ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Đề án liên kết

đào tạo giáo viên dạy nghề theo địa chỉ sử dụng

__________________

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Nghị quyết số: 02-NQ/TU ngày 02/10/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về đào tạo nghề, phát triển nghề, giải quyết việc làm trong nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu lao động giai đoạn 2006-2010;

Căn cứ Quyết định số: 2819/QĐ-UBND ngày 30/10/2006 của UBND tỉnh về phê duyệt Đề án phát triển dạy nghề tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015;

Căn cứ Thông báo kết luận số 128/UBND-TH ngày 10/9/2008 củaSS UBND tỉnh tại phiên họp thường kỳ tháng 8/2008 về liên kết đào tạo giáo viên dạy nghề theo địa chỉ sử dụng;

Xét đề nghị của Sở Lao động-TBXH tại Tờ trìih số: 92/T .Tr- LĐTBXH ngày 17/9/20078 về việc phê duyệt Đề án liên kết đào tạo giáo viên dạy nghề theo địa chỉ sử dụng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết đinh này Đề án giáo viên dạy nghề theo địa chỉ sử dụng.

Điều 2. Giao cho Sở Lao động-TBXH phối hợp với sở Giáo dục-Đào tạo, triển khai thực

đề án.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND Tỉnh, Giám đốc các nghành: Lao động-TBXH, Giáo dục-Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và UBND các huyện, thị xã căn cứ quyết định thi hành./.

TM.UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Trường Tô

ĐỀ ÁN

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN DẠY NGHỂ THEO ĐỊA CHỈ SỬ DỤNG

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3230 / QĐ-UBND ngày 01 tháng 9 năm

2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang)

________________________

Phần 1

NHỮNG CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

_____________________

1. Căn cứ pháp lý: Đề án được xây dựng dựa trên các căn cứ sau đây:

- Chỉ thị số: 40-CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Chấp hành Trung ương Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;

- Luật Giáo dục số: 38/2005/QH11 ;

- Luật Dạy nghề số: 76/2006/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội khoá XI, ky họp thứ 10;

- Quyết định số: 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”;

- Quyết định số: 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02/10/2006 của Bộ Lao động-TBXH Phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề đến năm 2010 định hướng đến năm 2020”;

- Nghị quyết số: 02-NQ/TU ngày 02/10/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về đào tạo nghề, phát triển nghề, giải quyết việc làm trong nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu lao động (giai đoạn 2006-2010);

- Nghị quyết số: 12-NQ/TU ngày 27/6/2008 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về tăng cường lãnh đạo thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2010;

- Nghị quyết số: 16/2006/NQ-HĐND ngày 14/8/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang Phê chuẩn “Đề án phổ cập bậc trung học tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006-2010;

- Nghị quyết số: 32/NQ-HĐND ngày 9/12/2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang Hỗ trợ kinh phí dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn giai đoạn 2007-2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

- Quyết định số: 2819/QĐ-UBND ngày 30/10/2006 của UBND tỉnh Hà Giang về việc Phê duyệt Đề án phát triển dạy nghề tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015;

- Quyết định số: 3582/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của UBND tỉnh Hà Giang về việc ban hành phương án hỗ trợ kinh phí dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn giai đoạn 2007-2010 trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

- Căn cứ Công văn số: 3430/LĐTBXH-TCDN ngày 26/9/2008 của Bộ Lao động-TBXH về việc liên kết đào tạo giáo viên dạy nghề.

