ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành một số chủ trương, biện pháp điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 trên địa bàn tỉnh.

________________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày số: 01/2002/QH ngày 16/12/2002;

Căn cứ Nghị định số: 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 1676/QĐ-TTg ngày 19/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009;

Căn cứ Quyết định số 2615/QĐ-BTC ngày 20/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2009;

Căn cứ các Quyết định số 260/QĐ-BKH ngày 19/11/2008, số 1547/QĐ-BKH ngày 19/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư về giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư phát triển thuộc ngân sách Nhà nước năm 2009 và giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh - tế xã hội năm 2009;

Căn cứ Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước năm 2009, tại kỳ họp thứ 20, HĐND tỉnh khóa VII (từ ngày 09 đến ngày 11/12/2008);

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về một số chủ trương, biện pháp điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Giao Sở Tài chính, Sở Kế hoạch & Đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành văn bản hướng dẫn để thực hiện Quyết định này.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành, Hội, Đoàn thể, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các cơ quan liên quan căn cứ quyết định thi hành./.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009./.

Nơi nhận:

- Như Điều 3;

- VPCP; Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính;

- TVTU, TT HĐND, UBND tỉnh;

- Các Ban của HĐND tỉnh;

- CPVP;

- Lưu VT,TH,KTN,VX,NC,KTTH (Q.

Z:\Quang\QD - UB\Nam 2008\Tai chinh\QD co che dieu hanh 2009.doc

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

Đã ký

Lê Minh Ánh

QUY ĐỊNH

Một số chủ trương, biện pháp điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

(Kèm theo Quyết định số: 4126/ QĐ-UBND ngày 12/12 /2008 của UBND tỉnh).

________________________

Năm 2009 là năm trong thời kỳ ổn định ngân sách 2007-2010, cơ bản việc quản lý điều hành ngân sách Nhà nước thực hiện theo đúng Luật NSNN và Nghị quyết HĐND tỉnh cho cả thời kỳ ổn định ngân sách. Tuy nhiên, theo chủ trương của HĐND tỉnh và tình hình thực tế tại địa phương, UBND tỉnh ban hành một số chủ trương, biện pháp, quản lý, điều hành dự toán ngân sách năm 2009, cụ thể như sau:

I. Về phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước.

1. Phân cấp nguồn thu giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, thành phố (sau đây gọi là ngân sách huyện) và ngân sách xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là ngân sách xã) quy định tại Quyết định số 49/2008/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND tỉnh về điều chỉnh một số nội dung về phân cấp nguồn thu ngân sách địa phương tỉnh Quảng Nam tại Quyết định số 57/2006/QĐ-UB ngày 20/12/2006.

Phân cấp nhiệm vụ chi giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và ngân sách xã được quy định tại Quyết định số 57/2006/QĐ-UB ND ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2. Trong thời kỳ ổn định ngân sách, ngân sách cấp tỉnh ổn định mức bổ sung cân đối cho ngân sách huyện; ngân sách cấp tỉnh chỉ xem xét giải quyết bổ sung khi xuất hiện nguồn và có ý kiến của Thường trực HĐND tỉnh; ngân sách cấp huyện ổn định mức bổ sung cân đối cho ngân sách cấp xã; Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã sử dụng nguồn thu được hưởng (thu 100% và thu theo tỷ lệ phân chia) và mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chi.

Đối với thành phố Tam Kỳ thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 104/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VII.

3. Phân cấp và uỷ quyền trong lĩnh vực quản lý vốn XDCB:

3.1 Uỷ quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt dự án, phê duyệt đấu thầu, chỉ định thầu các dự án có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng sau khi có chủ trương của UBND tỉnh về bố trí vốn đầu tư và uỷ quyền Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng.

Phân cấp quyết định đầu tư, phê duyệt đấu thầu, chỉ định thầu và phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành gắn liền với phân cấp quản lý qua ngân sách cấp huyện cho UBND các huyện các dự án có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng.

Căn cứ vào năng lực quản lý của UBND cấp xã, giao UBND cấp huyện phân cấp quyết định đầu tư, phê duyệt đấu thầu, chỉ định thầu các dự án có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng

3.2. Về ủy quyền, phân cấp thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư:

- Hội đồng thẩm định tỉnh trình phê duyệt đối với dự án:

+ Dự án đầu tư thuộc ngân sách cấp Trung ương, ngân sách cấp tỉnh không phân biệt tổng mức.

+ Dự án đầu tư được UBND tỉnh giao đất hoặc cho thuê đất cho các tổ chức, cá nhân (trong nước, ngoài nước) thực hiện và ứng trước kinh phí để chi trả bồi thường, GPMB.

+ Đối với dự án đầu tư do Doanh nghiệp làm chủ đầu tư.

Trong đó:

Trình UBND tỉnh phê duyệt đối với phương án có tổng mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư từ 5 tỷ đồng trở lên.

