ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------

Số: 325/QĐ-UB

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 4 năm 1977

QUYẾT ĐỊNH

BANHÀNH ĐIỀU LỆ TẠM THỜI VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH

- Căn cứ nghị định số 01/NĐ-74 ngày 12-9-74 của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miềnNam Việt Nam quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy chánh quyền địaphương ;
- Căn cứ nghị định số 194/CP ngày 31-12-1964 của Chánh phủ nước Việt Nam dân chủcộng hòa ban hành điều lệ giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân và thôngtư số 29-BYT/TT ngày 21-10-1971 của Bộ Y tế nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hướngdẫn thực hiện nghị định số 194/CP ;
- Căn cứ nghị quyết của các hội nghị về chống ô nhiễm, bảo vệ môi sinh ở Thành phốHồ Chí Minh (tại các buổi họp ngày 02-12-1976, 23-12-1976 và 05-4-1977) ;

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. - Nay ban hành“Điều lệ tạm thời về giữ gìn vệ sinh công nghiệp và bảo hộ lao động”.

Điều 2. - Điều lệ này cóhiệu lực trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh và được áp dụng kể từ ngày banhành.

Điều 3. - Ông Chánh Vănphòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân các quận, huyện, các sở, ban,ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, giám đốc các xí nghiệp công nghiệphoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng bảo vệ môi sinh thành phố cótrách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH/THƯỜNG TRỰC




Vũ Đình Liệu

ĐIỀU LỆ

TẠM THỜI VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH CÔNG NGHIỆP VÀ BẢOHỘ LAO ĐỘNG

I. GIỮ GÌN VỆ SINH CHUNG VÀ VỆ SINH CÔNG NGHIỆP :

Điều 1.- Các xí nghiệp,cơ sở sản xuất phải có hệ thống thải nước và thanh lọc nước bẩn, không được đưanước thải còn có độc chất và vi trùng gây bệnh vào hệ thống nước công cộng,sông ngòi hay trên mặt đất.

- Các xí nghiệp không được đểnước thải có ảnh hưởng đến sức khoẻ nhân dân, làm ô nhiễm môi sinh như chết cá,hoa màu cây cối và nhiễm bẩn nước sinh hoạt của nhân dân.

- Nước thải của các xí nghiệpphải tuân theo tiêu chuẩn nước thải đã được ban hành.

Điều 2.- Các xí nghiệpphải có kế hoạch tái sử dụng nước thải (loại nước sạch hay nước đã thanh hóa)vào quy trình sản xuất để đảm bảo nguồn nước ngầm cần thiết cho sinh hoạt củanhân dân địa phương.

Điều 3.- Các xí nghiệpphải có kế hoạch thâu hồi các phế liệu còn có thể sử dụng cho các ngành nôngnghiệp, công nghiệp hay các ngành nghề khác.

Điều 4.- Các xí nghiệpthải nhiều khói bụi, hơi độc phải có hệ thống thông gió và khử độc chu đáo. Hệthống này phải bảo đảm cho các yếu tố độc hại trong không khí quanh xí nghiệpkhông có tác hại đến sức khoẻ nhân dân địa phương.

Điều 5.- Các cơ quan, xínghiệp, nhà ở công cộng phải có đầy đủ các cơ sở vệ sinh tốt như hố xí, phòngtắm. Rác phải được thu gọn sạch sẽ và đem đổ tại các nơi đã được Sở Vệ sinhthành phố quy định.

II.- BẢO HỘ LAO ĐỘNG VÀ Y TẾ LAO ĐỘNG :

Điều 6.- Giám đốc các cơquan, xí nghiệp có trách nhiệm thực hiện mọi mặt công tác bảo hộ lao động trongphạm vi cơ sở mình. Phối hợp với Sở Xây dựng và Sở Y tế thành phố, giám đốc cótrách nhiệm xây dựng hệ thống xử lý nước thải.