2. Thực trạng và yêu cầu phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề, giáo viên dạy nghề.

2.1. Yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động.

Với mục tiêu cơ cấu kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bộ tỉnh đã đặt ra vào năm 2010: dịch vụ chiếm 38%; công nghiệp - xây dựng chiếm 34%, nông lâm nghiệp chiếm 28%, Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 25%, trong đó đào tạo nghề là 18% với cơ cấu lao động phù hợp, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực là 76% lao động nông lâm nghiệp; 7% lao động công nghiệp-xây dựng; 17% lao động thương mại dịch vụ. Từ nay đến năm 2010, với tốc độ tăng dân số, mỗi năm bổ xung nguồn nhân lực trong độ tuổi từ 5.000 đến 6.000 lao động. Nhu cầu cần đào tạo và thu hút lao động theo cơ cấu cụ thể sau:

- Đào tạo nghề cho 18% số LĐ mới bổ sung vào nguồn: 2.160 LĐ

- Đào tạo chuyển đổi từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác: 5.402 LĐ

- Lĩnh vực CN-XD : 2.616 LĐ

- Lĩnh vực thương mại-dịch vụ: 12.334 LĐ.

Ngoài ra cần tổ chức dạy nghề tạo nguồn cho xuất khẩu lao động, đảm bảo mỗi năm xuất khẩu 1.000 lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế của lao động xuất khẩu.

Như vậy nhu cầu đào tạo là rất lớn, đòi hỏi phải có nột đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực dạy nghề của tỉnh.

2.2 Mạng lưới cơ sở dạy nghề.

Trong những năm qua dưới sự lãnh chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh, sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ của Bộ Lao động - TBXH, Tổng cục Dạy nghề và sự tham gia của các sở, Ban, Ngành, Đoàn thể tỉnh, mạng lưới cơ sở dạy nghề của tỉnh từng bước phát triển, ca sở vật chất, quy mô ngành nghề đào tạo phát triển cả về số lượng và chât lượng, đến nay toàn tỉnh có 9 cơ sở dạy nghề, gồm:

- Trường Trung cấp nghề;

- Trung tâm Giới thiệu việc làm;

- Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp;

- Trung tâm dạy nghề Hội liên hiệp phụ nữ;

- Trung tâm dạy nghề huyện Bắc Quang;

- Trung tâm dạy nghề huyện Yên Minh;

- Trung tâm dạy nghề huyện Vị Xuyên;

- Trung tâm dạv nghề huyện Hoàng Su Phì;

- Trung tâm dạy nghề huyện Quang Bình.

Mặc dù vậy, mạng lưới dạy nghề mới phát triển chưa ổn định, còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đội ngũ giáo viên.

Nhằm thực hiện Nghị quyết số: 02-NQ/TU ngày 02/10/2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang về đào tạo nghề, phát triển nghề, giải quyết việc làm trong nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu lao động (giai đoạn 2006-2010). Phấn đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh là 26%. Những mục tiêu cụ thể được đạt ra cho những năm tiếp theo là:

- Hết năm 2009 tất cả các huyện, thị đều có Trung tâm dạy nghề.

- Xây dựng Trường Trung cấp nghề thành Trường cao đẳng nghề để tăng cường, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực.

Để đạt được mục các mục tiêu, cần phải đáp ứng yêu cầu về đội ngũ giáo viên phù hợp với năng lực, quy mô phát triển của từng cơ sở dạy nghề.

2.2. Đội ngũ giáo viên dạy nghề.

Đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay còn thiếu cả số lượng và chất lượng. Trong toàn tỉnh hiện nay chỉ có 85 giáo viên dạy nghề, trong đó:

- Trình độ chuyên môn: Đại học 32; Cao đẳng 35; Công nhân kỹ thuật có tay nghề bậc cao 6; trình độ khác 12 giáo viên (71 giáo viên cơ hữu, 14 giáo viên hợp đồng). Trong đó:

+ Giáo viên là nữ 35 giáo viên chiếm 41,2%;

+ Giáo viên là dân tộc ít người 10 giáo viên chiếm 11,8%;

Trong những năm gần đây số lượng giáo viên dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã gia tăng, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng đào tạo. Nhiều giáo viên dạy tốt lý thuyết thì lại kém thực hành, ngược lại giáo viên dạy thực hành tốt thì khả năng sư phạm khi giảng lý thuyết lại chưa đạt yêu cầu, sở dĩ là do không được đào tạo hoàn chỉnh đúng chuyên ngành.

