. Riêng huyện quản lý 734 cơ sở: với 7.019lao động, chiếm 59,3% lao động toàn ngành.

Tám năm qua giá trị sản lượng ngành công nghiệp –TTCN do huyện quản lý không ngừng tăng lên: năm 1983 đạt 214.853.299đ, tốc độ tăngbình quân hằng năm từ 1978 – 1983, đạt 16,11% (tính theo giá cố định 1982).

Trong đó khu vực quốc doanh chiếm vai trò chủ đạo:chiếm 66,58% giá trị sản lượng toàn ngành. Xét theo ngành ta thấy:

GTTSL CN dệt, may, nhuộm chiếm: 64,45%

-------------- thực phẩm -----------------:20,86%

-------------- vật liệu xây dựng --------: 1,79%

-------------- cơ khí -----------------------:1,75%

-------------- hóa chất --------------------:1,32%

Và công nghiệp in văn hóa phẩm cùng một số ngànhcông nghiệp khác chiếm 2,6% giá trị sản lượng toàn ngành.

Giá trị cung ứng hàng CN – TTCN xuất khẩu năm 1983đạt 9.820.000đ, chiếm 4,6% giá trị sản lượng toàn ngành.

Xét về mối quan hệ giữa 2 ngành nông – công nghiệpta thấy:

- Tổng giá trị sản lương nông – công nghiệp391.267.290đ.

Trong đó: nông nghiệp chiếm: 45%

Công nghiệp – TTCN chiếm: 55%.

- Giá trị hàng cung ứng xuất khẩu đạt: 10.350.000đ,chiếm 2,6% GTTSL nông – công nghiệp, trong đó nông nghiệp chiếm 5,12%, côngnghiệp – TTCN chiếm 94,88%

6. Về xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật:

Các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuấtđã được quan tâm và được đầu tư xây dựng liên tục trong các năm qua.

THỦY LỢI:

Ưu tiên đầu tư cho vùng rau chuyên canh và cây côngnghiệp ngắn ngày – chủ yếu là đầu tư vào khai thác nước ngầm với 13 giếng côngnghiệp (trong đó có 3 giếng được lắp đặt hoàn chỉnh), 236 giếng bán công nghiệp(trong đó có 30 giếng hoàn chỉnh), đảm bảo tưới cho 700 ha, xây dựng được 3trạm bơm điện với tổng số 14 máy – công suất thiết kế 32.000m3/h mớiphục vụ được 420 ha với tổng chiều dài kênh, mương các cấp 102km, đào đắp được670.000m3 thủy lợi nội đồng: đảm bảo tưới, tiêu cho 2.560 ha, ngănmặn 800 ha.

Tuy nhiên do việc đầu tư chưa đồng bộ nên một sốcông trình phải kéo dài, chậm phát huy tác dụng.

ĐIỆN:

Đến cuối năm 1983 toàn huyện có 73,67km đường điệntrung thế và 31,5km đường điện hạ thế, trong đó phục vụ cho nông nghiệp 37kmtrung thế - 20,8km hạ thế.

Ngoài ra đã lắp đặt 274 bình biến thế điện với côngsuất thiết kế là 21.516 KVA.

Lương điện tiêu thụ 1983 là 10.697.551 kwh/năm tăng13,3% so với năm 1982, trong đó phục vụ cho nông nghiệp 1.867.462 kwh/năm, chiếm17,4% so với năm 1982 tăng 14,4%, phục vụ cho CN – TTCN 4.230.075 kwh/năm,chiếm 39,5% so với năm 1982 tăng 13%.

Về giao thông vận tải:

Với hệ thống đường sá sẵn có, khá thuận lợi và tốtnhư quốc lộ 1, 22, tỉnh lộ 9, 14, 15, 16 và một số đường nông thôn với tổng chiềudài bằng 172km, đã hỗ trợ rất lớn cho việc giao lưu hàng hóa và phục vụ nhu cầuđi lại của nhân dân.

Toàn huyện có 1.590 đầu phương tiện vận tải trongđó vận tải hàng hóa có 431 chiếc, vận tải hành khách có 808 chiếc và 351 chiếccác phương tiện vận tải khác, với số phương tiện trên đủ đáp ứng cho nhu cầuvận tải hiện tại.

Huyện đã tổ chức được 1 xí nghiệp công tư hợp doanhô tô tải, 9 hợp tác xã xe lam khách, 2 hợp tác xã vận tải nhẹ, 1 hợp tác xã xexích lô máy và 1 hợp tác xã xe ba gác máy.

Song song với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chấtkỹ thuật phục vụ sản xuất, huyện đã quan tâm xây dựng một số công trình văn hóaphúc lợi, phục vụ đời sống, sinh hoạt và làm việc cho cán bộ và nhân dân tronghuyện. Đã xây dựng mới 1 khu làm việc của huyện ủy, 1 Trường Đảng, 3 Ủy banNhân dân xã, 7 cơ sở phục vụ sách báo, 1 thư viện, 15 phòng đọc sách, 3 độichiếu bóng, 1 câu lạc bộ sáng tác, 20 đội văn nghệ nghiệp dư, 18 lớp năng khiếu,và đang xúc tiến xây dựng rạp hát ngoài trời 800 chỗ ngồi, một nhà văn hóahuyện.

Cơ sở phục vụ y tế hiện có: 1 bệnh viện đa khoa 100giường, 3 phòng khám khu vực, 15 trạm y tế xã và thị trấn, 12 cửa hàng bán thuốccác loại. Với 210 giường bệnh các loại, 357 cán bộ y tế, với lực lượng y tếtrên mới đáp ứng được 50% nhu cầu tối thiểu về khám, chữa bệnh cho cán bộ, nhândân (1.000 dân đạt xấp xỉ 1 giường bệnh).

Về giáo dục: Hiện nay huyện có 81 trường họccác loại – trong đó: trường trung học: 2 phổ thông cơ sở, 33 bổ túc văn hóa 15và mẫu giáo 31 trường, tình trạng học 3 – 4 ca còn 114 lớp.

Ngành thương nghiệp: Huyện cũng được pháttriển để đáp ứng một số dịch vụ trong huyện và ngoài huyện, tổ chức được 335 cửahàng các loại, trong đó thương nghiệp quốc doanh 34 cửa hàng, thương nghiệp hợptác xã, 264 cửa hàng và 17 cửa hàng ăn uống.

Doanh số lưu chuyển bán lẻ trên thị trường có tổchức chiếm 30% doanh thu thực tế của ngành đạt 303.965.000đ (giá hiện hành). Riêngcung ứng hàng xuất khẩu thì tổng giá trị mua vào đạt 60,75 triệu đồng, tổng giátrị bán ra đạt 69,9 triệu đồng.