Điều 7.- Giám đốc các cơquan, xí nghiệp có trách nhiệm chăm lo sức khoẻ của cán bộ, công nhân, viênchức trong đơn vị mình, phải kiện toàn tổ chức y tế và vệ sinh của đơn vị đểlàm tốt công tác phòng bịnh, chữa bịnh và vệ sinh lao động.

Điều 8.- Giám đốc các cơquan, xí nghiệp tùy theo khả năng tài chánh, dành một số tiền để chi vào côngtác bảo hộ lao động (theo thông tư số 11/TT-LB ngày 15-10-1963 của liên Bộ Laođộng – Tài chánh). Ngoài ra có thể bổ sung 20% quỹ xí nghiệp vào kinh phí chicho công tác bảo hộ lao động khi cần tăng cường các thiết bị an toàn và vệ sinh.

Điều 9.- Giám đốc cótrách nhiệm tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho toàn thể cán bộ, công nhân, viênchức, ít nhất mỗi năm một lần, nhất là công nhân các khâu sản xuất có tính chấtnặng nhọc, độc hại hay làm việc trong những điều kiện có thể hại đến sức khoẻ.

Điều 10.- Tại những khâusản xuất có điều kiện làm việc nguy hiểm và có hại cho sức khoẻ công nhân,ngoài trách nhiệm chăm lo cải tiến thiết bị an toàn và trang bị phòng hộ laođộng, giám đốc phải thực hiện kế hoạch bồi dưỡng cho cán bộ, công nhân, viênchức trực tiếp làm việc tại đây theo hướng dẫn của liên Sở Y tế và Lao động.

Điều 11.- Khi xảy ra tainạn lao động, xí nghiệp phải cứu chữa kịp thời người bị nạn, điều tra nguyênnhân, giải quyết đúng chính sách, đồng thời giám đốc còn có trách nhiệm báo cáovề Sở Lao động, Sở Y tế và Liên hiệp Công đoàn thành phố, thống kê các tai nạnlao động và nghiên cứu thực hiện các biện pháp ngăn ngừa cần thiết.

(Những quy định về khai báo,điều tra và thống kê tai nạn lao động được hướng dẫn theo thông tư số 2/LĐ-TTngày 26-3-1965 của Bộ Lao động).

III.- NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH, CÁC SỞ :

Điều 12.- Đối với côngtác giữ gìn vệ sinh và bảo hộ lao động, các cơ quan chủ quản (tổng cục côngnghiệp, thực phẩm, hóa chất, Bộ Công nghiệp nhẹ…), các Ủy ban nhân dân quận,huyện cần thường xuyên lưu ý đề ra chủ trương, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra cácxí nghiệp trực thuộc thi hành điều lệ này và giúp đỡ về mặt kỹ thuật, cũng nhưcác phương tiện cần thiết như tài chánh, vật tư.

Điều 13.- Giám đốc các cơquan, xí nghiệp hoạt động trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ xâydựng kế hoạch thực hiện toàn bộ bản điều lệ này và đảm bảo thực hiện kịp thờikế hoạch đã đề ra.

Điều 14.- Hội đồng Bảo vệmôi sinh Thành phố có nhiệm vụ :

- Nghiên cứu, hướng dẫn và kiểmtra đôn đốc các cơ quan, xí nghiệp thực hiện điều lệ giữ gìn vệ sinh, bảo hộlao động, bảo vệ môi sinh cũng như các quy định khác của Nhà nước liên quan đếncác vấn đề nói trên.

- Nghiên cứu, hướng dẫn, kiểmtra việc thực hiện các điều lệ bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ của công nhân, viênchức.

- Góp ý kiến và giúp đỡ các cơquan xí nghiệp về kế hoạch xây dựng các công trình vệ sinh chung bảo đảm antoàn lao động…

Điều 15.- Những quy địnhtrên đây được áp dụng cho tất cả các cơ quan, công trường, xí nghiệp đang hoạtđộng trong thành phố.

Điều 16.- Những cơ sở nàovi phạm điều lệ này sẽ bị chế tài theo luật pháp Nhà nước (từ khuyến cáo, phạttiền, đình chỉ hoạt động đến đóng cửa vĩnh viễn và truy tố ra toà án).