Kinh nghiệm, kỹ năng giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, theo điều tra, đánh giá tính bình quân thời gian công tác của các giáo viên dạy nghề của các Trung tâm dạy nghề trên địa bàn tỉnh mới có 3,2 năm tham gia giảng dạy, kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế.

Mặc dù giáo viên dạy nghề của Trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề được huy động từ nhiều nguồn: Cử nhân SPKT hoặc từ nhiều trường khác hoặc các chuyên gia kỹ thuật, thợ cả, nghệ nhân giỏi nghề có thâm niên..... Nhưng thực tế các Trường, Trung tâm dạy nghề không chủ động được nguồn giáo viên, cũng như đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm. Những thầy giỏi chuyên môn thì được nhiều cơ sở dạy nghề mời giảng dạy, ngược lại những giáo viên mới chưa có kinh nghiệm thì ít cơ sở dạy nghề ký hợp đồng. Phương pháp truyền đạt của giáo viên cũng chưa đồng đều. Số giáo viên được đào tạo từ các trường Đại học, Cao đẳng chính quy ít, còn lại hầu hết phải huy động từ nhiều nơi cũng chưa đáp ứng đủ giáo viên cho tất cả các ngành nghề đào tạo trong xã hội, đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng cũng như chất lượng.

Mặt khác chưa có chính sách thu hút những giáo viên dạy nghề có đủ trình độ, đặc biệt là giáo viên ngoài tỉnh, giáo viên giỏi lên Hà Giang công tác.

Với yêu cầu nâng cao năng lực đào tạo và thực tiễn phát triển mạng lưới các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay, đồng thời với việc củng cố, phát triển, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề, nâng cao chất lượng hoạt động của trường Trung cấp nghề, các Trung tâm dạy nghề trong toàn tỉnh, thì cần phải giải quyết một yếu tố hết sức quan trọng và quyết định đến kết quả của công tác dạy nghề, đó là đào tạo phát triển lực lượng giáo viên dạy nghề.

Theo kế hoạch mỗi năm, tổng chỉ tiêu tuyển sinh dạy nghề của tỉnh giao cho các cơ sở đào tạo từ 8.000 - 10.000 học sinh cả dài hạn và ngắn hạn. Như vậy tính trung bình mỗi giáo viên phải đảm nhận tới 120 học sinh, gấp 5 lần so với định mức quy định về tỷ lệ học sinh/giáo viên dạy nghề quy đổi của Bộ Lao động - TBXH (23 học sinh/giáo viên). Tính cụ thể như sau:

- Năm 2008 đào tạo nghề cho 8.500 học sinh, trong đó (Trung cấp nghề 750 học sinh, Sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn 7.750 học sinh), thì nhu cầu về lực lượng giáo viên dạy nghề là 210 giáo viên, song hiện nay toàn tỉnh mới có 85 giáo viên, như vậy còn thiếu 125 giáo viên.

- Dự kiến từ nay đến năm 2015 đào tạo nghề cho 84.800 học sinh, trong đó Trung cấp nghề là 8.800 học sinh, sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn 76.000 học sinh, thì nhu cầu giáo viên cần phải có theo quy đinh là 332 giáo viên. Với số giáo viên hiện có thì còn thiếu là 250 giáo viên.

Phần II

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ KẾ HOẠCH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO

I. MỤC TIÊU:

1. Mục tiêu chung: Đào tạo đội ngũ giáo viên có trình độ Cao đẳng Sư phạm kỹ thuật dạy nghề, nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo viên dạy nghề giai đoạn 2008 - 2013 và những năm tiếp theo để bổ sung nguồn giáo viên dạy nghề đảm bảo năng lực đào tạo cho các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh; chủ động, ổn định về đội ngũ giáo viên để đào tạo nghề cho lực lượng lao động của tỉnh.