+ Cơ sở thông tin bưu điện gồm 2 tổng đài gồm 150số, 23 bưu cục, 1 đài truyền thanh huyện và 15 đài truyền thanh xã và thị trấn,10 đội thông tin lưu động hoạt động thường xuyên, có chất lượng tốt.

Ngoài ra huyện đã xây dựng được nhà truyền thốngtại xã Tân Thới Nhất, xây dựng bia lưu niệm Nam kỳ Khởi nghĩa, nghĩa trang liệtsĩ xã Tân Xuân, khu di tích lịch sử ngã ba Giòng...

TÓM LẠI:

Từ sau ngày giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Thànhủy và Ủy ban Nhân dân thành phố, cùng với sự giúp đỡ của các ban ngành thànhphố, huyện đã không ngừng đẩy mạnh sản xuất, từng bước nâng cao đời sống chonhân dân, đặc biệt là đã thành công bước đầu trong nhiệm vụ xây dựng vành đaithực phẩm của thành phố.

Tuy còn tồn tại một số khó khăn nhất định, nhưngthuận lợi là cơ bản. Nay thực hiện chỉ đạo của thành phố và Trung ương, huyện đãtiến hành công tác quy hoạch tổng thể huyện sẽ trình bày sau đây:

Phần thứ hai.

QUY HOẠCH TỔNG THỂ

A. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ CỦAHUYỆN

Quán triệt tinh thần nghị quyết của Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ 5, nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 3 và đại hộ Đảnghộ huyện Hóc Môn lần thứ 3.

Căn cứ đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội trên địabàn huyện xác định nhiệm vụ của huyện trong những năm trước mắt và đến năm 2.000là tập trung phát triển toàn diện, trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất nôngnghiệp toàn diện với nhiệm vụ chính trị hàng đầu là xây dựng vành đai thựcphẩm, đồng thời ra sức phát triển cây công nghiệp ngắn ngày tạo nhiều nông sảnhàng hóa xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp – TTCN. Đồng thờiphát triển cây công nghiệp – TTCN lấy ngành dệt làm mũi nhọn tạo thế vững chắcđể phát triển công nghiệp – TTCN đa dạng làm cơ sở xây dựng huyện có cơ cấukinh tế nông – công nghiệp hoàn chỉnh. Từng bước cải thiện, nâng cao mức sốngcủa nhân dân, làm tốt 2 nhiệm vụ chiến lược là phát triển kinh tế và an ninhquốc phòng.

- Mục tiêu phấn đấu đến năm 2.000 đạt: (tínhtheo giá cố định 1982).

- Giá trị tổng sản lượng: 1.925.375.000đ

Trong đó: NLT nghiệp: 820.937.000đ chiếm 42,63%

CN – TTCN: 1.104.442.000đ chiếm 57,37%.

- Giá trị sản lương hàng hóa: 1.013.340.000đ đạt62,87% = GTTSL.

Trong đó: NLT nghiệp: 520.065.000đ chiếm 51,32%.

CN – TTCN: 439.275.000đ chiếm 48,68%

- Giá trị hàng hóa xuất khẩu: 388.130.000đ đạt46,94% = GTTSL.

Trong đó: NTL nghiệp: 249.420.000đ chiếm 64,26%

CN – TTCN: 138.710.000đ chiếm 35,74%

SẢN PHẨM CHỦ YẾU

MỤC TIÊU

Sản phẩm

(tấn)

Bình quân sản phẩm

Sản phẩm hàng hoá

Cho NK

N.nghiệp

Cho toàn xã hội

(kg/người)

Tổng số

(tấn)

Tỷ suất hàng hoá (%)

I- Nông – lâm – ngư

1- Rau thực phẩm

2- Đậu phọng

3- Thuốc lá

4- Mía (đường)

5- Thơm

6- Lúa

7- Dứa

8- Thịt các loại

9- Sữa bò

10- Cá tôm các loại

11- Trứng (quả)

II- Công nghiệp – TTCN

1- Vải

2- Vải mùng

3- Đường mía

253.110

4.400

1.200

60.000

31.000

39.000

6.400.000 quả

11.798

2.500

355

4.900.000 quả

8 triệu mét

10 ---

6.000 tấn

2.300

40

11

545

260

354

58 trái

106

22

3

44,5

---

---

---

920

16

413

216

112

141

23 trái

43

09

1,3

18,0

31 mét

36 --

21,8kg

222.860

2.750

720

24.400

---

---

5.200

---

88,0

62,5

60,0

78,7

---

---

44,5

---

GHI CHÚ: - Dân số toàn huyện năm 2000 là 275.000người.

- Dân số nông nghiệp năm 2000: 110.000 người

(40% dân số huyện)

B. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂNNGÀNH:

I. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂNNÔNG – LÂM – NGƯ NGHIỆP.

1- Nông nghiệp

a) Trồng trọt:

Quy hoạch phát triển 5 nhóm cây chính:

- Nhóm cây rau đậu thực phẩm.

- Nhóm cây công nghiệp ngắn ngày.

- Nhóm cây lương thực.

- Nhóm cây ăn trái.

- Nhóm cây trồng khác (trúc, dược liệu...)

Hình thành 3 vùng chuyên canh lớn:

- Vùng chuyên canh rau thực phẩm.

- Vùng chuyên canh lúa.

- Vùng chuyên canh mía, khóm.

QUY MÔ VÀ CƠ CẤU CÂY TRỒNG CHÍNH:

LOẠI CÂY TRỒNG

1986 – 1990

1991 – 2000

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT N.N

I- Đất cấy hàng năm

- Rau thực phẩm

- Mía

- Thơm (1)

- Lúa 2 vụ

- Lúa 1 vụ

II- Cây ăn trái, lâu năm

10.932

3.630

1.200

1.550 (1)

3.250

462

750

100

33,20

10,98

14,18

29,70

4,23

6,86

10.932

4.030

1.200

1.550 (1)

3.250

---

750

100

36,86

10,98

14,18

29,70

---

6,86

(1) Thơm: tính theo diện tích đông đặc và do 2 nôngtrường quản lý.

