THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 4045/QĐ-BGDĐT

Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2010

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “PHÁT TRIỂNTHIẾT BỊ DẠY HỌC TỰ LÀM GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG GIAI ĐOẠN 2010-2015”

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quanngang bộ;
Căn cứ Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19/03/2008 của Chính phủ quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
Căn cứ Quyết định số 4669/QĐ-BGDĐT ngày 21/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc thành lập Ban soạn thảo xây dựng Đề án “Phát triển thiết bị dạyhọc tự làm cấp học mầm non và phổ thông”;
Căn cứ Quyết định số 7157/QĐ-BGDĐT ngày 29/9/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc ban hành Kế hoạch soạn thảo Đề án Phát triển thiết bị dạy họctự làm cấp học mầm non và phổ thông;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất và Thiết bị trường học, đồ chơitrẻ em,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt Đề án “Phát triển thiếtbị dạy học tự làm giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2010-2015” (kèm theoQuyết định này).

Điều 2. Tổ chức thực hiện :

- Bộ Giáo dục và Đào tạo : Ban chỉ đạo Công tác thiếtbị phục vụ đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông chủ trì các hoạt động thựchiện Đề án, các đơn vị chức năng trong Bộ phối hợp thực hiện. Cục Cơ sở vậtchất và Thiết bị trường học, đồ chơi trẻ em là đơn vị thường trực giúp Ban chỉđạo Công tác thiết bị phục vụ đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông theo dõitổng hợp các hoạt động của các đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện Đề án.

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phốchỉ đạo các sở, ban ngành địa phương xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho cáchoạt động tự làm thiết bị dạy học cấp học mầm non và phổ thông; Tổ chức chỉ đạokiểm tra, đánh giá các hoạt động tự làm thiết bị dạy học cấp học mầm non và phổthông. Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xâydựng kế hoạch chi tiết theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo làm căn cứtriển khai thực hiện; Báo cáo tình hình thực hiện tại địa phương về Ban chỉ đạo của Bộ Giáo dụcvà Đào tạo theo qui định.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lựckể từ ngày ký.

Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Cơ sởvật chất và Thiết bị trường học, đồ chơi trẻ em, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tàichính, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học, Vụ trưởngVụ Giáo dục Trung học, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Thường xuyên, Giám đốc các Sở Giáodục và Đào tạo, và các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết địnhnày./.

Nơi nhận :
-Như Điều 3;
-Các Thứ trưởng;
-UBND các tỉnh,TP (để P/hợp T/hiện);
-Các Sở GD&ĐT (để thực hiện);
-Các đơn vị liên quan (để thực hiện);
-Lưu VT,Cục CSVCTBTH.

BỘ TRƯỞNG




Phạm Vũ Luận


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

------------------------

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN THIẾT BỊ DẠY HỌC TỰ LÀM

GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG

GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

(Kèm theo QĐ số 4045/QĐ-BGDĐT ngày 16/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Hà Nội, tháng 9 năm 2010

MỤC LỤC

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

II. CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

2.1. Cơ sở pháp lý

2.2. Cơ sở thực tiễn

III. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TBDH VÀ TỰ LÀM TBDH

3.1. Thuận lợi

3.2. Khó khăn

IV. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

4.1. Quan điểm chỉ đạo

4.2. Mục tiêu

V. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

5.1. Nâng cao nhận thức

5.2. Hoàn thiện hệ thống chính sách

5.3. Thi đua, khen thưởng

5.4. Tổ chức quản lý

5.5. Xây dựng tài liệu, tập huấn chuyên môn

5.6. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về TBDH tự làm trênInternet

5.7. Phát triển các cơ sở nghiên cứu về TBDH và TBDH tự làm

VI. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

6.1. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án

6.2. Giai đoạn 1 (Từ năm 2010 đến năm 2012)

6.3. Giai đoạn 2 (Từ năm 2013 đến năm 2015)

6.4. Giai đoạn từ năm 2016 trở đi

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

7.1. Bộ Giáo dục và Đào tạo

7.2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ ÁN

Trong những năm qua, cùng với đổi mới Chương trìnhgiáo dục phổ thông, thiết bị dạy học (TBDH) đã đóng một vai trò hết sức quantrọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Từ năm 2002 đến 2009, tất cả cáctrường phổ thông đã được trang bị đầy đủ các TBDH từ lớp 1 đến lớp 12 đảm bảonhu cầu tối thiểu theo Danh mục TBDH đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.Tuy nhiên việc mua sắm bổ sung, thay thế hàng năm các TBDH này hiện gặp một sốkhó khăn về nguồn cung cấp các thiết bị, các chi tiết lẻ, nguồn kinh phí muasắm bổ sung và sửa chữa, phương pháp sửa chữa khắc phục các thiết bị hư hỏngtrong quá trình sử dụng... Trong điều kiện đó thì giải pháp tự làm, tự sửachữa, tự cải tiến TBDH đã góp phần khắc phục kịp thời những thiết bị còn thiếu,bổ sung các thiết bị chưa có điều kiện mua sắm, thay thế hoặc cải tiến cácthiết bị hư hỏng, mất mát và phù hợp với tình hình, đặc điểm của các địaphương, cơ sở giáo dục.