Ủy quyền Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có mức dưới 5 tỷ đồng.

- Hội đồng thẩm định cấp huyện trình UBND cấp huyện phê duyệt đối với dự án đầu tư thuộc ngân sách cấp huyện, cấp xã.

- Đối với các dự án đầu tư đã giao cho Ban Quản lý khu Kinh tế mở Chu Lai, Ban Quản lý phát triển Đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc làm chủ đầu tư đã có cơ chế quy định riêng.

4. Tiếp tục bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách huyện đối với các nhiệm vụ: các Chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp, giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương (đây là khoản đối ứng của ngân sách cấp tỉnh), sự nghiệp khoa học công nghệ, khuyến công, sự nghiệp địa chính và một số nội dung khác.

5. Kinh phí hoạt động của các trạm y tế xã thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách cấp xã, đối với các xã chưa đủ điều kiện giao chi nội dung nầy thì ngân sách cấp huyện chi và quyết toán vào ngân sách cấp huyện .

Ngoài ra ngân sách cấp xã chi thông qua cân đối ngân sách xã cho trạm y tế để đảm bảo hoạt động.

II. Về phân bổ và quyết định giao dự toán ngân sách năm 2009.

1. Về phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước:

1.1. Đối với các Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh:

Căn cứ Quyết định số 4125/QĐ-UBND ngày 12/12/2008 của UBND tỉnh về giao chỉ tiêu thu, chi ngân sách năm 2009, các Sở, Ban, ngành nhanh chóng triển khai xây dựng phương án phân bổ gửi cơ quan Tài chính thẩm định và tiến hành giao nhiệm vụ thu, chi cho các đơn vị trực thuộc.

+ Đối với nhiệm vụ thu: phải đúng nội dung và thấp nhất phải bằng dự toán UBND tỉnh giao.

+ Đối với nhiệm vụ chi: Cơ quan, đơn vị xây dựng phương án phân bổ dự toán ngân sách năm 2009, cơ quan Tài chính thẩm định đảm bảo thời gian theo quy định của Luật Ngân sách, đảm bảo ngày 01/01/2009 đơn vị sử dụng ngân sách và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch nhận được dự toán ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách. Trường hợp nhiệm vụ chi chưa đủ cơ sở để phân bổ ngay từ đầu năm thì việc phân bổ dự toán phải hoàn thành trong phạm vi quý I/2009. Sau quý I/2009 nếu có nhiệm vụ chi ngân sách đã giao mà các cơ quan, đơn vị chưa xây dựng phương án phân bổ thì cơ quan Tài chính tổng hợp báo cáo UBND để xem xét điều chuyển cho nhiệm vụ chi cần thiết khác hoặc xử lý theo quy định của Luật Ngân sách.

- Quy trình nhập dự toán được giao theo quy định tại Thông tư 107/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 về Hướng dẫn bổ sung quản lý điều hành ngân sách nhà nước.

1.2. Đối với các huyện, thành phố:

- Căn cứ vào dự toán thu, chi ngân sách UBND tỉnh giao, UBND cấp huyện lập và phân bổ dự toán thu, chi trên địa bàn trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, đồng thời căn cứ vào Nghị quyết HĐND cùng cấp, giao nhiệm vụ thu, chi cho các đơn vị trực thuộc, dự toán thu chi và số bổ sung từ ngân sách cấp huyện cho từng xã, phường, thị trấn trước ngày 25/12/ 2008; chỉ đạo, hướng dẫn UBND xã, phường, thị trấn trình HĐND cùng cấp quyết định và phân bổ ngân sách trước ngày 31/12/2008.

- Đối với dự toán thu ngân sách trên địa bàn phấn đấu cao hơn 5% so với dự toán năm 2009 đã được UBND tỉnh giao.

- Ngân sách huyện phân bổ cho các cơ quan, đơn vị và chính quyền cấp dưới đối với nguồn xây dựng cơ bản trong cân đối, nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách tỉnh, kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia, Chương trình 135, một số chương trình, dự án theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, một số nhiệm vụ phát triển kinh tế, dự toán chi sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp khoa học công nghệ... các khoản này không được bố trí thấp hơn dự toán tỉnh giao.

- Bố trí dự phòng ngân sách tối thiểu bằng 3% tổng chi XDCB trong cân đối và chi thường xuyên (không kể chi từ nguồn bổ sung có mục tiêu).

2. Nguyên tắc phân bổ dự toán ngân sách năm 2009.

2.1.Về đầu tư xây dựng cơ bản.

Các địa phương và các Sở, ban, ngành thuộc tỉnh phải chủ động bố trí và phân bổ vốn đầu tư tối thiểu theo dự toán tỉnh giao, không được sử dụng nguồn vốn này cho các mục đích khác.