DIỆN TÍCH – NĂNG SUẤT – SẢN LƯỢNG CÂY TRỒNGCHÍNH

LOẠI CÂY

1986 – 1990

1991 – 2000

Diện tích

(ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản lượng

(tấn)

Diện tích

(ha)

Năng suất

(tạ/ha)

Sản lượng

(tấn)

Rau các loại

Đậu phộng

Thuốc lá

Mía

Thơm

Lúa

Dừa

Cây ăn quả khác

9.240

2.000

450

1.200

1.550

6.900

300

300

200

17

15

475

170

50

16.000 quả

70

184.000

3.400

675

57.000

26.350

34.500

480.000 quả

2.100

11.500

2.000

600

1.200

1.550

6.500

400

200

220

22

20

500

200

60

16.000 quả

100

253.110

4.400

1.200

60.000

31.000

39.000

640.000 quả

2.000

Về cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp trên là hợp lý.Với nhiệm vụ vành đai thực phẩm, diện tích rau năm 1986 – 1990 là 3.630 ha, chiếm33,20% đất nông nghiệp, tăng lên 4.030 ha năm 1991 – 2000 chiếm 36,68% đất nôngnghiệp, nhịp độ tăng hàng năm là 1,05%. Nhưng sản lượng tăng nhanh do thâm canhvà quay vòng tăng vụ nên sản lượng tăng từ 184.860 tấn năm 1990 tăng lên253.100 tấn năm 2000, nhịp độ tăng bình quân hằng năm là 4,2%.

- Diện tích rút dần từ 3.712 ha năm 1990 giữ nguyênlúa 2 vụ 3.250 ha năm 2000 (giảm 462 ha lúa 1 vụ). Nhưng sản lượng tăng từ34.500 tấn năm 1990, lên 39.000 tấn năm 2000, nhịp độ tăng bình quân hằng nămlà 1,3%; đảm bảo đủ lương thực cho nhân khẩu nông nghiệp.

Về cây thơm và cây mía thời kỳ 1991 – 2000 tùy thựctế tình hình cung cấp đường của Trung ương cho thành phố ở mức độ nào từ đó sẽgiảm dần đất mía, tăng dần đất thơm xuất khẩu.

b) Chăn nuôi:

Quy hoạch phát triển 5 con chính: heo, bò, trâu,gà, vịt và 2 con phụ là thỏ và ong.

- Con heo là thế mạnh trong ngành chăn nuôi của huyệnđến năm 2000. Phấn đấu đạt quy mô 100.000 con thường xuyên/năm. Trong đó khuvực quốc doanh 5.000 con (gồm 1.000 nái cơ bản và 4.000 heo thịt, chiếm 5% sovới tổng số đàn heo toàn huyện.

- Khu vực tập thể 30.000 con chiếm 30% tổng đàn heo(chủ yếu là xã viên nuôi gia công heo hợp tác xã).

- Khu vực gia đình 65.000 con chiếm 65% tổng đànheo.

- Còn trâu, bò trong những năm trước mắt vẫn giữmức tăng tự nhiên và sử dụng làm sức kéo là chủ yếu. Khi điều kiện cơ giới khá caothì chuyển dần sang hướng chăn nuôi lấy thịt và sữa. Tổng đàn trâu bò đến năm2000 có 30.300 con. Trong đó có 5.000 bò sữa chủ yếu là chăn nuôi trong dân.Đồng thời thành lập 1 xí nghiệp gia công, thu mua, chế biến (sơ chế) sữa bò.

Quy mô phát triển đàn gia súc gia cầm và sản phẩmchủ yếu của ngành chăn nuôi.

CHỈ TIÊU

1986 – 1990

1991 – 2000

I- Quy mô đàn gia súc – gia cầm:

1/ Đàn heo tổng số (con)

Trong đó: - Khu vực quốc doanh

- Khu vực tập thể

- Khu vực gia đình

2/ Đàn trâu (con)

3/ Đàn bò (con)

Trong đó: Bò sữa

4/ Đàn gia cầm (con)

Trong đó: - Gà công nghiệp

- Vịt thời vụ

II - Sản phẩm chủ yếu:

1/ Thịt heo hơi (tấn)

2/ Thịt bò (tấn)

3/ Thịt trâu (tấn)

4/ Thịt gà (tấn)

5/ Thịt vịt (tấn)

6/ Trứng gà (1000 quả)

7/ Sữa tươi (1000 lít)

60.000

2.000

14.000

44.000

10.300

15.500

1.000

528.000

33.000

150.000

5.500

400

500

180

169

4.900

500

100.000

5.600

30.000

65.000

10.300

20.000

5.000

635.000

50.000

180.000

10.480

600

500

190

208

4.900

2.500

Quy mô, nhiệp độ phát triển đàn gia súc gia cầm quacác thời kỳ 1986 – 1990 và 1991 – 2000 như sau:

+ Đàn trâu – giữ nguyên mức độ tăng tự nhiên. Ổnđịnh quy mô đàn 10.300 con.

+ Đàn bò tăng 29% nhịp độ tăng bình quân qua 9năm là 3% năm.

+ Đàn heo tăng 66% nhịp độ tăng bình quân là5,8% năm.

+ Đàn gia cầm tăng 20% nhịp độ tăng bình quân là2% năm.

2. Lâm nghiệp:

Phương hướng, nhiệm vụ của ngành là: tận dụng hếtcác loại đất trống, trồng cây xanh, phát triển mạnh phong trào trồng cây nhândân trên các loại đất giao thông, thủy lợi, đất thổ canh, thổ cư. Các khu xâydưng các công trình văn hóa phúc lợi công cộng nhằm cải tạo môi sinh. Bảo vệđất đai, cây trồng và cung cấp một phần gỗ, củi, phục vụ đời sống nhân dân.

Phấn đấu đưa diện tích cây xanh lên khoảng 800haquy đồng đặc tương ứng 5% diện tích đất tự nhiên. Hàng năm đạt sản lượng 5.000m3gỗ, củi.

Riêng cây trúc trồng tập trung 50ha đồng thời trồngrộng rãi trong nhân dân để có nguyên liệu chủ động cho chế biến phục vụ vùngrau và các sản phẩm mỹ nghệ (mành trúc) xuất khẩu.

3. Ngư nghiệp:

- Đẩy mạnh nuôi tôm cá thâm canh trên các ao hồ hiệncó đồng thời tận dụng hết mặt nước có điều kiện nuôi trồng thủy sản, nghiên cứuvà phát triển nuôi tôm càng xanh, cá bè, cá ruộng xây dựng 1 trại cá giống quymô 1 – 2 ha để tự sản xuất cá giống cung cấp cho nhân dân nuôi.

Mục tiêu phấn đấu đến 2000 đưa diện tích nuôi tôm,cá lên 192 ha. Trong đó 42 ha ao hồ, 150 ha mặt nước tận dụng kết hợp. Tổ chức,cải tạo lại nghề đánh bắt khai thác tôm cá sông rạch nội đồng đưa sản lượng đạt355 tấn/năm.

