UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

______

Số: 475/QĐ-UB

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

_______________

Hà Nam, ngày 13 tháng 5 năm 2003

QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HÀ NAM

Về việc ban hành quy định cấp dự báo cháy rừng và tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh

____________________

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua ngày 21/6/1994;

- Căn cứ Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 19/8/1991;

- Căn cứ Luật phòng cháy và chữa cháy được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2001;

- Căn cứ Nghị định số 22/CP ngày 09/3/1995 của Chính phủ ban hành quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng;

- Căn cứ Chỉ thị số 21/2002/CT-TTg ngày 12/12/2002 cảu Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách về phòng cháy, chữa cháy rừng;

- Căn cứ Quyết định số 1856/NN-KHCN /QĐ ngày 01/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc xây dựng cấp dự báo cháy rừng và ý kiến thẩm định cấp dự báo cháy rừng và các biện pháp thông tin cấp cháy tại Văn bản số 4855/KHCN ngày 12/12/2002 của Bộ Nông nghiệp & PTNT;

- Xét đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Văn bản số 26/TT-KL ngày 24/12/2002.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này bản quy định về cấp dự báo cháy rừng và tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 3. Chánh văn phòng HĐND và UBND tỉnh; Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan; Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã có rừng; Trưởng ban quản lý dự án đầu tư rừng phòng hộ, các chủ rừng chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

CHỦ TỊCH

Đinh Văn Cương


UỶ BAN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

_________

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________

QUY ĐỊNH

“Về cấp dự báo cháy rừng và tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh”

(Ban hành kèm theo Quyết định số 475/2003/QĐ-UB ngày 13/5/2003)

CHƯƠNG I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1:

1. Quy định này quy định về phương pháp xác định các cấp dự báo cháy rừng, mùa cháy rừng; các quy định báo động và một số biện pháp tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Hà Nam.

2. Việc phòng cháy, chữa cháy rừng là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người dân.

3. Các chủ rừng và Uỷ ban nhân dân địa phương nơi có rừng, có trách nhiệm phối hợp tổ chức bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.

Điều 2.

1. Các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp, các lực lượng vũ trang đóng ở nơi có rừng và ven rừng có trách nhiệm tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.

2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm giáo dục, đôn đốc cán bộ, nhân viên chiến sỹ thực hiện những quy định hiện hành về bảo vệ rừng, phòng cháy và tích cực tham gia chữa cháy rừng.

Điều 3. Lực lượng kiểm lâm trong tỉnh có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân nơi có rừng kiểm tra, đôn đốc, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời phải xây dựng hệ thống thông tin và theo dõi quan sát lửa rừng (chòi canh lửa, máy bộ đàm, trạm dự báo cháy rừng) để phát hiện và thông tin kịp thời, huy động lực lượng, phương tiện dập tắt những đám cháy rừng.

CHƯƠNG II

QUY ĐỊNH CẤP DỰ BÁO CHÁY RỪNG

Điều 4. Cấp dự báo cháy rừng là phương tiện quy định về phương tiện xác định các cấp dự báo cháy rừng và các quy định báo động, biện pháp tổ chức thực hiện phòng cháy, chữa cháy.

Cấp dự báo cháy rừng gồm 5 cấp (từ cấp I đến cấp V); ký hiệu biển báo hiệu cấp cháy là 1/2 hình tròn có đường kính vành ngoài 2,5m, vành trong 1,8m nền trắng, xung quanh viền đỏ và có đính số từ I đến V. Cụ thể như sau:

- Báo động cấp I: Cấp cháy thấp, trên biển báo mũi tên chỉ số I, ít có khả năng cháy rừng; màu xanh đậm.

- Báo động cấp II: Cấp cháy trung bình, trên biển báo mũi tên chỉ số II, thời tiết khô hanh, có khả năng cháy rừng; màu xanh nhạt.

- Báo động cấp III: Cấp cháy cao, trên biển báo mũi tên chỉ số III, thời tiết khô hanh, dễ xảy ra cháy rừng, màu vàng.

- Báo động cấp IV: Cấp cháy nguy hiểm, trên biển báo mũi tên chỉ số IV, thời tiết khô hanh kéo dài có nguy cơ cháy rừng lớn, tác hại cháy rừng ở mức độ nghiêm trọng; màu đỏ.

- Báo động cấp V: Cấp cháy cực kỳ nguy hiểm, trên biển báo mũi tên chỉ số V, thời tiết khô hanh, hạn kiệt kéo dài liên tục, rất nguy hiểm, có khả năng cháy lớn ở tất cả các loại rừng và tốc độ lửa lan rất nhanh, tác hại cháy rừng ở mức độ cực kỳ nguy hiểm; màu đỏ tươi.

Điều 5. Biển báo cấp cháy rừng làm bằng kim loại, đặt ở trục đường ven rừng, cửa rừng, nơi có nhiều người qua lại; đặt ở các Hạt, Trạm Kiểm lâm, khu rừng phòng hộ, rừng di tích lịch sử, rừng danh lam thắng cảnh để mọi người cùng biết và thực hiện quy định phòng cháy, chữa cháy rừng ở từng cấp.