Các công trình đầu tư xây dựng cơ bản khởi công mới năm 2009 phải hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư: có quyết định phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán của cấp có thẩm quyền trước ngày 30/10/2008 và được bố trí vốn năm 2009 tối thiểu 30% của dự toán hạng mục đầu tư; dự án nhóm C thực hiện đầu tư không quá 2 năm, dự án nhóm B thực hiện đầu tư không quá 4 năm.

Bố trí đủ vốn thực hiện các bước giải phóng mặt bằng, tái định cư trước khi triển khai khởi công xây dựng công trình. Kiên quyết không khởi công công trình khi chưa thực hiện công tác tái định cư, giải phóng mặt bằng. Các dự án chậm bố trí tái định cư do chưa có mặt bằng hoặc thiếu vốn, gây thiệt hại đối với người bị thu hồi đất thì chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm thoả thuận giải quyết với người bị thiệt hại.

Đối với Chương trình kiên cố hoá kênh mương và bê tông hoá GTNT, các địa phương ưu tiên bố trí kinh phí thanh toán dứt điểm các khoản nợ tồn đọng, chỉ được bố trí làm mới khi đã bố trí kế hoạch thanh toán đủ nợ cũ;

Dự toán ngân sách tỉnh đầu năm bố trí vốn cho chương trình này từ nguồn thu sử dụng đất và nguồn vốn vay ngân hàng phát triển. UBND tỉnh sẽ phân bổ vốn cho các huyện, thành phố thực hiện trong quá trình điều hành ngân sách theo tiến độ thu tiền sử dụng đất và mức cho vay của Trung ương; Căn cứ báo cáo quyết toán khối lượng đã thực hiện trong năm trước của huyện, thành phố, nếu đủ điều kiện về nguồn huy động đóng góp tương ứng theo cơ chế, Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh phân bổ vốn cho các huyện, thành phố thực hiện.

Căn cứ kế hoạch vốn tỉnh phân bổ, UBND huyện, thành phố triển khai thực hiện bê tông hoá GTNT và kiên cố hoá kênh mương từ nhiều nguồn (ngân sách tỉnh, huyện và huy động đóng góp của nhân dân) và Sở Tài chính sẽ chuyển vốn cho các huyện, thành phố thực hiện khi có quyết định bố trí vốn của huyện, thành phố theo tỷ lệ quy định.

Ngân sách tỉnh chỉ phân bổ vốn hỗ trợ theo khả năng cân đối trong kế hoạch hàng năm, không giải quyết bổ sung đối với khối lượng thực hiện (phần ngân sách tỉnh hỗ trợ) vượt kế hoạch được phân bổ, phần khối lượng thực hiện vượt kế hoạch vốn của tỉnh các huyện, thành phố tự cân đối

2.1.1. Nguồn vốn XDCB trong cân đối ngân sách:

+ Đối với khối ngành thuộc tỉnh làm Chủ đầu tư: dành một phần để dự phòng và đối ứng, bố trí vốn để trả nợ vay GTNT đến hạn, trợ giá doanh nghiệp công ích phần còn lại được bố trí theo cơ cấu :

Dành 50% tổng nguồn để thanh toán nợ khối lượng hoàn thành. 

Dành 40% tổng nguồn để thực hiện các công trình chuyển tiếp.

Dành 10% tổng nguồn cho các công trình khởi công mới.

(Trong đó bố trí hoàn trả đủ vốn XDCB đã tạm ứng trong năm 2008)

+ Đối với ngân sách khối huyện: Tổng nguồn gồm số ổn định bằng năm 2007 và phần tăng thu bổ sung vốn XDCB của huyện, riêng hai huyện mới Quế Sơn và Nông sơn tính phân bổ mới.

Dành 50% tổng nguồn để thanh toán nợ khối lượng hoàn thành.

Dành 30% tổng nguồn để thực hiện các công trình chuyển tiếp.

Dành 20% tổng nguồn cho các công trình khởi công mới.

Đối với 4 huyện mới chia tách Tây Giang, Nam Trà My, Phú Ninh, Nông Sơn sử dụng 50% tổng nguồn để thanh toán nợ khối lượng hoàn thành, 50% còn lại do HĐND huyện quyết định cơ cấu cho công trình chuyển tiếp và công trình khởi công mới, nhưng phải đảm bảo không để phát sinh nợ vượt khả năng cân đối nguồn XDCB trong cân đối được giao hàng năm.

Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn khác đầu tư phù hợp để thanh toán giảm nợ XDCB, ưu tiên cho các dự án đã quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành. Không bố trí kế hoạch vốn cho các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng trên 1 năm mà không lập thủ tục quyết toán dự án đầu tư hoàn thành.

Năm 2009, đối với vốn dành thanh toán nợ công trình hoàn thành, tỉnh và cấp huyện ưu tiên thanh toán cho những công trình đã quyết toán vốn đầu tư, nếu đã hoàn thành nhưng chưa quyết toán vốn đầu tư thì chỉ thanh toán tối đa 70% khối lượng thực hiện.