Thiết bị dạy học tự làm (TBDHTL) là loại TBDH do giáoviên chế tạo mới hoặc cải tiến từ một TBDH đã có hoặc qua sưu tầm tư liệu hiệnvật mà có. TBDHTL có nguyên lý cấu tạo và cách sử dụng phù hợp với ý tưởng thựchiện bài dạy của giáo viên làm ra, do đó khi được sử dụng thường cho hiệu quảcao và thiết thực. Trong thực tế, một số giáo viên đã sáng tạo cả các phần mềmmô phỏng các thí nghiệm hoá học, vật lí, sinh học…rất có ý nghĩa và đạt hiệuquả trong việc dạy các thí nghiệm khó thực hiện được trong thực tế của điềukiện dạy học.

Nhận thức được tầm quan trọng của TBDHTL, hiện naynhiều tỉnh, thành phố đã phát triển phong trào tự làm TBDH, tạo thành một hoạtđộng sư phạm trong các trường học. Phong trào tự làm TBDH đã khơi dậy sự sángtạo, lòng yêu nghề của đội ngũ giáo viên. Thông qua phong trào, một số lượnglớn các TBDHTL đã được ứng dụng trong quá trình dạy và học. Tuy nhiên các hoạtđộng tự làm TBDH chưa thường xuyên, chưa đồng đều giữa các cấp học, giữa cácvùng miền, địa phương và đặc biệt là chưa có cơ chế, chính sách, sự chỉ đạothường xuyên, đồng bộ của các cấp quản lý giáo dục từ trung ương đến địaphương. Trong bối cảnh ấy, Đề án "Phát triển thiết bị dạy học tự làmgiáo dục Mầm non và Phổ thông giai đoạn 2010 - 2015" nhằm xây dựng hệthống văn bản chỉ đạo, quản lí và các cơ chế chính sách để thúc đẩy việc tự làmTBDH trở thành các hoạt động sư phạm thường xuyên, góp phần tạo ra các TBDHTLmới, cải tiến, sửa chữa các TBDH đã có trong các trường học mầm non và phổthông. Đồng thời khuyến khích giáo viên tích cực sử dụng hiệu quả các TBDH đangngày càng được trang bị và tự làm nhiều hơn trong các nhà trường, thiết thựchưởng ứng phong trào ”Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”và cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương về đạo đức, tự học vàsáng tạo”, góp phần thực hiện phương châm giáo dục “Học đi đôi vớihành”.

II.CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

2.1. Cơ sở pháp lý

- Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 có nội dung “Hoạtđộng giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dụckết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhàtrường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.

- Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốchội khóa X ngày 09/12/2000 về Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đã nêurõ“Đổi mới nộidung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiệnđồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học”.

- Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thưkhóa IX về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lýgiáo dục khẳng định “Đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắcphục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lýthuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiêncứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho ngườihọc,…Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại,ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học”.

- Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chươngtrình Giáo dục mầm non đã nêu ra yêu cầu “Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ đượctích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kíchthích sự phát triển các giác quan và các chức năng tâm - sinh lý; tạo môitrường giáo dục gần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhàtrẻ”.

2.2. Cơ sở thực tiễn

- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành danh mục TBDHtối thiểu theo các cấp học, dựa theo danh mục đó nhà trường có thể mua sắmhoặc động viên giáo viên sưu tầm, tự làm TBDH, cải tiến, sửa chữa các thiết bịhiện có. Đặc biệt là với cấp học mầm non và tiểu học. Nhưng quan trọng hơnlà việc tổ chức, động viên giáo viên sáng tạo, bổ sung thêm các TBDH khác để sửdụng trong giảng dạy. Trong quá trình dạy học, các tình huống mới luôn phátsinh và khả năng sáng tạo của giáo viên là hết sức phong phú.

- Nhiều tỉnh, thành phố đã có phong trào tự làm TBDHphát triển mạnh mẽ, thông qua các phong trào này đã có một số lượng lớn cácTBDH tự làm đang được sử dụng trong quá trình giảng dạy và học tập tại cáctrường học, và được đánh giá cao về hiệu quả sử dụng. Qua các cuộc thi TBDHTL ởcác địa phương và trung ương đã có nhiều TBDHTL đạt giải thưởng. Đây là nhữngsản phẩm có chất lượng cần được nghiên cứu để hoàn thiện, phổ biến, nhân rộng trênphạm vi toàn quốc.

III. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TBDHVÀ TỰ LÀM TBDH

3.1. Thuận lợi

Từ năm 1995 ngành giáo dục đã tổ chức triển lãm vàhội thi đồ dùng dạy học tự làm, từ đó đến nay các hoạt động tự làm TBDH đã đượcsự quan tâm của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp chính quyền địa phươngvà các cơ sở giáo dục của một số tỉnh, thành phố. Tại Hội nghị triển khai công tácTBDH năm học 2007-2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức phát độngphong trào tự làm TBDH trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông cả nước. Hưởng ứng phong trào này đãcó nhiều tỉnh, thành phố tổ chức các cuộc thi tự làm TBDH từ các cơ sở trườnghọc lên đến cấp quận, huyện và cấp tỉnh. Kết quả của phong trào này đã tạo rađược số lượng lớn các TBDH do đội ngũ giáo viên và học sinh tự làm góp phần vàoquá trình đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học đồng thời mang lạiniềm say mê, sáng tạo, lòng yêu nghề cho các thầy cô giáo, góp phần vào việcxây dựng môi trường sư phạm thân thiện, tích cực, sáng tạo.