2. Mục tiêu cụ thể:

- Đào tạo 250 giáo viên trình độ Cao đẳng nghề cho cá: cơ sở dạy nghề.

- Bảo đảm đến năm 2015 đáp ứng đủ về số lượng giáo viên cho các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh và mỗi ngành, nghề đào tạo của các cơ sở dạy nghề có ít nhất 2 giáo viên; đạt tỷ lệ bình quân số lượng học sinh và giảng viên Đại học, Cao đẳng là 20 học sinh/01 giảng viên.

II. ĐỐI TƯỢNG ĐẠO TẠO:

1. Đối tượng đào tạo:

Đào tạo các đối tượng là học sinh đã tốt nghiệp Trung học phổ thông và tương đương có hộ khẩu thường trú tại Hà Giang ít nhất là 5 năm liên tục trở lên tính đến năm tuyển sinh và có đủ các điều kiện theo quy định tuyển sinh; không thuộc biên chế Nhà nước.

1.1. Đối tượng ưu tiên:

Học sinh là người dân tộc thiểu số ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn trong tỉnh (theo Quyết định của Chính phủ); học sinh là con thương binh, con liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng và đối tượng nuôi dưỡng trong Trung tâm Bảo trợ xã hội đã tốt nghiệp PTTH.

1.2. Phương thức tuyển sinh:

Xét tuyển căn cứ theo kết quả điểm tổng kết học tập 3 môn: toán, lý, hoá lớp 12 có điểm tổng kết môn học từ 5,0 điểm trở lên (ưu tiên học sinh đã dự thi các trường Đại học, cao đẳng). Chỉ tiêu phân theo từng huyện, thị xã. Lấy từ cao xuống thấp đủ chỉ tiêu cần tuyển sinh.

2. Đơn vị liên kết đào tạo:

Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định.

3. Hình thức đào tạo:

Đào tạo chính quy tập trung tại trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định theo địa chỉ sử dụng. Trên cơ sở hợp đồng giữa tỉnh với trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định.

Trong quá trình đào tạo những học sinh khá giỏi cơ thể được nhà trường đào tạo chuyển tiếp theo các chương trình đào tạo trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá giáo viên dạy nghề theo quy định chung của Bộ giáo dục và đào tạo.

4. Thời gian đào tạo:

Khoá đào tạo thực hiện trong 3 năm gồm: 2,5 năm đào tạo về chuyên môn và 0,5 năm đào tạo sâu về Sư phạm kỹ thuật dạy nghề.

III. KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO:

1. Số lượng, ngành nghề đào tạo đào tạo:

Đào tạo 250 học sinh Thực hiện từ năm học 2008-2000.

Tập trung đào tạo giáo viên các nhóm nghề chủ yếu phục vũ cho lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và phát triển dịch vụ sau:

- Điện công nghiệp: 40 người

- Điện tử công nghiệp: 40 người

- Kỹ thuật lắp đặt điện và điều khiển điện công nghiệp:

- Hàn: 50 người

- Cắt gọt kim loại: 20 người

- Kỹ thuật máy lạnh: 30 người

- Công nghệ ô tô: 40 người

2. Kinh phí đào tạo:

- Hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo: 300.000đ/học sinh/tháng x 10 tháng x 3 năm x 250 học sinh = 2.250.000.000đ

- Hỗ trợ kinh phí ăn, ở, đi lại cho 50% số chỉ tiêu tuyển là: học sinh là người dân tộc thiểu số ở các xã, thôn đặc biệt khó (theo Quyết đinh của Chính phủ); học sinh là con thương binh, con liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng và đối tượng nuôi dưỡng trong Trung tâm Bảo trợ xã hội:

500.000đ/học sinh/tháng x 10 tháng x 3 năm x 125 học sinh = 1.875.000000đ.