2.1.2 Đối với các nguồn vốn ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu, nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia, các chương trình dự án theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phải được bố trí, phân bổ theo danh mục do UBND tỉnh quy định và đảm bảo chế tài của Chính phủ về giải ngân, quyết toán dự án hoàn thành.

2.1.3. Đối với các nguồn vốn được để lại đầu tư theo mục tiêu xác định:

- Nguồn thu từ cấp quyền sử dụng đất dùng đầu tư trực tiếp vào các dự án khai thác quỹ đất phát sinh số thu, phần chênh lệch thu chi (nếu có) dùng thanh toán nợ đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, kể cả thanh toán nợ giao thông nông thôn và kiên cố hoá kênh mương và bố trí vốn đầu tư GTNT KCHKM. Ngân sách tỉnh thực hiện chủ trương của Trung ương dành ra 7.000 triệu đồng bố trí đối ứng dự án Đo đạc chỉnh lý đất đai, các địa phương có thể bổ sung một phần cho nhiệm vụ lập hồ sơ địa chính, giao đất và quản lý đất đai. Nghiêm cấm việc sử dụng nguồn thu này để bố trí chi tiêu thường xuyên

Thu tiền sử dụng đất từ Khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc và từ các dự án giao đất thu tiền sử dụng đất 1 lần nộp ngân sách tỉnh bố trí chi trả nợ vay GTNT theo dự toán đầu năm, và bố trí vốn cho các dự án để giảm nợ XDCB, thu hồi nợ vay tồn ngân KBNN quá hạn, và bố trí chi làm GTNT KCHKM (phần đối ứng của tỉnh).

Thu đóng góp từ khai thác tài nguyên, thu sử dụng đất từ Khu kinh tế mở Chu Lai được bố trí đầu tư phát triển trong Khu kinh tế mở Chu Lai theo Quyết định 253/QĐ-TTg ngày 06/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ.

- Thu sử dụng đất điều tiết theo quy định hiện hành, đối với thu tiền giao đất sản xuất kinh doanh cho các tổ chức, doanh nghiệp thu tiền 1 lần ngân sách tỉnh hưởng 100% (sau khi trừ chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư tại chính khu đất đó), ngân sách tỉnh sẽ bổ sung có mục tiêu lại cho địa phương có dự án 50% để đầu tư các cụm công nghiệp, khu tái định cư...

- Năm 2008, thành phố Hội An được sử dụng không quá 40% từ nguồn phí tham quan để chi các hoạt động văn hoá, quảng bá du lịch, còn lại dùng để trùng tu sửa chữa di tích, chống xuống cấp nhà cổ theo đề án và dùng không quá 30% nguồn thu sau thuế từ khai thác yến sào để chi kiến thiết thị chính, còn lại đầu tư kết cấu hạ tầng đô thị và xã đảo Cù Lao Chàm;

Huyện Duy Xuyên được sử dụng không quá 500 triệu đồng từ nguồn phí tham quan để chi các hoạt động văn hoá gắn với quảng bá du lịch.

- Khoản thu tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước của Thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An chỉ được bố trí chi XDCB.

- Căn cứ vào tiến độ thu, nguồn thu xổ số kiến thiết được cấp qua KBNN để chi cho các công trình phúc lợi công cộng theo quy định hiện hành về XDCB và theo danh mục phân bổ.

2.2. Về kinh phí sự nghiệp.

- Việc phân bổ dự toán ngân sách hỗ trợ cho các đơn vị sự nghiệp trực thuộc đã thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP phải đảm bảo nguyên tắc ổn định mức hỗ trợ từ ngân sách, việc tăng giảm phải đúng theo các thông tư hướng dẫn thực hiện, công khai tiêu chí phân bổ, tăng giảm trong từng ngành.

- Các huyện bố trí và phân bổ chi sự nghiệp giáo dục tối thiểu bằng mức UBND tỉnh giao, trong đó đảm bảo đủ chi lương và các khoản phụ cấp, số còn lại chi cho các hoạt động dạy và học. UBND các huyện, thành phố tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục, đặc biệt là việc bố trí trường lớp, giáo viên, đảm bảo giờ giảng, quản lý nguồn thu học phí phục vụ dạy và học; bố trí kinh phí thực hiện nhiệm vụ theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015 tại quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006. Thực hiện phân cấp quản lý đối với các trường gắn với triển khai thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ. UBND tỉnh không xem xét, giải quyết cân đối bổ sung các khoản chi vượt dự toán được giao và tình trạng để nợ chi chế độ, chính sách của các cấp ngân sách. Việc tuyển mới giáo viên phải trên cơ sở chủ động được nguồn kinh phí trả lương và các hoạt động khác; Kinh phí theo Nghị định 61/NĐ-CP về phụ cấp thu hút giáo viên trường chuyên biệt sẽ bổ sung sau khi thẩm định xong; Đối với kinh phí đào tạo các địa phương chủ động phân bổ cho việc đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho CB,CC tại địa phương.