Trong Triển lãm - Hội chợ Sách, TBDH năm học 2008-2009 BộGiáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội thi đồ dùng dạy học tự làm lần thứ nhất. Kết quả có 15/63 đơn vị Sở Giáo dục và Đàotạo, 4 đơn vị Phòng Giáo dục và Đào tạo tham gia với hàng nghìn sản phẩmTBDHTL. Đã có 21 giải nhất, 42 giải nhì, 60 giải ba được trao tại Hội thi này.Đó là những ghi nhận đối với các sản phẩm có chất lượng cao đã và đang được sửdụng tại các trường mầm non và phổ thông trong cả nước. Nhiều sản phẩm thể hiệnsự sáng tạo của đội ngũ giáo viên có thể nhân rộng để các Sở Giáo dục và Đàotạo triển khai trong các cấp học. Việc đầu tư kinh phí cho các hoạt động tự làm TBDH củacác địa phương cũng đã được quan tâm, trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay thànhphố Hà Nội đã đầu tư khoảng 580 triệu đồng cho các hội thi cấp thành phố và8.384 triệu đồng cho các hội thi cấp quận huyện; thành phố Đà Nẵng đã đầu tư140 triệu đồng cho hội thi cấp thành phố và 365 triệu đồng cho các hội thi cấpquận, huyện; Tỉnh Hoà Bình đã đầu tư 225 triệu cho hội thi cấp tỉnh và 1.838triệu cho các hội thi cấp huyện...

a. Giáo dục mầm non

Ở cấp học này hoạt động tự làm TBDH đã diễn ra thườngxuyên, liên tục ở cả vùng thuận lợi cũng như vùng khó khăn, tạo ra sự phong phúcác đồ dùng dạy học và đồ chơi. Với đặc điểm TBDH còn mang tính chất của đồchơi nên việc thiết kế thi công không đòi hỏi kỹ thuật cao, vật tư nguyên liệudễ kiếm, dễ tìm.

Với đội ngũ giáo viên tự giác, say mê và hứng thúnghề nghiệp, phong trào tự làm đồ dùng dạy học đã thu hút được sự hưởng ứng,ủng hộ của bố mẹ các bé về nguyên liệu, kinh phí mua nguyên liệu và phối hợpcùng làm. Ở bậc học mầm non hoạt động tự làm TBDH diễn ra hàng ngày, nhất làtrong các dịp thi đua chào mừng các ngày lễ lớn và thông qua hội thi như thilàm TBDH, thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi làm TBDH phục vụ các chuyên đềcủa giáo dục mầm non. Đa số các TBDHTL được làm từ những nguyên vật liệu dễkiếm và xuất phát từ ý tưởng của giáo viên trong quá trình hoạt động với trẻnên thân thiện với môi trường, tiết kiệm và rất gần gũi, thiết thực, phục vụhiệu quả cho việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non.

b. Giáo dục tiểu học

TBDHTL cấp tiểu học cũng tương đối đơn giản trongthiết kế, sử dụng và còn mang nhiều tính chất vừa học vừa chơi theo từng chuyênđề và nội dung từng môn học. Đây là một thuận lợi trong hoạt động tự làm TBDHcấp tiểu học.

Phong trào tự làm TBDH mà đỉnh cao là các cuộc thiđược tổ chức ở các địa phương thể hiện TBDHTL cấp tiểu học đã được đầu tư côngsức nghiên cứu, thể nghiệm, phát huy hiệu quả cao trong giảng dạy. Nhiều TBDHTLđược chế tạo từ những vật liệu đơn giản, dễ tìm, dễ làm nhưng vẫn đảm bảo tínhhiệu quả trong việc truyền thụ kiến thức, hình thành và rèn luyện kĩ năng chohọc sinh. Kết quả của các hội thi được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và cácsản phẩm được lưu giữ, có kế hoạch nhân rộng, áp dụng cho các cơ sở.

c. Giáo dục trunghọc cơ sở và trung học phổ thông

TBDHTL ở cấp học trung học đòi hỏi kỹ thuật ở mức độvừa phải, tương ứng với nội dung kiến thức của cấp học này. So với các cấp họcdưới quá trình làm ra các TBDHTL ở cấp học này cần có sự đầu tư nhiều hơn vềthời gian, kinh phí, nguyên vật liệu. Một số TBDHTL, nhất là ở bậc trung họcphổ thông có yêu cầu tương đối cao về tính khoa học, chính xác nên đòi hỏi sựđầu tư lớn về thời gian, kinh phí, nguyên vật liệu. Ở cấp học này còn có cácquá trình, sự vật khó mô tả bằng vật thật nên cần có các phần mềm mô phỏng cácquá trình hoặc hình ảnh không gian của các vật mà trong thực tế chúng có kíchthước lớn hoặc quá nhỏ không thể quan sát bằng mắt thường. Mặt khác nhiều thínghiệm không thể triển khai trong điều kiện dạy học cũng cần được minh họathông qua các phần mềm kỹ thuật số (thí nghiệm ảo). Các hình ảnh hoặc các phầnmềm này cũng có thể sưu tầm trên Internet. Các TBDHTL ở cấp học này không nhiềunhưng thường có giá trị sử dụng cao.