4) Hiệu quả kinh tế của sản xuất ngành nông – lâm– ngư nghiệp (theo giá cố định 1982)

a) Tổng giá trị sản lượng nông – lâm – ngư nghiệp820.937.000đ.

Trong đó: - GTSL nông nghiệp: 814.296.000đ chiếm99.2%

- GTSL lâm nghiệp: 4.080đ chiếm 0,5%

- GTSL ngư nghiệp: 2.561.000đ chiếm 0,3%

b) Giá trị sản lượng hàng hoá đạt: 520.065.000đ

Trong đó: - nông nghiệp: 518.685.000đ chiếm99,73%

- Lâm nghiệp: 1.380.000đ chiếm 0,27%

c) Giá trị hàng hóa nông – lâm xuất khẩu đạt249.420.000đ.

Trong đó: - Nông sản xuất khẩu trị giá 248.270.000đchiếm 99,53%

- Lâm sản xuất khẩu trị giá 1.150.000đ chiếm0,47%

Tỷ suất giá trị xuất khẩu là 48,94% (so với tổnggiá trị sản lượng hàng hóa).

Riêng cây rau: Năm 2000 dành 40% sản lượng tham giaxuất khẩu.

II. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂNNGÀNH CÔNG NGHIỆP – TTCN:

Phương hướng phát triển ngành công nghiệp – TTCNhuyện Hóc Môn là: trên cơ sở dựa vào nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ để đẩymạnh phát triển sản xuất công nghiệp – TTCN để phục vụ và thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp phát triển. Đồng thời phát triển các loại ngành nghề truyền thống và mộtsố ngành nghề khi có điều kiện, đẩy mạnh các mặt hàng xuất khẩu.

Huyện Hóc Môn sẽ phát triển 4 ngành mũi nhọn sauđây:

1. Ngành chế biến nông sảnthực phẩm:

Bao gồm: xay xát, đường mía, ép dầu, chế biến rauquả, thịt, sơ chế thuốc lá, thức ăn gia súc, nước chấm, bánh tráng v.v…

- Về xay xát: năng lực hiện có đủ để cân đối phụcvụ theo nhu cầu quy hoạch. Tuy nhiên cần có tổ chức sắp xếp lại địa bàn phục vụthuận tiện cho người tiêu dùng.

- Đường mía: hiện nay có một cơ sở quốc doanh đườngquy mô chế biến từ 8 – 10.000 tấn mía cây/năm và 28 lò đường tư nhân. Hướng tớisẽ tổ chức thành một xí nghiệp liên hiệp đường, cồn giấy tại xã An Phú Đông vàđưa các lò đường gắn vào các hợp tác xã trồng mía.

Đồng thời sẽ đầu tư xây dựng mới 1 lò đường quy mô50 tấn mía cây/ngày tại xã Thạnh Lộc.

- Ép dầu: chuyển xí nghiệp tư nhân Thuận Hoà Hưnglên Công ty hợp doanh kết hợp làm xà bông, thức ăn gia súc. Sắp xếp lại cácbọng dầu tư nhân thành các hợp tác xã.

- Chế biến rau: Trong những năm trước mắt chế biếndưới dạng thủ công là chủ yếu, chuyển dần lên bán cơ giới và chế biến theo lốicông nghiệp.

Dự kiến xây dựng một nhà máy bảo quản tươi sống đônglạnh quy mô 50 tấn/ngày và một nhà máy rau quả thịt hộp quy mô 3.000 tấn sảnphẩm/năm, đặt tại xã Trung Mỹ Tây. Trước mắt cần mở rộng quy mô nhà máy nước đáquốc doanh huyện.

- Sơ chế thuốc lá:

Đầu tư đủ lò sấy theo quy mô và tốc độ phát triểncủa thuốc lá sợi vàng cho 2 xã Đông Thạnh và Thới Tam Thôn.

- Thức ăn gia súc: Chủ yếu là trang bị máy chế biếnloại vừa và nhỏ phù hợp với quy mô từng trại.

- Phối hợp với thành phố sử dụng xí nghiệp thức ăngia súc số 1 để sản xuất phục vụ phát triển đàn heo của huyện đồng thời liên kếtvới các ngành thành phố, các tỉnh huyện bạn để giải quyết nguồn thức ăn.

- Song song kết hợp chế biến các loại thực phẩm truyềnthống như: bánh tráng, hủ tiếu, nước chấm v.v…

2. Ngành dệt:

Năm 1983 có 2.327 máy dệt các loại: năng lực dệttừ 8 – 10 triệu mét vải các loại/năm. Huyện sẽ đẩy mạnh phát triển ngành dệt vớinăng lực ổn định là 8 triệu mét vải và 10 triệu mét vải mùng/năm. Chuyển một sốmáy sang dệt sợi cô-tông mở rộng sản xuất mặt hàng bao đây. Có biện pháp tốt đểổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Đồng thời có đầu tư thêm máy mới đểthay thế các loại máy đã kém chất lượng.

3. Ngành cơ khí sửa chữa:

- Về cơ giới hóa khâu làm đất: năm 85 đạt 30% nhucầu sức kéo năm 1990 đạt 60% và những năm 90 đạt trên 70%. Trang bị máy móc phùhợp với từng loại địa hình, đất đai, cây trồng nhất là đối với vùng rau chuyêncanh.

- Ngành cơ khí: Trước hết là phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp. Bao gồm từ sửa chữa nhỏ đến vừa. Sản xuất các loại chế biến rau,sơ chế thức ăn gia súc, xe cải tiến, nông cụ cầm tay v.v… Ngoài ra tổ chức mỗixã từ 1 – 4 lò rèn làm vệ tinh cho xí nghiệp cơ khí huyện. Thành lập mới mộtcửa hàng phụ tùng máy móc nông nghiệp. Mở rộng đưa nhiều mặt hàng cơ khí phụcvụ sản xuất và gia dụng, phụ tùng vào mạng lưới hợp tác xã mua bán. Những năm90 có thể phát triển thêm một số ngành như cơ khí gia công lắp ráp máy móc, thiếtbị chuyên dùng điện, điện tử dưới hình thức hợp tác các cấp.

4. Khai thác và chế biến lâmsản, vật liệu xây dựng và công nghiệp khác.

a) Khai thác và chế biến lâm sản: phải kết hợp đẩymạnh trồng cây lấy gỗ tạo nguồn nguyên liệu tại chỗ với liên kết kinh tế; đốilưu hàng hóa để bổ sung thêm nguồn gỗ củi.