CHƯƠNG III

TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÒNG CHÁY

 CHỮA CHÁY RỪNG

Điều 6. Thành lập Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng cấp huyện, cấp xã nơi có rừng và đất rừng do Phó Chủ tịch UBND từng cấp làm Trưởng ban; Kiểm lâm là Phó ban trực, các ngành có liên quan như: Công an, Quân sự và các ngành hữu quan khác làm uỷ viên. Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp có nhiệm vụ thường xuyên phối hợp với các ngành hữu quan, tổ chức các đoàn kiểm tra, đôn đốc cơ sở thực hiện phương án phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm bảo vệ tốt tài nguyên rừng ở địa phương.

Điều 7.

1. Lực lượng Kiểm lâm các cấp có trách nhiệm tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo, hướng dẫn Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những quy định phòng cháy, chữa cháy rừng, kỹ thuật sản xuất nương rẫy, thông báo tình hình lửa rừng và cấp cháy rừng kịp thời tới nơi có trọng điểm cháy, chỉ đạo các trạm dự báo để cung cấp tin tức dự báo cấp cháy rừng chính xác cho từng vùng, mua sắm dụng cụ, phương tiện cần thiết phục vụ cho phòng cháy, chữa cháy rừng, làm đường ranh cản lửa, chòi canh lửa, hồ dự trữ nước ở những nơi cần thiết.

2. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy thường xuyên kiểm tra phòng cháy, chữa cháy rừng; thực hiện việc phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn và định kỳ tổ chức sơ kết đánh giá việc phòng cháy, chữa cháy rừng trong tỉnh.

3. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các cơ quan pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm quy định phòng cháy, chữa cháy rừng.

Điều 8.

1. Khi có báo động cấp I hoặc cấp II: Chủ tịch UBND các xã, thị trấn có rừng triển khai phương án phòng cháy chữa cháy rừng của địa phương, đồng thời chỉ đạo Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng, các chủ rừng tăng cường kiểm tra đôn đốc, bố trí người canh phòng, huy động phương tiện, lực lượng sẵn sàng kịp thời dập tắt lửa khi mới xảy ra cháy rừng.

2. Khi có báo động cấp III hoặc cấp IV hoặc cấp V: Chủ tịch UBND các huyện có rừng chỉ đạo triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn; đồng thời chỉ đạo Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng, chủ rừng tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; trực tiếp huy động mọi lực lượng, phương tiện để chữa cháy khi xảy ra cháy rừng.

Khi diện tích bị cháy lớn, cháy xảy ra trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khả năng cháy lan lớn, Chủ tịch UBND huyện có rừng nơi xảy ra cháy đề nghị các địa phương, ngành hữu quan hỗ trợ chi viện, đồng thời trực tiếp báo cáo UBND tỉnh để UBND tỉnh có biện pháp chỉ đạo giải quyết.

Điều 9.

1. Các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp, chủ rừng và các đơn vị vũ trang đóng trong rừng và ven rừng phải thành lập các đội phòng cháy, chữa cháy rừng, có trách nhiệm phối hợp với Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng của địa phương trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng.

2. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy có trách nhiệm bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn phòng cháy, chữa cháy cho các đội phòng cháy, chữa cháy rừng nêu tại khoản 1 điều này.

CHƯƠNG IV

QUY ĐỊNH VỀ TÀI CHÍNH CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY RỪNG

Điều 10.

1. Hàng năm Chi cục Kiểm lâm lập kế hoạch, cấp phát, quản lý, quyết toán kinh phí cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; dự toán kinh phí sự nghiệp phòng cháy, chữa cháy rừng thông qua Sở Tài chính – Vật giá và Sở Kế hoạch - Đầu tư, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định.

2. Các chủ rừng phải trích một phần kinh phí từ các nguồn vốn đầu tư phát triển rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và tái sinh rừng để chi cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trực tiếp tại đơn vị mình.

Điều 11. Việc sử dụng kinh phí sự nghiệp phòng cháy, chữa cháy rừng phải đúng mục đích và đúng nguyên tắc quản lý tài chính hiện hành.

CHƯƠNG V

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 12.

1. Đơn vị và cá nhân có thành tích trong phòng cháy, chữa cháy rừng cũng như phát hiện truy tìm thủ phạm gây ra cháy từng sẽ được khen thưởng và hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật hiện hành.

2. Các đơn vị, cá nhân vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật hiện hành.

CHƯƠNG VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 13. Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, cơ quan Trung ương đóng tại địa phương; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, các xã, phường, thị trấn có rừng và các chủ rừng có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh quy định này.

Trong quá trình tổ chức thực hiện quy định này nếu có vướng mắc đề nghị các cơ quan đơn vị phản ánh về UBND tỉnh để kịp thời hướng dẫn sửa đổi bổ sung.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

CHỦ TỊCH

Đinh Văn Cương

Quyết định 475/2003/QĐ-UB 1/01/clip_image002 .gif" width="296" />

Chú Thích

- Biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng thống nhất cả nước là 5 cấp, từ cấp I đến cấp V được đặt ở cửa rừng, ven rừng, trong rừng vào mùa cháy rừng.

- Biển báo làm bằng kim loại nhẹ dễ bảo quản, cất giữ trong mùa mưa, cột bằng sắt hoặc gỗ, chắc, kích cỡ của biển báo được ghi trên sơ đồ.

Về màu sắc:

- Cấp I: Màu xanh đậm.

- Cấp II: Màu xanh nhạt.

- Cấp III: Màu vàng.

- Cấp IV: Màu đỏ.

- Cấp V: Màu đỏ tươi.