- Đối với sự nghiệp Y tế: năm 2009, tỉnh và huyện chi theo phân cấp hiện hành. Kinh phí đảm bảo việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi được quản lý theo cơ chế thực thanh, thực chi, các trạm y tế xã thanh toán theo chế độ quy định tránh vượt định mức như năm vừa qua. Kinh phí khám chữa bệnh người nghèo chuyển qua Quỹ khám chữa bệnh người nghèo quản lý đúng mục đích và thực hiện cấp đủ 100% thẻ BHYT cho người nghèo và đối tượng theo Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002, quyết định 24/2008/QĐ-TTg ngày 5/2/2008 của Thủ tướng Chính phủ.

Đối với hộ cận nghèo ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% kinh phí mua thẻ bảo hiểm thông qua cơ quan BHXH và danh sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế được cơ cấu lại theo hướng: tập trung bố trí cho những nhiệm vụ chi đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉnh trang đô thị, nâng cấp đường nội thị, duy tu, sửa chữa thường xuyên các tuyến đường do từng cấp quản lý... Đối với các khoản hỗ trợ cho sản xuất phải có phương án hỗ trợ, nguyên tắc quản lý, được cấp có thẩm quyền quyết định thì mới được thanh toán và được giải ngân.

- Sự nghiệp khoa học công nghệ: Cần chú trọng đến hiệu quả thiết thực, tập trung đầu tư các đề tài ứng dụng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, dành một phần kinh phí này để chi cho việc ứng dụng công nghệ thông tin. Trên cơ sở danh mục đề tài, dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt, Sở Khoa học & Công nghệ tổ chức Hội đồng khoa học để tư vấn trong việc xét duyệt đề cương chi tiết, thẩm định dự toán kinh phí, phối hợp Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt

Phân bổ một phần kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ cho UBND các huyện, thị xã, thành phố để thực hiện một số nhiệm vụ, đề án theo mục tiêu hướng dẫn của tỉnh.

- Đối với kinh phí sự nghiệp thuộc các dự án Xoá đói giảm nghèo, đào tạo nghề cơ quan chủ trì phải có phương án tổng thể trình cấp có thẩm quyền phê duyệt mới giải ngân.

- Đối với các nguồn vốn sự nghiệp tỉnh bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp huyện như: sự nghiệp khuyến công để tiếp tục hỗ trợ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống. Hỗ trợ phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, phát triển chăn nuôi, thực hiện Chương trình 134, dồn điền đổi thửa... phải quản lý, sử dụng theo chủ trương của tỉnh, không được sử dụng chi vào mục đích khác; Các địa phương các năm qua chi không hết nguồn phân bổ phải được rà soát xem xét điều chuyển cho các địa phương khác hoặc điều chỉnh cho các chương trình đầu tư khác.

Căn cứ báo cáo tiến độ thực hiện của quý trước, Sở Tài chính thực hiện chuyển vốn theo từng quý để địa phương thực hiện vào các tháng thứ 2 của các quý trong năm (tháng 2, tháng 6, tháng 8 và tháng 11). Cụ thể theo từng chương trình như sau:

Đối với chương trình mục tiêu phát triển kinh tế vườn kinh tế trang trại, chăn nuôi bò: gởi báo cáo tiến độ thực hiện quý kèm theo biên bản họp xét duyệt hỗ trợ của Ban quản lý cấp huyện, thành phố.

Đối với chương trình mục tiêu phát triển thuỷ lợi nhỏ, thuỷ lợi hoá đất màu, công tác dồn điền đổi thửa (giao thông nội đồng, cống qua đường nội đồng, thuỷ lợi nội đồng): gởi báo cáo tiến độ thực hiện quý kèm theo thiết kế dự toán công trình đã được UBND huyện, thị xã, thành phố phê duyệt, trong đó lưu ý nguồn ngân sách hỗ trợ (tỉnh, huyện), nguồn huy động đóng góp của nhân dân theo cơ chế

Trường hợp UBND huyện, thành phố không thực hiện chế độ báo cáo hoặc báo cáo không đúng và đầy đủ theo quy định, Sở Tài chính sẽ tạm dừng chuyển vốn cho địa phương cho đến khi địa phương có báo cáo đầy đủ.

- Chi trợ cước trợ giá các mặt hàng chính sách phân cấp UBND huyện phê duyệt dự toán chi tiết và tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của Liên ngành Ban Dân tộc tỉnh và Sở Tài chính

- Chi sự nghiệp môi trường qua ngân sách cấp huyện (trong đó lưu ý bố trí kinh phí xử lý rác thải và vệ sinh môi trường) phân cấp cho huyện phê duyệt dự toán và tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của Liên ngành Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường, .

- Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản không giao dự toán thu, khi phát sinh dùng bổ sung nguồn chi sự nghiệp môi trường của từng cấp ngân sách.