Hiện có 4 tổ hợp, 2 tổ gia công và 13 cơ sở cửa xẻgỗ. Hướng tới tổ chức thành 1 xí nghiệp quốc doanh cưa xẻ tại xã Đông Hưng Thuận,3 hợp tác xã mộc, 3 xưởng mộc hợp doanh cưa xẻ gỗ để chế biến gỗ tại huyện.Ngoài ra phát triển thêm ngành mộc vào các hợp tác xã nông nghiệp để tăng nguồnthu nhập cho xã viên.

b) Vật liệu xây dựng: nhu cầu đến năm 2.000 cần khoảng255 triệu viên gạch ngói/năm. Bình quân hàng năm cần 17 triệu viên. Công suấttrên địa bàn hiện có 7 triệu viên/năm.

Cần mở rộng cơ sở tại xã Xuân Thới Thượng từ 3 triệuviên hiện nay lên 7 triệu viên/năm xây dựng mới 1 lò tại xã Xuân Thới Sơn côngsuất 3 triệu viên/năm.

Đồng thời áp dụng biện pháp sản xuất gạch không nungvà xây dựng các lò có công suất nhỏ từ 300 – 500.000 viên/năm trong các hợp tácxã nông nghiệp.

c) Ngành nghề khác như: gia công mỹ nghệ, mành trúc,đan giỏ trạc phát triển rộng xuống tận hợp tác xã và gia đình.

5. Hiệu quả sản xuất ngành côngnghiệp – TTCN

- Đến năm 2.000 đạt giá trị tổng sản lượng 1.104triệu đồng. Cơ cấu giá trị tổng sản lương được phân theo ngành như sau:

+ Chế biến lương thực thực phẩm chiếm 31%

+ Dệt da may mặc chiếm 33%

+ Cơ khí 10%

+ Vật liệu xây dựng, gỗ giấy 7,6%

+ Hoá chất 4%

+ In văn hóa phẩm 0,3%

+ Công nghiệp khác 9,2%

- Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 493.275.000 đồngchiếm 44,6% giá trị sản lượng.

- Giá trị hàng cung ứng xuất khẩu đạt 138.710.000đ,chiếm 12,5% giá trị tổng sản lượng và đạt 28,1% giá trị hàng hóa.

- Phấn đấu đưa công nghiệp – TTCN vào các hợp tácxã sản xuất nông nghiệp đạt 20 – 30% giá trị tổng sản lượng của ngành.

III. QUY HOẠCH CẤU TRÚC HẠTẦNG KINH TẾ XÃ HỘI:

1. Nước cho sản xuất và sinhhoạt:

Như phần tình hình cơ bản đã trình bày, Huyện HócMôn sẽ khai thác và sử dụng cả 3 nguồn nước: nước mặt, nước ngầm và nước mưa.

- Để bảo đảm nguồn nước tưới ổn định cho vùng lúacao sản 3.250 ha, yêu cầu công trình thủy lợi Dầu tiếng xả nước xuống sông SàiGòn về mùa kiệt, đưa lưu lượng hiện nay 16 – 18m3/s lên 26 – 30m3/s.Đồng thời để phát huy công suất các trạm bơm điện hiện có, tưới cho vùng lúa, raumàu của huyện theo thiết kế.

- Nguồn nước ngầm được khai thác tưới cho vùng rauchuyên canh và cây công nghiệp ngắn ngày với diện tích 4.000 ha. Phương hướngđầu tư: giếng công nghiệp cho vùng đồi gò, giếng bán công nghiệp và thủ côngcho vùng triền.

Phấn đấu đến năm 1990 cơ bản đầu tư xong thủy lợiphục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

Nước cho sinh hoạt: tiến hành cải tạo và mở rộng2 giếng nước và hệ thống đường ống dẫn hiện có.

Về lâu dài: cơ bản dựa vào nhà máy nước của thànhphố đặt khai thác tại Hóc Môn, cấp nước cho: các điểm dân cư tập trung, huyệnlỵ, cụm kinh tế kỹ thuật, khu công nghiệp, các công trường sẽ tiến hành xâydựng hệ thống cấp thoát nước hoàn chỉnh, nhất là đối với thị trấn Hóc Môn. Vùngcòn lại khai thác bằng giếng nhân dân tự làm.

2. Quy hoạch xây dựng và dâncư.

a) Về ranh giới:

Ranh giới huyện vẫn như cũ: ranh giới xã và số xãcó dự kiến thay đổi như sau:

- Tách 2 xã Tân Thới Nhất, Đông Hưng Thuận thành04 xã mới.

- Tách ấp Lạc Quang, xã Tân Thới Nhất ghép với ấpBầu Nai, Xã Đông Hưng Thuận để thành lập 1 xã mới.

- Ghép một phần xã Tân Xuân với một phần xã TrungMỹ Tây thành lập 1 xã mới.

- Nông trường Nhị Xuân đề nghị giao cho huyện quảnlý và thành lập một nông trường huyện.

- Về quy mô diện tích và dân số từng xã thực hiệntheo quyết định số 64/HĐBT ngày 12-9-1981 “về việc điều chỉnh địa giới hànhchánh”.

Như vậy trong tương lai huyện sẽ có 1 thị trấn, 18xã (trong đó 4 xã mới) và một nông trường. Thời gian điều chỉnh ranh giới và đặttên xã thực hiện trong 2 năm 85 – 86.

b) Xác định huyện lỵ và cụm kinh tế kỹ thuật:

- Xác định huyện lỵ là thị trấn Hóc Môn, và sẽ tiếptục cải tạo xây dựng mới, huyện sẽ chia làm 4 cụm kinh tế kỹ thuật, trọng tâmcủa cụm đặt tại các xã: Trung Mỹ Tây, Xuân Thới Thượng, Đông Thạnh, Thạnh Lộc.

Riêng khu quân sự Quang Trung trước đây, dành mộtphần làm khu hội chợ, một phần sẽ phát triển các trường chuyên nghiệp của thànhphố.

c) Dân cư: Hiện nay có trên 20 điểm dân cư lớn. Hướngbố trí là tập trung vào các trung tâm kinh tế kỹ thuật, trung tâm các xã và thịtrấn, ven trục lộ giao thông chính.

d) Qui hoạch nhà ở:

Từ nay đến năm 1986 tập trung giải quyết nhà lụpxụp mất vệ sinh nhất là khu vực thị trấn Hóc Môn và các chợ lớn.

Phấn đấu từ 1986 – 1990 ngói hóa 2/3 số nhà tươngứng 12.000 ngói. Thời kỳ tiếp theo sẽ giải quyết hết số còn lại.