Kết quả Hội thi TBDHTL toàn quốc và qua báo cáo củamột số đơn vị điển hình cho thấy hiện nay có một số TBDHTL cấp học THCS và THPTđã được đội ngũ giáo viên đầu tư trí tuệ, thời gian để sáng tạo ra có chấtlượng cao, có thể giới thiệu, nhân rộng để dùng chung trong toàn quốc.

d. Giáo dục thường xuyên(GDTX)

Đối với GDTX ngoài giáo viên chủđộng tự làm TBDH mà học viên cũng có thể tự làm TBDH (nếu được hướng dẫn). Giáoviên có thể huy động học viên cùng tham gia tự làm những đồ dùng dạy học đơngiản bằng các vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền hoặc sửa chữa cải tiến những thiết bịcũ hoặc những công cụ lao động để làm giáo cụ trực quan,... Tuy nhiên, để cóđược các TBDHTL cần có sự đầu tư về thời gian, kinh phí, nguyên vật liệu.

3.2. Khó khăn

a. Giáo dục mầm non

- Giáo viên phải dạy trên lớp cả ngày nên thiếu thờigian cho tự làm TBDH.

- Chưa có cơ chế chính sách để hỗ trợ mua nguyên vậtliệu trong khi thu nhập của giáo viên không cao, đặc biệt là những giáo viênmầm non ngoài biên chế nên nhiều giáo viên không có đủ điều kiện để tự làmTBDH.

- Chế độ khen thưởng theo quy định hiện hành chưa cụthể, chưa xứng đáng với việc đầu tư trí tuệ và công sức của giáo viên nên chưathực sự khuyến khích đội ngũ trong công tác tự làm TBDH.

b. Giáo dục phổ thông

- Chưa có hệ thống văn bản, tàiliệu hướng dẫn thống nhất nên việc tự làm TBDH của giáo viên chủ yếu xuất pháttừ sự say mê nghề nghiệp của cá nhân hoặc mang tính phong trào mà chưa có đượcchỉ đạo thống nhất, tổ chức có kế hoạch, khoa học.

- TBDHTL cấp tiểu học mới chỉtập trung ở một số môn học (Toán, Khoa học, Lịch sử - Địa lí…) hoặc chỉ tậptrung ở một số chương, bài của các môn học, điều đó cho thấy công tác tự làmTBDH chưa được đầu tư nghiên cứu một cách sư phạm, khoa học và đầy đủ.

- Các trường THCS và THPT có một số lượng lớn TBDHđược trang bị đại trà theo danh mục TBDH tối thiểu nhưng việc quản lý, khaithác, sử dụng số TBDH này còn nhiều bất cập. Việc quản lý, khai thác sử dụng sẽđạt hiệu quả cao nếu gắn kết việc cải tiến, sửa chữa các TBDH đã được trang bịvới các hoạt động tự làm TBDH. Mối quan hệ giữa các hoạt động này có vai tròrất quan trọng và rất cần thiết trong quá trình triển khai thực hiện đề án.

c. Giáo dục thường xuyên

Đặc điểm nổi bật của loại hình giáo dục này là thiếugiáo viên, nhiều giáo viên thỉnh giảng, cơ sở vật chất và TBDH chưa được quantâm đúng mức nên việc sử dụng TBDH và tự làm TBDH còn rất yếu.

Đối với GDTX cho cấp tiểu học theo chương trình xóamù chữ (XMC) và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ (GDTTSKBC) có đặc thù làtuổi của học viên rất đa dạng (từ 15 đến 35 tuổi), vì vậy TBDHTL ở loại hìnhgiáo dục này không hoàn toàn giống như TBDHTL dành cho học sinh phổ thông cùngcấp nhưng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu và sản xuất. Đối với các hình thứcvà nội dung giáo dục khác, có thể sử dụng thiết bị tương tự như của phổ thôngnhưng chưa được quan tâm chỉ đạo.

d. Những nguyên nhân chính

- Nhận thức của các cấp quản lý giáo dục về vai trò,tác dụng trong giảng dạy của TBDH nói chung và hoạt động tự làm TBDH nói riêngcòn hạn chế.

- Công tác tuyên truyền, đôn đốc, kiểm tra và đánhgiá chưa được quan tâm đúng mức.

- Công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện của các đơnvị chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở Giáo dục và Đào tạo chưa kịpthời, cụ thể.