Dành một phần kinh phí sự nghiệp môi trường khối tỉnh để hỗ trợ các dự án đầu tư về môi trường (xử lý rác thải y tế)

- Chi đảm bảo xã hội, ưu tiên bố trí đủ nguồn để chi thăm hỏi các gia đình chính sách, chi cứu tế, dự trữ gạo cứu đói, thực hiện đề án xoá nhà tạm đối với gia đình chính sách.

- Kinh kinh phí thực hiện quyết định 24/ QĐ-TTg của Thủ tướng về phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung, quyết định 289/ QĐ-TTg về hỗ trợ ngư dân, kinh phí thực hiện Pháp lệnh Cựu chiến binh chưa ghi dự toán đầu năm, sẽ bổ sung khi TW bổ sung cho ngân sách tỉnh.

- Chế độ bảo trợ xã hội theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP phân bổ theo mức được duyệt của TW.

2.3. Về các khoản chi quản lý hành chính.

- Các Sở, Ban, ngành và các huyện, thị xã, thành phố sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu.

- Việc mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác từ nguồn NSNN và các nguồn khác phải được quản lý chặt chẽ theo tiêu chuẩn, định mức theo quy định của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Năm 2009, tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính, lưu ý thực hiện đến cấp xã.

Các địa phương, đơn vị căn cứ nhu cầu và nguồn kinh phí theo phân cấp để tính toán việc bổ sung biên chế; Từng cấp, từng đơn vị phải tự đảm bảo nguồn kinh phí cho viêc cấu chi lương-chi hoạt động khi bổ sung biên chế (trừ một số trường hợp thật đặc biệt như chia tách, thành lập mới, giao thêm nhiệm vụ mới theo khả năng ngân sách ).

- Các cấp chính quyền địa phương, khi phân bổ dự toán chi ngân sách phải bố trí kinh phí cho việc thực hiện các chế độ chính sách mới ban hành và kinh phí thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, hoạt động vì sự nghiệp tiến bộ của Phụ nữ, hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng cấp xã, chi hoạt động của Ban giám sát đầu tư cộng đồng....

2.4. Về sử dụng nguồn tăng thu dự toán năm 2009 so dự toán 2008:

Các cấp ngân sách cơ bản ổn định chi như năm 2008 và dùng nguồn tăng thu năm 2009 so năm 2008 để bổ sung nhiệm vụ chi.

- Ngân sách tỉnh bố trí từ nguồn tăng thu bổ sung chi các nhiệm vụ khối tỉnh và dành một phần bổ sung khối huyện.

- Ngân sách cấp huyện, cấp xã sau khi dùng nguồn tăng thu năm 2009 của cấp mình để cải cách tiền lương, số còn lại phải ưu tiên cân đối bổ sung vốn XDCB theo số tỉnh giao, số còn lại bố trí chi tương tự năm 2008 gồm: tăng chi QLHC, tăng chi An ninh quốc phòng, tăng chi sự nghiệp giáo dục, chi sự nghiệp y tế; tăng chi quản lý hành chính xã; số còn lại sử dụng các nhu cầu cần thiết khác;

3. Về nguồn để thực hiện cải cách tiền lương năm 2009:

- Trong phân bổ và giao dự toán, từng cấp ngân sách phải xác định 10% tiết kiệm chi thường xuyên đối với các đơn vị dự toán của cấp mình (không kể lương và các khoản có tính chất lương) để thực hiện cải cách tiền lương. Ngân sách từng cấp quản lý tập trung nguồn 10% tiết kiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình (không kể các đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện cơ chế tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ và cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ) để bổ sung nguồn cải cách tiền lương.

- Các cơ quan hành chính có nguồn thu, các đơn vị sự nghiệp có thu của từng cấp ngân sách sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ, riêng ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% số thu được để lại theo chế độ ( sau khi trừ chi phí thuốc, máu và dịch truyền và hoá chất ) để thực hiện cải cách tiền lương.

- Từng cấp ngân sách dành 50% số tăng thu dự toán 2009 so với dự toán 2009 được cấp trên giao, và 50% vượt thu năm 2008 (không kể nguồn thu sử dụng đất và một số nguồn được chi lại theo quy định), để bổ sung nguồn thực hiện cải cách tiền lương.

Sau khi thực hiện các biện pháp nêu trên mà không đủ nguồn thì ngân sách tỉnh bổ sung để đảm bảo đủ nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2009. Trường hợp nguồn thực hiện cải cách tiền lương xác định theo quy định trên lớn hơn nhu cầu chi thực hiện cải cách tiền lương theo quy định, đơn vị dự toán và các cấp ngân sách phải thực hiện chuyển số chênh lệch này sang năm sau để tiếp tục bổ sung nguồn cải cách tiền lương, không được sử dụng nguồn này cho mục đích khác.