Các khu trung tâm xây dựng điển hình nhà 1 – 2 lần,các công trình công cộng cần bố trí theo loại điển hình 2 – 3 lầu trở lên. Cáckhu chung cư cán bộ, công nhân xây dựng nhà cao tầng, do thành phố đảm nhận.

e) Bố trí trung tâm xã:

Cần thiết chuyển dời vị trí hành chánh Ủy ban nhândân một số xã như sau: xã Thới Tâm Thôn ra ngã 4 Thới Tứ, xã Tân Xuân ra quốclộ 22, xã Nhị Bình dịch lên phía hương lộ 12.

3. Giao thông vận tải:

a) Giao thông đường bộ: Cần nâng cấp và mở rộng cácđường như tỉnh lộ 9, 14, 15, 16, hương lộ 40, 80 và các đường liên vùng, liênxã thành bê tông nhựa. Cải tạo lại hầu hết mạng đường thị trấn Hóc Môn để giảiquyết giao thông ứ tắc. Chủ yếu là các đường: Quang Trung, Triệu Ẩu, Lý Nam Đế,Trần Bình Trọng.

Dự kiến làm mới đường qua vùng bưng 3 xã phía đôngđể đẩy mạnh phục vụ sản xuất nông nghiệp, cải tạo lại cầu xáng, làm mới cầurạch Tra sang Củ Chi, cầu rạch Da sang Gò Vấp.

Khôi phục lại tuyến đường sắt An Nhơn – Lái Thiêu,làm mới tuyến đường sắt đi Tây Ninh qua địa phận Hóc Môn.

Đồng thời cải tạo và xây dựng mới một số bến bãiđáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng cao.

b) Giao thông đường thủy:

Kết hợp giữa giao thông và thủy lợi để khai thácvận tải đường thủy.

Xây dựng mới cảng Cầu Xáng. Nạo vét lại sộng rạchTra để tàu trọng tải 50 – 100T có thể ra vào thuận lợi, tăng cường thêm phươngtiện để vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy chiếm 1/3 khối lượng của ngành.

c) Nhu cầu vận tải:

Đến năm 2000 khoảng trên 30.000 tấn. Cần đầu tư phươngtiện lên 22% so với năm 1983. Đồng thời thay thế dần phương tiện hiện có để đápứng năng lực vận tải ổn định. Trong đó vận tải thủy đảm bảo 30%, vận tải bộ đảmnhận 70% khối lượng vận chuyển.

4. Quy hoạch điện:

Từ nay đến năm 1990 cần ưu tiên điện cho sản xuất,nhất là khu vực nông nghiệp (tập trung cho vùng rau chuyên canh, cây công nghiệpngắn ngày, lúa). Từ nay đến 1990 đầu tư 60km đường dây trung thế và 75 km hạthế. Đưa tổng chiều dài đường dây trung thế lên 150 km và hoàn chỉnh mạng lướihạ thế coi như cơ bản điện khí hóa.

Lượng điện tiêu thụ cần cho năm 2000 là: 176 triệuKWh/năm – bình quân xã hội 53 KWh/tháng/người. Trong đó điện cho sản xuất nôngnghiệp 22%, cho công nghiệp 4% điện cho cơ quan 16% và cho sinh hoạt nhân dân22%.

5. Thông tin bưu điện truyềnthanh:

Từ nay đến năm 1990 tập trung hoàn chỉnh hệ thốngthông tin bưu điện, đảm bảo liên lạc thông suốt giữa các cơ quan, giữa huyệnvới các xã, hợp tác xã, giữa các trung tâm tiểu vùng. Xây dựng lại bưu điệnhuyện. Trang bị mới tổng đài 200 số tự động. Tăng điện thoại công cộng lên 50số.

Xây dựng mới đài phát sóng huyện. Hoàn thiện hệ thốngđài tiếp âm của các xã và thị trấn. Mở rộng thêm hệ thống loa ở các xã có địabàn dân cư rộng.

Phấn đấu đến năm 2000 mỗi hộ gia đình có một máythu thanh hoặc loa truyền thanh để theo dõi chương trình phát thanh của huyệnvà các xã.

6. Thương nghiệp:

Tổ chức tốt khâu lưu thông phân phối, chiếm lĩnhthị trường. Đẩy mạnh cung ứng nguồn hàng xuất khẩu; dịch vụ nhất là khối hội chợQuang Trung. Thành lập mới Công ty dịch vụ. Sắp xếp và quy hoạch lại các chợtrọng điểm là chợ thị trấn Hóc Môn, chợ Bàu Nai Bà Điểm, xây dựng mới trung tâmthương nghiệp tại thị trấn Hóc Môn, hệ thống kho tàng trung tâm và khu vực. Phấnđấu nâng tỷ lệ doanh số của thị trường thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đạt 55%năm 1985 và cơ bản chiếm lĩnh thị trường toàn quận ở năm 1990.

7. Hệ thống giáo dục:

Phấn đấu đến năm 1985 không còn tình trạng học 3ca. Tăng cường các lớp mẫu giáo, nhà trẻ đến tận các hợp tác xã, đội sản xuất.

Đến năm 1990 mỗi cụm kinh tế kỹ thuật có 1 trườngcấp 3, tất cả các xã đều có trường cấp 2. Đến năm 2000 thu hút 100% các emtrong độ tuổi đi học đều được vào trường, tỷ lệ như sau” Đối với cấp 1 và 2 đạt100%, cấp 3 đạt 40 – 50% số còn lại sẽ thu hút vào các trường dạy nghề, mẫu giáonhà trẻ 80 – 90%.

Xây dựng mới 127 phòng học cho năm 1990 và 115 phònghọc cho năm 2000.

Song song với hệ thống phổ thông, đẩy mạnh học bổtúc văn hoá và chương trình phổ cập văn hoá các cấp, mở thêm một số trường dạynghề của huyện.

8. Y tế thể dục thể thao:

a) Y tế:

- Mục tiêu phấn đấu đến năm 2000: bình quân 10.000dân có 1 trạm y tế (hiện nay 14.000 dân có 1 trạm). Mỗi cụm kinh tế kỹ thuật có1 phòng khám 10 giường bệnh.

- Nhà hộ sinh: 1.000 dân có 0,5 giường (mỗi nhà hộsinh có 8 – 10 giường).

Giường bệnh: đạt 1.000 dân có 6 giường bệnh.

Số y bác sĩ: bình quân 10.000 dân có 9 y bác sĩ.

- Từ nay đến 1990 tiếp tục mở rộng bệnh viện huyệncó quy mô hiện nay 100 giường bệnh lên 200 – 250 giường. Sau năm 1990 xây dựngthêm 1 bệnh viện nữa có quy mô tương tự. Mở rộng cửa hàng dược liệu đông y cũngnhư màng lưới y tế xuống tận hợp tác xã.