- Chưa có hệ thống các văn bản cần thiết tạo cơ sởpháp lí về cơ chế, chính sách cụ thể để tạo điều kiện và động lực phát triển,duy trì các hoạt động tự làm TBDH trong các cấp học và loại hình đào tạo.

- Trên thực tế ở trung ương và địa phương chưa có cácđơn vị chuyên trách nghiên cứu và phát triển TBDHTL ở các cấp học. Các hoạtđộng trao đổi chuyên môn về tự làm TBDH mới chỉ dừng lại trong phạm vi tổ bộmôn của trường học.

IV. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤCTIÊU

4.1. Quan điểm chỉ đạo

- Khai thác sử dụng hiệu quả các TBDH đã được trangbị theo danh mục tối thiểu kết hợp với hoạt động tự làm TBDH để góp phần nângcao hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo ra động lực khuyếnkhích tư duy sáng tạo của đội ngũ giáo viên và học sinh, bồi dưỡng năng lực tựhọc, phát triển năng lực thực hành sáng tạo.

- Đẩy mạnh và phát triển các hoạt động tự làm TBDHthành một hoạt động sư phạm thường xuyên trong các trường học ở các cấp học mầmnon và phổ thông góp phần vào mục đích xây dựng trường học thân thiện, học sinhtích cực, các thầy cô giáo là tấm gương về tự học và sáng tạo.

- Đầu tư cho các hoạt động tự làm TBDH phải đảm bảohiệu quả và theo đúng các quy định của nhà nước; Các TBDHTL phải đảm bảo nộidung chất lượng và hiệu quả phục vụ giảng dạy đồng thời giảm được ngân sách nhànước chi cho mua sắm trực tiếp các TBDH khi TBDHTL thay thế được.

4.2. Mục tiêu

a. Mục tiêu tổng quát

- Nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH đã được trang bịtheo danh mục TBDH tối thiểu, khuyến khích động viên các hoạt động tự làm TBDHtrở thành một hoạt động sư phạm thường xuyên nhằm góp phần tích cực đổi mới phươngpháp dạy học trong giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2010-2015.

b. Mục tiêu cụ thể

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu cải tiến, bảoquản, khai thác, sửa chữa, sử dụng TBDH đã được trang bị theo danh mục TBDH tốithiểu tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

- Đẩy mạnh các hoạt động tự làm TBDH, bổ sung thêmcác TBDHTL có chất lượng và hiệu quả sử dụng trong giảng dạy nhằm phục vụ tạichỗ và kịp thời, phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

- Ban hành đầy đủ, đồng bộ, kịp thời hệ thống văn bảnchỉ đạo và tạo cơ chế chính sách để thúc đẩy các hoạt động khai thác, sử dụngTBDH và tự làm TBDH trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.

V. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

5.1. Nâng cao nhận thức

- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền,giáo dục, vận động để nâng cao nhận thức về tác dụng, hiệu quả của TBDH trongviệc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học. Đặc biệt, cầnnâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục về vai trò, tácdụng, hiệu quả của TBDHTL.

- Phát huy sự say mê sáng tạo, lòng yêu nghề của độingũ giáo viên, viên chức làm công tác thiết bị nhằm đẩy mạnh các hoạt động tựlàm TBDH.

- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền vận động nhằmxã hội hóa các hoạt động tự làm TBDH.

5.2. Hoàn thiện hệ thốngchính sách

- Rà soát và đánh giá các văn bản hiện hành liên quanđến công tác chỉ đạo, quản lí các hoạt động quản lý, khai thác sử dụng TBDH vàtự làm TBDH.

- Bổ sung các văn bản về cơ chế chính sách nhằm đẩymạnh các hoạt động về quản lý, khai thác, sử dụng TBDH và tự làm TBDH.

- Trên cơ sở dự toán ngân sách được bố trí hàng nămchi cho các hoạt động thường xuyên tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thôngdành tỷ lệ thích hợp cho các hoạt động cải tiến, sửa chữa TBDH đã được trang bịtheo danh mục TBDH tối thiểu và các hoạt động tự làm TBDH.

- Khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tếxã hội tham gia đóng góp và ủng hộ các hoạt động tự làm TBDH.

5.3. Thi đua, khen thưởng

- Đưa các tiêu chí có nội dung về nâng cao hiệu quảsử dụng TBDH và tự làm TBDH vào các phong trào thi đua, khen thưởng và đánh giágiáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông.

5.4. Tổ chức quản lý

- Đưa công tác chỉ đạo thực hiện các hoạt động khaithác sử dụng TBDH đã được trang bị và tự làm TBDH trở thành công việc thườngxuyên của các cấp quản lý giáo dục. Đưa các hoạt động này vào kế hoạch công tácnăm của các cấp quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục.

- Tổ chức các hội thi TBDHTL ở cấp trung ương và địaphương. Thông qua các hội thi tuyển chọn các sản phẩm có chất lượng cao bổ sungvào cơ sở dữ liệu TBDHTL trên Internet dùng chung toàn ngành.

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ các hoạt độngkhai thác sử dụng TBDH và tự làm TBDH tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổthông.