III. Về tổ chức điều hành dự toán ngân sách nhà nước.

1. Các cấp, các ngành có trách nhiệm tập trung chỉ đạo công tác thu, huy động các nguồn thu phát sinh và nợ đọng thuế vào ngân sách Nhà nước. Quản lý chặt chẽ có hiệu quả nguồn thu cấp quyền sử dụng đất, truy thu các khoản nợ đọng để bố trí nguồn đầu tư, thanh toán nợ XDCB và đầu tư cho tái định cư.

2. Tăng cường công tác quản lý phí, lệ phí trên địa bàn đúng quy định của Chính phủ, Pháp lệnh phí và lệ phí, Nghị quyết của HĐND tỉnh và các văn bản hướng dẫn thực hiện của các cấp có thẩm quyền.

3. Các cơ quan, đơn vị phải chủ động cân đối sử dụng khoản kinh phí trong dự toán ngân sách được giao để thực hiện các nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ chi đột xuất phát sinh.

Đối với các nhiệm vụ chi chưa được phân bổ, thủ trưởng các ngành, địa phương xây dựng phương án phân bổ chi tiết dự toán theo quy định của Luật NSNN gởi cơ quan tài chính thẩm định trình cấp có thẩm quyền phê duyệt xong trong quý 1/2008 để sử dụng kinh phí kịp thời, hiệu quả.

Đối với các nhu cầu chi phát sinh, các ngành, các địa phương phải chủ động sắp xếp từ nguồn tăng thu, bố trí lại chi tiêu và dự phòng ngân sách cấp mình. Ngân sách tỉnh chỉ xem xét, giải quyết những khoản chi thật bức xúc do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, vượt quá khả năng cân đối trong dự toán ngân sách đã giao cho từng ngành, từng cấp và chỉ xử lý theo định kỳ hàng quý. Các ngành Giáo dục và Đào tạo, Y tế và UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường quản lý nguồn thu học phí, viện phí, lồng ghép cùng với nguồn NSNN đầu tư cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế. Nguồn được thanh toán từ cơ quan Bảo hiểm y tế cho các Bệnh viện và Trung tâm y tế được xem là nguồn thu viện phí, các đơn vị được sử dụng theo quy định hiện hành.

Đối với các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phải tự cân đối kinh phí hoạt động cho cả năm từ nguồn ngân sách đã hỗ trợ theo Quyết định giao dự toán ngân sách năm 2009 và từ nguồn thu theo Quy chế, Điều lệ của Hội ban hành; ngân sách xem xét hỗ trợ thêm khi được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ theo quy định của Chính phủ tại Quyết định số 21/2003/QĐ-TTg ngày 29/01/2003 và Quyết định số 247/2006/QĐ-TTg ngày 30/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ (hoặc phê duyệt thống nhất chủ trương hỗ trợ).

Ngân sách cấp huyện chuyển nguồn sang năm sau thực hiện đối với các nguồn vốn tỉnh bổ sung có mục tiêu trong năm chưa thực hiện quyết toán và phải có báo cáo chi tiết theo từng nguồn về tỉnh (qua Sở Tài chính) để theo dõi quản lý.

4. Các Sở, Ban, ngành được phân bổ kinh phí đào tạo chuyên môn cho cán bộ xã, phường, thị trấn và các lớp đào tạo bồi dưỡng khác (kể cả đào tạo chế độ cử tuyển) có trách nhiệm thực hiện ký hợp đồng đào tạo với các Trường về chỉ tiêu đào tạo, đảm bảo kinh phí sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả đảm bảo mục tiêu chất lượng đào tạo.

5. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, từng khâu công việc, tăng cường công tác quản lý, giám sát, kiểm soát chi, kiên quyết không giải ngân những khoản chi không đúng với chế độ, chính sách, không có trong dự toán, chưa có chế độ chính sách chi, đảm bảo mọi khoản chi tiêu của ngân sách Nhà nước phải gắn liền với kết quả đầu ra.

6. Tăng cường kiểm tra, giám sát và hướng dẫn quản lý đối với công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện nghiêm và đánh giá, giám sát đầu tư theo Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19/5/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quản lý vốn ứng cho các dự án đầu tư theo thông tư số 49/2005/TT-BTC ngày 09/6/2005 của Bộ Tài chính. Thực hiện tốt vai trò giám sát của cộng đồng đối với các công trình đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh; KBNN chủ trì đôn đốc thanh toán các khoản tạm ứng chưa có khối lượng XDCB hoàn thành, kiên quyết không giải ngân các dự án có vốn tạm ứng chưa thanh toán kéo dài nhiều năm.

7.Về việc quản lý, sử dụng dự phòng ngân sách:

Dự phòng ngân sách của các cấp ngân sách địa phương được sử dụng theo quy định của Luật NSNN. Định kỳ hằng quý UBND các cấp báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp kết quả sử dụng dự phòng ngân sách và báo cáo trình HĐND cùng cấp trong kỳ họp gần nhất.