Đồng thời có biện pháp tích cực nhằm hạn chế tốcđộ tăng dân số tự nhiên theo hướng mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con. Mục tiêu đạt tỷlệ đó như sau: 1,8% năm 1985, 1,6% năm 1990 và 1,2% năm 2000. Đẩy mạnh phong trào5 dứt điểm trong ngành y tế.

b) Thể dục thể thao:

Mục tiêu đến năm 2000 là hình thành cho được 1 cụmthể dục thể thao cấp huyện: bao gồm cung thể thao, nhà tập, sân vận động, hồbơi có quy mô diện tích từ 5 – 10 ha. Mỗi cụm kinh tế kỹ thuật có một cung thểthao.

Trong những năm trước mắt cần xây dựng các câu lạcbộ bóng bàn, bể bơi, sân bóng đá cấp huyện. Mỗi xã có 1 sân bóng đá, bóng chuyềnvà bóng bàn. Tăng cường số huấn luyện viên cho phong trào và cho cơ sở.

9. Văn hoá văn nghệ:

a) Chiếu phim và rạp hát: Trước mắt huyện tập trunghoàn thành rạp hát cố định 1.200 chỗ ngồi. Sau năm 1990 xây thêm một rạp cốđịnh nữa quy mô 800 – 1000 chỗ ngồi. Mỗi cụm kinh tế kỹ thuật xây dựng 1 rạp hátngoài trời quy mô 800 – 1000 chỗ ngồi.

b) Sách báo: Mở rộng màng lưới phục vụ sách báo.Bình quân 1 bản sách báo/1 người thì đến năm 2000 cần có 275.009 – 300.000 bản sáchbáo các loại (hiện nay bình quân đạt 0,5 bản/người), đưa quy mô thư viện huyện20.000 bản hiện nay lên khoảng 50 – 70.000 bản năm 2000. Mỗi xã và thị trấn có1 thư viện từ 5.000 – 10.000 bản.

- Đến 1990 xây dựng được công viên thiếu nhi huyệntại xã Trung Mỹ Tây, nhà văn hóa huyện. Cải tạo và mở rộng nhà truyền thống xãTân Thới Nhất, xây dựng mới nhà truyền thống huyện tại thị trấn Hóc Môn, chiếnkhu An Phú Đông – Thạnh Lộc, xây dựng tượng đài Nguyễn Thị Minh Khai, nghĩatrang liệt sĩ và nghĩa trang nhân dân cấp huyện.

10. Quy hoạch dân số và lao động:

a) Dân số: dự kiến tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1985là 1,8% năm 1990 là 1,6% với năm 2000 là 4,2%

Tương ứng sẽ có dân số các thời kỳ như sau: 1985có 222.500 người. Năm 1990 có 240.700 người. Năm 2000 có 275.000 người.

b) Lao động: dự kiến năm 2000 có 122.000 lao động.Phương hướng chung là thu hút lao động tại chỗ. Về cơ cấu được phân bố như sau:nông nghiệp chiếm 36%, công nghiệp – TTCN chiếm 15,8%, thương nghiệp và dịch vụ18%, xây dựng cơ bản 9%, ngành nghề và đối tượng lao động khác 21,2%.

IV. XÂY DỰNG KINH TẾ KẾTHỢP CỦNG CỐ AN NINH QUỐC PHÒNG.

Trước hết làm cho toàn dân thấy được kiểu chiến tranhphá hoại nhiều mặt của kẻ địch, kiên quyết đánh thắng kiểu chiến tranh này vàsẵn sàng đánh thắng địch trong mọi kiểu chiến tranh (nếu có).

a) Về xây dựng lực lượng: xây dựng tốt lực lươngvũ trang tự vệ tập trung. Đặc biệt chú trọng lực lượng quân dự bị. Xây dựng lựclượng tự vệ của các xã, thị trấn, cơ quan. Kết hợp với các lực lượng vũ trang thànhphố, quân khu đóng trên địa bàn huyện thành một lực lượng thống nhất. Làm tốtchính sách hậu phương quân đội, kết hợp việc phân bố lại lực lượng lao động vớiphân bố lực lương quốc phòng. Xây dựng các cụm chiến đấu liên hoàn tổng hợp.

b) Xây dựng tiềm lực quốc phòng trên địa bàn huyện:ngành nông nghiệp và lương thực đảm bảo dự trữ được nguồn lương thực, thực phẩmcho thời chiến theo mức thành phố quy định, kết hợp giữa giao thông và thuỷlợi, trồng cây gây rừng tạo thế liên hoàn về địa hình cho việc trú quân, dichuyển tấn công vào phòng ngự. Ngành cơ khí có thể chuyển sang sản xuất và sửachữa vũ khí thô sơ, khi có chiến tranh ngành giao thông vận tải đáp ứng đượcnhu cầu trong mọi tình huống.

V. TỔ CHỨC VÀ XÂY DỰNG LỰCLƯỢNG:

- Hiện nay toàn huyện có 1.294 đảng viên đạt 0,6%so với tỷ lệ dân số. Phấn đấu đến năm 1990 đạt 1,7% và năm 2000 đạt 2,5 – 3%dân số. Toàn huyện tổ chức thành 20 Đảng bộ xã, 42 hợp tác xã tổ chức thành Đảngủy trực thuộc Đảng bộ xã. Các phòng, ban, đoàn thể tổ chức thành các chi bộ độclập trực thuộc huyện ủy. Đoàn Thanh niên hiện nay có 5.327 người, phấn đấu đếnnăm 2000 đạt 10 – 12% dân số. Ban Chấp hành huyện uỷ: năm 2000 có độ tuổi đờibình quân là 40 tuổi, có trình độ chính trị: trung cấp 64%, cao cấp 36%, trìnhđộ chuyên môn: trung cấp 51%, đại học 49%.

- Tổ chức bộ máy và cán bộ trên địa bàn huyện. Đốivới Ủy ban Nhân dân huyện gồm 13 Ủy viên: 1 Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch, 1 Ủy viênthư ký và 7 thành viên Ủy ban. Đến năm 2000 đạt tuổi đời bình quân 35 – 38 tuổiđời, trình độ chính trị đạt 46,2% trung cấp và 53,8% cao cấp. Trình độ chuyênmôn: hầu hết là đại học và cao đẳng, toàn huyện tổ chức 24 ban phòng, mỗi bànphòng gồm 1 trưởng và từ 1 – 2 phó.

Quy hoạch lại hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ xã, thị trấn,các đơn vị sản xuất kinh doanh đủ năng lực công tác. Đối với hợp tác xã dự kiếnđến 1990 có 43 hợp tác xã nông nghiệp, cần đào tạo 130 Chánh phó chủ nhiệm, 430đội trưởng và đội phó, 150 cán bộ 3 ngành: quản lý kinh tế trồng trọt, chănnuôi thú y từ trung sơ cấp đến đại học và 95 kế toán trung sơ cấp cho các hợptác xã.