5.5. Xây dựng tài liệu, tậphuấn chuyên môn

- Xây dựng các tài liệu hướng dẫn việc quản lý, khaithác, sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH đã được trang bị. Xây dựngcác tài liệu định hướng và một số kỹ thuật cơ bản về tự làm TBDH tại các cấphọc. Cụ thể là các nội dung chương trình nên đầu tư để tự làm TBDH và các tàiliệu hướng dẫn kỹ thuật cơ bản về thiết kế, chế tạo, quy chuẩn an toàn, tính sưphạm, tính khoa học của các TBDHTL.

- Xây dựng tiêu chí đánh giá và xây dựng qui trìnhkiểm tra hoạt động tự làm TBDH và hiệu quả sử dụng các TBDH đã được trang bị.

- Rà soát, xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡngkiến thức về quản lý, khai thác, sử dụng, tự làm TBDH trong các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng giáo viên.

- Tổ chức bồi dưỡng tập huấn kiến thức về quản lý,khai thác sử dụng TBDH và tự làm TBDH cho cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ vàviên chức làm công tác TBDH.

5.6 Xây dựng hệ thống cơ sởdữ liệu chung về TBDHTL trên Internet.

- Thông qua kết quả của các hội thi cấp trung ương vàtỉnh, thành phố tuyển chọn các sản phẩm TBDHTL có chất lượng cao để giới thiệuquảng bá trên phạm vi toàn quốc (bao gồm cả các phần mềm mô phỏng các TBDH, môtả các sự vật, hiện tượng, các thí nghiệm ảo).

- Giới thiệu các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về thiếtkế TBDHTL (như tuân thủ các quy chuẩn an toàn, có tính sư phạm, tính khoa học,tính sáng tạo…).

- Xây dựng diễn đàn trao đổi kinh nghiệm về khai thácsử dụng, cải tiến TBDH và tự làm TBDH trên Internet.

5.7 Phát triển các cơ sởnghiên cứu về TBDH và TBDHTL

Củng cố và phát triển các bộ phận chuyên trách nghiêncứu và phát triển TBDH và TBDHTL ở cả trung ương và địa phương. Các bộ phận nàycó chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển TBDH và TBDHTL, sưu tầm cácmô hình và mẫu vật, soạn thảo và biên tập các tài liệu trong nước và quốc tế cóliên quan đến TBDH và TBDHTL, là nơi trao đổi kinh nghiệm giữa cán bộ quản lýgiáo dục, giáo viên, viên chức làm công tác thiết bị về khai thác, sử dụng TBDHvà tự làm TBDH. Đồng thời lựa chọn để xây dựng thí điểm một số “Trung tâm họcliệu” ở địa phương (theo vùng) có chức năng và nhiệm vụ chuyển giao công nghệ,tư vấn, trao đổi kinh nghiệm về tự làm TBDH trên cơ sở đó nhân rộng ra các địabàn, các cơ sở giáo dục khác.

- Tại trung ương : Củng cố và tăng cường năng lực choTrung tâm Nghiên cứu Cơ sở vật chất, Thiết bị dạy học, Đồ chơi trẻ em thuộcViện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất học liệutrực thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để hai đơn vị này thực hiện nhiệm vụnghiên cứu và phát triển TBDH và TBDHTL.

- Tại địa phương : Lựa chọn một địa phương để xâydựng thí điểm một “Trung tâm học liệu” nhằm thực hiện các nhiệm vụ như bồidưỡng giáo viên, chuyển giao công nghệ, tư vấn, thực hành, trao đổi kinh nghiệmvề tự làm TBDH. “Trung tâm học liệu” này là nơi có đủ điều kiện về cơ sở vậtchất, thiết bị để các cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức làm công tác thiếtbị, nhà nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm về cả định hướng và tổ chức khai thácsử dụng TBDH và TBDHTL trên cơ sở đó sẽ nhân rộng ở các địa phương khác.

VI.KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

6.1.Nguồn kinh phí thực hiện Đề án

Kinh phí để thực hiện Đề án được trích từ ngân sáchnhà nước chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo hàng năm và các nguồn kinhphí hợp pháp khác (phụ lục kèm theo).

Kinh phí thực hiện Đề án ước tính là 226 tỷ đồng,trong đó kinh phí thực hiện các hoạt động tại trung ương là 20 tỷ đồng, tại địaphương là 206 tỷ đồng.

- Giai đoạn 1 từ 2010 đến 2012 : Triển khai thí điểmtrên 5 tỉnh, thành phố với kinh phí 130 tỷ đồng (trung ương 13 tỷ đồng, địaphương 117 tỷ đồng).

- Giai đoạn 2 từ 2013 đến 2015 : Triển khai đại tràtrên toàn quốc với kinh phí 96 tỷ đồng (trung ương 7 đồng tỷ, địa phương 89 tỷđồng).

- Giai đoạn từ 2016 trở đi : Sử dụng kinh phí thườngxuyên của địa phương.

6.2.Giai đoạn 1 (Từ năm 2010 đến năm 2012): Triển khai thí điểm tại 5 tỉnh,thành phố.