Tổng kinh phí: 2.250.000.000 + 1.875.000.000 = 4.125.000.000 đồng,

Trong đó, kinh phí dự toán năm 2008: 1.375.000.000

Kinh phí để đào tạo được bố trí trong dự toán ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo hàng năm theo quy định.

Từng năm căn cứ biến động giá cả hoặc thay đổi mức thu học phí của Nhà trường, có kế hoạch kinh phí cụ thể để tỉnh cấp. Phần phát sinh tuỳ theo tình hình thực tế sẽ được tỉnh xem xét cụ thể từng năm cho phù hợp.

3. Cam kết thực hiện khi tuyển sinh:

Học sinh được tỉnh xét tuyển cử đi học phải cam kết những nội dung sau:

- Chấp hành các quy định của pháp luật và nội quy, quy chế của nhà trường; hoàn thành chương trình đào tạo theo ngành học.

- Trong quá trình học tập, học sinh vi phạm khuyết điểm bị đuổi học, tự ý bỏ học, gia đình xin cho học sinh thôi học phải hoàn trả 100% kinh phí đã được Nhà nước cấp.

- Học sinh không được phép chuyển trường khác trong thời gian học.

- Học sinh lưu ban phải tự túc kinh phí đào tạo.

- Sau khi tốt nghiệp ra trường chấp hành sự phân công, công tác của tỉnh Hà Giang; trong 10 năm sau khi tốt nghiệp, không được chuyển công tác khác.

4. Hiệu quả của đề án:

- Tạo điều kiện cho cho con em đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn được đào tạo nghề.

- Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các cơ sở dạy nghề, khuyến khích các nhà giáo trọng các cơ sở dạy nghề chủ động và có trách nhiệm gắn giảng dạy với nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.

- Nâng cao chất lượng đào tạo nghề từ đó nâng cao hiệu quả lao động, sản xuất ra các sản phẩm có giá trị chất lượng cao.

- Tạo ra lực lượng lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

- Từng bước khắc phục tình trạng mất cân đối giữa tỷ lệ (giáo viên/học sinh) theo quy định, để phát triển về quy mô, mở rộng ngành nghề đào tạo trong những năm tiếp theo, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm ở địa phương.

Phần III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Sở Lao động - TBXH: Là cơ quan thường trực, có trách nhiệm phối hợp với Sở Giáo dục - Đào tạo và Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định tổ chức thực hiện Đề án, xây dựng kế hoạch tuyển sinh, ký hợp đồng và thanh toán kinh phí đào tạo với Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định, quản lý học sinh trong thời gian đào tạo.

2. Sở Giáo dục - Đào tạo: Phối hợp với Sở Lao động - TBXH tổng hợp, lập danh sách học sinh của các huyện, thị đăng ký trình Hội đồng tuyển sinh tỉnh xét, duyệt theo quy định.

3. Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định:

- Tiếp nhận học sinh theo chế độ tuyển sinh của đề án này và thực hiện đầy đủ các chính sách đối với học sinh theo quy định. Đối với các trường hợp học sinh vi phạm cam kết được nêu trong đề án, thông báo ngay với Sở Lao động-TBXH Hà Giang để phối hợp cùng giải quyết theo quy định.

- Định kỳ hàng năm thông báo cho Sở Lao động - TBXH Hà Giang về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh.

- Bàn giao cho Sở Lao động - TBXH Hà Giang hồ sơ c ủa học sinh sau khi tốt nghiệp.

4. Sở Nội vụ: Phối hợp với Sở Lao động-TBXH bố trí học sinh tốt nghiệp ra trường.

5. Sở Kế hoạch&Đầu tư và Sở Tài chính: Cân đối và bố trí ngân sách hàng năm đảm bảo cấp đủ kinh phí đào tạo theo để án đã đuợc phê duyêt./.

TM. Ủy ban nhân dân tỉnh

Chủ tịch

(Đã ký)

Nguyễn Trường Tô