VI. TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT VÀCẢI TẠO:

1. Nông lâm ngư nghiệp:

Dự kiến đến năm 1985 cơ bản hoàn thành tập thể hóanông nghiệp với 2 hình thức hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Đưa trên 80% số hộvà trên 85% diện tích canh tác vào làm ăn tập thể. Xây dựng 23 hợp tác xã nôngnghiệp.

Thời kỳ 86-90 xây dựng 43 hợp tác xã trong đó 19hợp tác xã rau, quy mô từ 50 – 100 ha, 12 hợp tác xã lúa quy mô 200 – 250 ha, 6HTX lúa rau và 3 hợp tác xã mía.

Thời kỳ tiếp theo nâng cao chất lượng hợp tác xã,quy mô hợp tác xã để phù hợp với trình độ tổ chức quản lý trong giai đoạn mới.

2. Công nghiệp – TTCN:

Tăng cường chất lượng phục vụ của xí nghiệp cơ khíquốc doanh huyện, tổ chức mạng lưới lò rèn các xã và hợp tác xã làm vệ tinh choxí nghiệp.

Tổ chức 5 hợp tác xã sản xuất phân bón gia công trựctiếp cho các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp.

Hình thành xí nghiệp CTHD ép dầu và tổ chức các bọngdầu tư nhân thành 2 hợp tác xã làm vệ tinh cho xí nghiệp.

Ngành cưa xẻ và chế biến gỗ: tổ chức thành 1 xí nghiệpquốc doanh, 3 xí nghiệp hợp doanh và 3 HTX mộc, đồng thời cũng phát triển tổmộc trong các HTX nông nghiệp.

Dệt là ngành thu hút nhiều lao động và đạt giá trịsản lượng cao nhất của ngành. Trên cơ sở đã có 22 tổ hợp và 8 HTX. Hướng tới sẽtổ chức thành 17 HTX dệt (trong đó có 2 HTX dệt chiếu cói).

May mặc tổ chức thành 3 HTX, chuyển 3 tổ hợp ngànhthêu hiện nay lên thành 3 HTX vào cuối 1985.

Ngành mành trúc xuất khẩu: Trên cơ sở đã có 1 HTXsẽ phát triển thêm 5 HTX nữa.

Ngành chế biến đường mía: sẽ tổ chức thành 1 xí nghiệpliên hiệp sản xuất đường, cồn, giấy. Một số máy móc không thu hút hết vào xínghiệp sẽ đưa vào các HTX trong mía làm vệ tinh cho xí nghiêp. Đồng thời sắpxếp lại ngành xây xát phù hợp với yêu cầu đời sống của nhân dân trong huyện.Phấn đấu đưa CN – TTCN vào các HTX nông nghiệp đạt 20 – 30% giá trị tổng sảnlượng của ngành.

3. Thương nghiệp và dịch vụ:

Phấn đấu đến hết 1985 hoàn thành cơ bản về công táccải tạo XHCN đối với thương nghiệp, xoá bỏ triệt để tư sản thương nghiệp, sắpxếp lại những người buôn bán nhỏ giảm 70% số hộ buôn bán nhỏ hiện có, giảm 80%số hộ kinh doanh ăn uống rau, cá và 100% hộ kinh doanh buôn bán thịt. Triệt tiểuthương lái heo.

Sắp xếp ngành dịch vụ thành 6 HTX: như may đo, cắttóc, sửa xe gắn máy và xe đạp v.v… Đồng thời có đầu tư thích ứng để tăng mạnglưới dịch vu cho khu hội chợ Quang Trung như ăn uống, du lịch, vận chuyển v.v…

Ngành thương nghiệp và dịch vụ đạt doanh số cho thịtrường thương nghiệp XHCN từ 55 – 60% năm 1985 và 80% cho năm 1990.

4. Phân cấp quản lý:

Để tạo điều kiện đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, côngnghiệp – TTCN khi huyện đủ sức thì thành phố sẽ giao cho huyện quản lý nôngtrường Nhị Xuân, nhà máy sản xuất thức ăn gia súc Duticô, nhà máy ép dầu HócMôn. Đồng thời có quy hoạch cụ thể các khu đất quân sự hiện nay để chuyển sangđất xây dựng cơ bản của huyện.

VII. VỐN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢKINH TẾ:

(tính theo bằng giá cố định 1982)

1. Tổng số vốn đầu tư:2.008.786.000 đồng. Chia ra:

- Nông lâm ngư nghiệp: 714.786.000đ chiếm35,58%, trong đó đầu tư cho thủy lợi là 217 triệu đồng.

- Công nghiệp – TTCN: 381.000.000đ chiếm 18,96%.

- Xây dựng cơ bản: 913.000.000đ, chiếm 45,46%, trongđó nhân dân tự sửa chữa nhà và ngói hóa là 220 triệu đồng.

- Phân loại nguồn vốn:

Trung ương và thành phố đầu tư: 651.000.000 đồng,chiếm 32,4%.

Ngân sách huyện đầu tư: 300.000.000đ, chiếm14,93%.

Vay Ngân hàng: 400.000.000đ, chiếm 19,91%.

Nhân dân đầu tư: 657.736.000đ, chiếm 32,76%.

2. Giá trị sản lượng:

Giá trị tổng sản lượng các ngành sản xuất đạt:1.925.379.000đ.

Trong đó: Nông lâm ngư nghiệp: 820.937.000đ chiếm42,63%

Công nghiệp - TTCN: 1.104.442.000đ, chiếm 57,37%.

Giá trị sản lượng hàng hóa đạt: 1.113.340.000đ, sovới giá trị tổng sản lượng, chiếm 52,63%.

Trong đó: Nông lâm ngư nghiệp: 529.065.000đ chiếm51,32%.

Công nghiệp – TTCN: 138.710.000đ, chiếm 35,74%.

3. Bình quân xã hội một sốsản phẩm chủ yếu:

- Rau các loại 920kg, mía cây 218kg, thịt các loại43kg, vải 34m, đường ăn 22kg/người/năm. Riêng về lúa đạt 354kg/nhân khẩu nôngnghiệp.

4. Một số chỉ tiêu bình quânkhác:

- Giá trị sản lượng nông nghiệp/ha đất nông nghiệpđạt 79.974đ.

- Giá trị sản lượng nông nghiệp/lao động nông nghiệpđạt 18.300đ.

- Giá trị sản lượng công nghiệp/lao động công nghiệpđạt: 51.920đ