Kinh phí thực hiện Đề án trong giai đoạn này là 130tỷ đồng, cụ thể như sau :

a. Các hoạt động tại trung ương : 13 tỷ đồng.

- Xây dựng chính sách, văn bản chỉ đạo (bao gồm cảkhảo sát thực trạng, hội thảo xây dựng chính sách...) : 1,3 tỷ đồng.

- Xây dựng tiêu chí đánh giá TBDHTL : 150 triệu đồng.

- Biên soạn tài liệu tập huấn, hướng dẫn thí điểm :250 triệu đồng.

- Tập huấn cốt cán tại trung ương : 300 triệu đồng.

- Củng cố và tăng cường năng lực cho Trung tâm Nghiêncứu Cơ sở vật chất, Thiết bị dạy học, Đồ chơi trẻ em thuộc Viện Khoa học Giáodục Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất học liệu thuộc Trường Đại họcSư phạm Hà Nội; Xây dựng “Trung tâm học liệu” tại một tỉnh tham gia thí điểmvới kinh phí dự kiến là 10 tỷ đồng. Cụ thể như sau :

+ Tại trung ương : 8 tỷ đồng (2 trung tâm)

Dự kiến đầu tư trang bị để xây dựng các phòng thínghiệm, thực hành về TBDH và TBDHTL để tiếp tục triển khai đổi mới chương trìnhgiáo dục phổ thông trong những năm tiếp theo bao gồm : Trang bị một số máy móc và dụng cụ kỹthuật với quy mô nhỏ để phục vụ cho việc nghiên cứu về TBDH và TBDHTL; Thiếtkế, chế tạo một số mẫu TBDH để sử dụng trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên;Tuyển chọn các TBDHTL có ý tưởng tốt, cải tiến về mặt công nghệ để phát triểnsản xuất và cung cấp một số mẫu chuẩn theo các nhóm ý tưởng cho các trường phổthông, cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm để làm cơ sở dữ liệu ban đầu; Xây dựnghệ thống tư liệu điện tử về TBDHTL và TBDH (Bao gồm mô hình dụng cụ thí nghiệmthật, phần mềm, website...) để sử dụng trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên;Tập huấn cho đội ngũ giáo viên nòng cốt để họ sẵn sàng tham gia làm giảng viêncho các khóa tập huấn đại trà về tự làm TBDH.

+ Tại địa phương : 2 tỷ (1 trung tâm)

Dự kiến xây dựng một trung tâm nghiên cứu và chế tạo TBDH có quy mônhỏ phù hợp với địa phương, trong đó trang bị một số máy móc và dụng cụ đơngiản phục vụ cho việc tự làm TBDH; Xây dựng đội ngũ nhân viên kĩ thuật để hỗtrợ giáo viên và học sinh gia công một số chi tiết cần thiết của các TBDHTL; Lựachọn và sơ chế một số vật tư đơn giản, dễ kiếm phục vụ cho việc tự làm TBDH vàthiết kế một số mẫu TBDHTL để sử dụng trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên;Trang bị một số thiết bị để phục vụ tập huấn và giao lưu, trao đổi thường xuyênvề sử dụng TBDH, cải tiến, tự làm TBDH đồng thời là nơi tập huấn thường xuyêncho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về quy trình thiết kế, chế tạo TBDH tựlàm; Tuyển chọn các TBDHTL có ý tưởng tốt để nhân rộng trong các cơ sở giáo dục.

+ Các đơn vị hưởng thụ Đề án sẽ phải xây dựng dự án, dự toánchi tiết trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện.

- Tổ chức hội thi, triển lãm toàn quốc tổng kết giaiđoạn thí điểm (dự kiến tổ chức năm 2012) : 1 tỷ đồng.

b. Các hoạt động tại địa phương : 117 tỷ đồng.

- Hỗ trợ trực tiếp các hoạt động tự làm TBDH của giáoviên tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông (loại hình công lập) trong 5tỉnh, thành phố tham gia thí điểm. Dự kiến định mức 500.000 đồng/giáo viên/năm (dựatrên số liệu giáo viên năm học 2008-2009) : 108 tỷ đồng.

- Tập huấn cán bộ cốt cán tại 5 tỉnh tham gia thíđiểm : 500 triệu

- Tổ chức hội thi triển lãm về TBDHTL cấp quận, huyệnvà cấp tỉnh của 5 tỉnh tham gia thí điểm (dự kiến tổ chức năm 2012) : 8,5 tỷđồng

Các hoạt động tại trung ương sẽ sử dụng kinh phí củaĐề án, các hoạt động của địa phương được lấy từ nguồn kinh phí chi thường xuyênvà các khoản thu hợp pháp khác.

6.3.Giai đoạn 2 (Từ năm 2013 đến năm 2015): Triển khai đại trà trên toàn quốc.

Kinh phí thực hiện Đề án trong giai đoạn này là 96 tỷđồng, cụ thể như sau

a. Các hoạt động tại trung ương : Kinh phí 7 tỷ đồng.

- Tổ chức Hội nghị, hội thi, triển lãm toàn quốc vềTBDHTL (dự kiến năm 2015) : 1 tỷ đồng.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về TBDHTL trên Internet : 2tỷ đồng.