8. Về tài chính doanh nghiệp nhà nước.

Tiếp tục thực hiện đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước địa phương theo hình thức và lộ trình được duyệt. Tăng cường nhiệm vụ giám sát đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhà nước theo quy định.

9. Đổi mới công tác thanh tra tài chính, tập trung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm về công tác quản lý thu, chi NSNN, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng nguồn lực về đất đai.

10. Dự toán năm 2009 giao cho các ngành, các cấp ngân sách tính theo mức lương tối thiểu 540.000 đồng, các địa phương, đơn vị chủ động sử dụng nguồn kinh phí trong dự toán được giao và vượt thu năm 2008 chuyển sang để chi trả kịp thời cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách.

11. Tiếp tục thực hiện tốt cơ chế tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc tỉnh quản lý theo Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ trong dự toán năm 2009.

Thúc đẩy từng bước chuyển đơn vị sự nghiệp có thu đảm bảo toàn bộ kinh phí và một số đơn vị sự nghiệp có thu đảm bảo một phần kinh phí thành doanh nghiệp.

IV. Về thưởng vượt thu dự toán ngân sách năm 2009 và sử dụng nguồn vượt thu 2009.

Để khuyến khích thu đúng, thu đủ, phấn đấu tăng thu ngân sách Nhà nước, năm 2009 các địa phương trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách, nếu thực hiện cao hơn so với dự toán UBND tỉnh giao, được xem xét khen thưởng như sau:

1. Đối với cấp huyện: khi số thu của ngân sách tỉnh từ các khoản thu phân chia trên địa bàn do Chi cục Thuế huyện, thành phố quản lý thu vượt so với dự toán UBND tỉnh giao sẽ thực hiện thưởng vượt thu cho cấp huyện mức thưởng như sau: số tăng thu nộp ngân sách tỉnh dành 50% để cải cách tiền lương, thưởng cho huyện, thành phố bằng 30% số vượt thu còn lại .

Căn cứ kết quả thu nộp ngân sách đến hết ngày 31/12/2009, các huyện, thành phố tổng hợp số thực nộp ngân sách tỉnh theo từng khoản thu gửi Sở Tài chính trước ngày 31/01/2010 có xác nhận của Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để thẩm định trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.

Căn cứ vào mức thưởng, UBND cấp huyện lập phương án sử dụng, báo cáo HĐND cùng cấp quyết định để bổ sung nguồn chi đầu tư phát triển, các nhiệm vụ quan trọng của địa phương và thưởng cho ngân sách cấp dưới.

2. Sử dụng nguồn vượt thu: Kết thúc niên độ 2009, nếu các cấp ngân sách vượt dự toán được giao, số vượt thu này sử dụng 50% để thực hiện cải cách tiền lương, số còn lại được xem là 100%, trong đó dành không thấp hơn 30% bổ sung chi đầu tư XDCB, số còn lại bổ sung chi thường xuyên, UBND các cấp xây dựng phương án sử dụng báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp trước khi thực hiện và báo cáo Hội đồng nhân dân kết quả thực hiện tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp thu không đạt dự toán, Uỷ ban nhân dân xây dựng phương án điều chỉnh giảm chi tương ứng, trong đó tập trung cắt giảm hoặc giãn những nhiệm vụ chi chưa thật sự cấp thiết báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét quyết định.

Năm 2009 nhà nước thay đổi chế độ thu một số sắc thuế, nguồn thu của ngân sách huyện về thuế thu nhập doanh nghiệp các hộ cá thể, thuế chuyển quyền sử dụng đất sẽ không còn. (chuyển thành thu thuế người có thu nhập cao). Về nguyên tắc ngân sách tỉnh chỉ bù hụt thu cho huyện khi tổng thu cân đối ngân sách phần huyện được hưởng giảm so năm 2008.

Việc thay đổi chế độ thu một số sắc thuế nêu trên chủ yếu là miễn giảm cho đối tượng nộp thuế, và có một phần tăng thu thuế thu nhập cao cho ngân sách tỉnh, ngân sách tỉnh dành 50% số tăng nầy bổ sung nguồn cải cách tiền lương, số còn lại hỗ trợ cho huyện để bù một phần giảm thu thuế nêu trên.

V. Về tổ chức thực hiện:

Uỷ ban nhân dân tỉnh yêu cầu UBND cấp huyện, các Sở, Ban, ngành, theo chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, biện pháp nêu trên

Giao Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục trưởng Cục Thuế, Giám đốc KBNN tỉnh, Thường trực Hội đồng Thi đua khen thưởng tỉnh tổ chức theo dõi, kiểm tra các Sở, Ban, ngành, UBND các huyện, thành phố trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, biện pháp quy định tại Quyết định này, định kỳ báo cáo UBND tỉnh để xem xét trong thi đua khen thưởng, hoặc có biện pháp chấn chỉnh kịp thời./.

TM. Ủy ban nhân dân tỉnh

Chủ tịch

(Đã ký)

Lê Minh Ánh