- Cập nhật hàng năm cơ sở dữ liệu về TBDHTL trênInternet : 1 tỷ đồng.

- Tổ chức kiểm tra, chỉ đạo : 500 triệu đồng.

- Sưu tầm, dịch, biên soạn tài liệu tập huấn, hướngdẫn : 500 triệu.

- Tổ chức tập huấn cốt cán theo cụm, khu vực (1 năm /1 lần) : 2 tỷ đồng.

b. Các hoạt động tại địa phương : Kinh phí 89 tỷ đồng.

- Tổ chức hội thi, triển lãm cấp tỉnh, thành phố (dựkiến năm 2015) : 19 tỷ đồng.

- Tổ chức hội thi cấp quận, huyện (dự kiến năm 2015): 70 tỷ đồng.

- Hỗ trợ trực tiếp các hoạt động tự làm TBDH của giáoviên tại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông trong cả nước. Dựa vào kết quảthí điểm tại 5 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 1 để tính toán định mức hỗ trợcác hoạt động tự làm TBDH tại địa phương. Các định mức này sẽ được cân đối giữacác cấp học, môn học, vùng miền. Việc tính toán sẽ dựa vào tình hình thực tếcủa từng địa phương như khả năng cân đối tài chính theo cơ chế tự chủ tàichính, khả năng huy động từ các nguồn thu hợp pháp. Dự kiến dành khoảng 1% chithường xuyên hàng năm của các cơ sở trường học cho việc hỗ trợ các hoạt độngnhư tự làm TBDH, sửa chữa, cải tiến, bảo quản, khai thác sử dụng TBDH.

Hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động tự làm TBDH chỉ tậptrung tại các cơ sở giáo dục công lập trên phạm vi toàn quốc. Đối với cáctrường ngoài công lập sẽ tham gia và được thụ hưởng kinh phí của đề án dướihình thức như cử cán bộ, giáo viên tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng, hoặcđược hỗ trợ kinh phí khi tham gia các cuộc thi về TBDHTL ở các cấp, các kinhphí cho hoạt động tự làm TBDH khác của nhà trường tự cân đối thu chi theo quychế hoạt động của nhà trường về tự chủ tài chính.

Các hoạt động tại trung ương sẽ sử dụng kinh phí củaĐề án, các hoạt động của địa phương được lấy từ nguồn kinh phí chi thường xuyênvà các khoản thu hợp pháp khác.

6.4.Giai đoạn từ năm 2016 trở đi : Đưa các hoạt động tự làm TBDH thành các hoạt động thườngxuyên. Sử dụng kinh phí chi thường xuyên của địa phương để thực hiện các hoạtđộng như hỗ trợ kinh phí cho các hội thi, mua sắm vật tư nguyên liệu cho cáchoạt động sửa chữa, bổ sung, tự làm TBDH...

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

7.1. Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Ban chỉ đạo Công tác thiết bị phục vụ đổi mớichương trình giáo dục phổ thông chủ trì các hoạt động thực hiện Đề án, các đơnvị chức năng trong Bộ phối hợp thực hiện. Cục Cơ sở vật chất và Thiết bị trườnghọc, đồ chơi trẻ em là đơn vị thường trực giúp Ban chỉ đạo Công tác thiết bịphục vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo dõi tổng hợp các hoạt độngcủa các tiểu ban, các đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện Đề án.

- Công đoàn giáo dục Việt Nam và Hiệp hội Thiết bịgiáo dục Việt Nam tham gia phối hợp triển khai các hoạt động của Đề án.

- Thành lập các tiểu ban thực hiện các nhiệm vụ cụthể của Đề án.

7.2. Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phốchỉ đạo các sở ban ngành địa phương xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí cho cáchoạt động tự làm TBDH; Tổ chức chỉ đạo kiểm tra, đánh giá các hoạt động tự làmTBDH trong tổng kinh phí chi cho TBDH cấp học mầm non và phổ thông.

- Sở Giáo dục và Đào tạo có tráchnhiệm tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch chi tiếttheo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo làm căn cứ triển khai thực hiện; Hàng năm tổ chức các hội thiTBDHTL các cấp theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Tổ chức kiểm tra,đánh giá các hoạt động tự làm TBDH của các cơ sở giáo dục trên nguyên tắc hiệuquả, tiết kiệm ngân sách nhà nước đầu tư cho TBDH. Đặc biệt chú ý đến việc cânđối nguồn kinh phí chi cho TBDHTL trong tổng kinh phí chi cho TBDH đảm bảo tiếtkiệm, hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương; Tổ chức đánh giá thi đuakhen thưởng các hoạt động về nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH và tự làm TBDH tạiđịa phương; Báo cáo tình hình thực hiện hoạt động về nâng cao hiệu quả sử dụng TBDHvà tự làm TBDH tại địa phương về Ban chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo theoqui định.

FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN

Quyết định 4045/QĐ-BGDĐT năm 2010 phê duyệt Đề án “Phát triển thiết bị dạy học tự làm giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2010-2015” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành