THU VI?N PHÁP LU?T

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 70/2011/QĐ-UBND

Ninh Thuận, ngày 22 tháng 12 năm 2011

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN 5 NĂM (2011 - 2015)

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004;

Căn cứ Quyết định số 1222/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020;

Căn cứ Chỉ thị số 751/CT-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 24/2011/NQ-HĐND ngày 14 tháng 12 năm 2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận về phát triểnkinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 5 năm 2011 - 2015;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Kếhoạch và Đầu tư tại Tờ trình số 2466/TTr-SKHĐT ngày 22 tháng 12 năm 2011 và Báocáo thẩm định của Sở Tư pháp tại văn bản số 1463/BC-STP ngày 19 tháng 12 năm 2011,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 5 năm 2011 - 2015.

Điều 2. Căn cứ vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnhNinh Thuận 5 năm 2011 - 2015, Giám đốc các Sở, cơ quan trực thuộc Ủy ban nhândân tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có trách nhiệm xây dựngđề án, chương trình cụ thể thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạchnày.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 10(mười) ngày kể từ ngày ký ban hành.

Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dântỉnh, Giám đốc các sở, các cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Ủyban nhân dân các huyện, thành phố và thủ trưởng các đơn vị có liên quan căn cứquyết định thi hành./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Nguyễn Đức Thanh

KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂNKINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN 5 NĂM (2011 - 2015)(Ban hành kèmtheo Quyết định số 70/2011/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhândân tỉnh Ninh Thuận)

Thực hiện Chỉthị số751/CT-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015;

Căn cứ Quyết định số 1222/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIInhiệm kỳ 2010 - 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 24/2011/NQ-HĐND ngày 14 tháng 12 năm 2011của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh NinhThuận 5 năm 2011 - 2015;

Trên cơ sở kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếuKế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010;

Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận xây dựng Kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, gồm các nội dung chủ yếu như sau:

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM2006 - 2010

Triển khai Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI, Ủyban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 336/2006/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2006,phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 với mục tiêutổng quát cho cả giai đoạn là “Phát huy tiềm năng lợi thế nhất là lợi thế vềkinh tế biển để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực xã hội để đầu tưthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng tăngnhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, bảo đảm phát triển bền vững và đạt tốcđộ tăng trưởng cao hơn giai đoạn 2001 - 2005, tạo bước đột phá về tăng trưởngtrong một số ngành và lĩnh vực, thu hẹp khoảng cách giữa Ninh Thuận với cảnước, đạt mức bình quân chung của khu vực, tạo cơ sở để đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá; phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội phù hợp với pháttriển kinh tế, chăm lo tốt hơn đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,giữ vững quốc phòng, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI và Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, trong bối cảnh tình hìnhquốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen đã tác động trựctiếp đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, trong đó nổi lên là nước ta gia nhập Tổchức Thương mại thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội thu hút đầu tư, đồng thời đặtra cho nền kinh tế những thách thức mới, nhất là mở cửa hội nhập khi gia nhậpWTO, cùng với tác động của tình hình lạm phát tăng cao trong năm 2008, giá cảmột số mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân tăng cao vàtình hình khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động đến kinh tế - xã hội của cảnước trong năm 2009, tình hình dịch bệnh lây lan, nhất là dịch cúm A (H1N1),thiên tai lũ lụt trong năm 2010 là những khó khăn, thách thức lớn của nền kinhtế - xã hội cả nước 5 năm qua (2006 - 2010).

Tình hình trong tỉnh: thời tiết tương đối thuận lợi, tiềmnăng về kinh tế biển được đánh giá đúng mức, nhiều dự án quy mô lớn được đăngký đầu tư (du lịch biển, công nghiệp, điện gió, điện mặt trời) và đặc biệt mộtsố chương trình phát triển kinh tế lớn của tỉnh đang triển khai trong vài nămtrở lại đây sẽ tạo ra thời cơ mới, cơ hội mới tạo bứt phá tăng trưởng nhanh vàbền vững nền kinh tế tỉnh nhà, các công trình trọng điểm đã và đang đầu tư bướcđầu phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn và thách thức, nhấtlà sự mất cân đối về các nguồn lực cho đầu tư phát triển, khả năng hấp thụnguồn lực đầu tư còn hạn chế và thiếu nguồn nhân lực có chất lượng để pháttriển kinh tế - xã hội, cộng với hậu quả cơn lũ lịch sử vào đầu tháng 11/2010đã gây thiệt hại nặng nề, lâu dài cho sản xuất và đời sống nhân dân trong tỉnh.

Trong bối cảnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã bám sát Nghịquyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI và các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy,tổ chức triển khai kịp thời các chủ trương chính sách của Trung ương, các giảipháp chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng nămcủa Chính phủ phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, đồng thời tranh thủ sự hỗtrợ kịp thời có hiệu quả của Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương, cùng với sựcố gắng của các ngành, các cấp và nhân dân trong tỉnh, kết quả đạt được cụ thểnhư sau:

A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊUCHỦ YẾU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2006 - 2010

Kết quảthực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm2006 - 2010 đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua cụ thể đó là:

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Thời kỳ 2001-2005

Thời kỳ 2006-2010

Kế hoạch

Thực hiện

1

2

3

4

5

A. Chỉ tiêu kinh tế

1. Tốc độ tăng GDP

%

8,1

11 - 12

10,7

2. Tổng sản phẩm nội tỉnh (giá SS94):

Tỷ đồng

1.851,1

3.192

3.078,9

- Tổng sản phẩm nội tỉnh (giá SS94)

Tỷ đồng

3.192

2.982,9

- Nhập khẩu xăng dầu

Tỷ đồng

96

3. GDP bình quân đầu người:

- Theo giá so sánh 1994

Tr. đồng

3,28

3,32

5,1

- Theo giá hiện hành

"

4,8

9,6

11,7

- Quy đổi USD

"

295

600

630

4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

- Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp

%

40,9

30

42,6

- Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng

%

20,3

35

22,2

- Tỷ trọng dịch vụ

%

38,7

35

35,2

Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành:

5. Nông, lâm nghiệp

%

0,2

6 - 7

9,5

6. Thủy sản

%

12,6

8 - 9

10,6

7. Công nghiệp - xây dựng

%

19,9

24 - 25

17,7

8. Dịch vụ

%

10

11 - 12

11

9. Tổng thu ngân sách trên địa bàn:

Tỷ đồng

264

550-600

883,7

Tốc độ tăng thu

%

21,4

18 - 20

27,3

10. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách Nhà nước

%

10

11 - 12

13,2

11. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu

Tr.USD

42,5

90 - 100

46,9

Tốc độ tăng bình quân

%

35,2

19 - 20

2,0

12. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Tỷ đồng

5.115

11.250

17.745

Tốc độ tăng bình quân hàng năm

%

>15

32

B. Chỉ tiêu xã hội

13. Tốc độ tăng dân số tự nhiên:

%

1,47

1,2

1,282

Quy mô dân số trung bình

Người

564

630

570,1

14. Giải quyết việc làm mới 5 năm

Người

53.200

60.000

70.741

15. Tỷ lệ lao động qua đào tạo

%

24

40

40

Trong đó: Đào tạo nghề

%

14,4

25

25

16. Tỷ lệ hộ nghèo 2010 (chuẩn nghèo năm 2005)

%

21,3

<13

11,05

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn 2011 - 2015

%

15,48

17. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

%

30,5

<23

23,5

18. Tỷ lệ Bác sĩ trên một vạn dân

BS/vạn dân

5

6

5,4

19. Tỷ lệ trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia

%

2

20

12,1

20. Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở

Hoàn thành

21. Tỷ lệ học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày

%

20

28,4

C. Chỉ tiêu Môi trường:[1]

22. Trồng rừng tập trung

Ha

8.746

8.500

4.719,1

23. Độ che phủ rừng

%

43,5

55

43,6

24. Tỷ lệ cấp nước sinh hoạt nông thôn

%

60

80

79

25. Tỷ lệ hộ gia đình có công trình hợp vệ sinh

%

48,8

80

74

Qua biểu tổng hợp trên, trongtổng số 25 chỉ tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm, có 13 chỉ tiêu hoàn thành(chiếm 52%), 12 chỉ tiêu không đạt kế hoạch đề ra; trong đó: kinh tế có 7/12chỉ tiêu hoàn thành, xã hội có 6/9 chỉ tiêu hoàn thành.

B. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHỦ YẾUTHỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5 NĂM 2006 - 2010 TRÊN MỘT SỐ NGÀNH, LĨNH VỰC

I. Về kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

a) Tăng trưởng kinh tế: trong 5 năm qua, mặc dù cókhó khăn do sự tác động tình hình lạm phát cao năm 2008 và khủng hoảng tàichính và suy thoái toàn cầu năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP đạt khá, bình quântăng 10,7%/năm (KH là 11 - 12%), cao hơn 1,27 lần so với giai đoạn 2001 - 2005;tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP theo giá so sánh) năm 2010 gấp 1,66 lần so với năm2005, bằng 96,5% mục tiêu kế hoạch 5 năm đề ra; riêng năm 2008 tốc độ tăngtrưởng GDP chỉ đạt 8,4% và năm 2009 là 7,3%, là năm có tốc độ tăng trưởng thấpnhất trong 5 năm qua[2]. Đóng góp vào tăng trưởng chung,trong đó ngành công nghiệp - xây dựng đóng góp 3,56%, dịch vụ là 3,55%, nông,lâm và thủy sản là 2,89%, và nét mới so với giai đoạn trước là có đóng góp từthuế nhập khẩu xăng dầu là 0,68%.

GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) đến năm2010 đạt 11,7 triệu đồng (tương đương 630 USD/người), vượt 21% mục tiêu kếhoạch đề ra và gấp 2,4 lần so với năm 2005.

b) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng tăngtỷ trọng công nghiệp - xây dựng, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ20,4% năm 2005 lên 22,2% năm 2010 (bình quân mỗi năm tăng 0,36%), tuy nhiên cònchậm và không đạt mục tiêu đề ra (35%).

Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế đã chuyển dịchtheo hướng giảm dần tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực Nhà nước, tăng tỷtrọng đóng góp trong GDP của khu vực ngoài Nhà nước, đặc biệt là khu vực kinhtế tư nhân[3].

2. Phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản và kinh tếnông thôn: phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng khá, đã thực hiện tốtmục tiêu tăng trưởng gắn với giải quyết các vấn đề an sinh xã hội; giá trị sảnxuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 10%/năm:

a)Sản xuất nông nghiệp:

- Trồng trọt: mặc dù bị ảnhhưởng do cơn lũ lịch sử vào cuối năm 2010, nhưng thời tiết những năm đầu từ2006 đến năm 2009 tương đối thuận lợi, đồng thời các công trình thủy lợi đã đầutư qua các năm phát huy hiệu quả, cùng với hiệu quả của chương trình giống câytrồng vật nuôi, đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển trên cả 3mặt về quy mô, năng suất và hiệu quả, quy mô sản xuất được mở rộng, tổng diệntích gieo trồng tăng gấp 1,71 lần so với giai đoạn 2001-2005, năng suất một sốcây trồng chính tăng khá, trong đó cây lúa đạt 52,4 tạ/ha tăng 6,9 tạ/ha, câyngô đạt 33,4 tạ/ha tăng 5,8 tạ/ha so với năm 2005, giá trị sản xuất trên 1 hađất canh tác đạt 50 triệu đồng/ha, riêng diện tích chủ động tưới đạt trên 55triệu đồng/ha vượt mục tiêu kế hoạch đề ra (35 - 40 triệu đồng); hoàn thành quyhoạch một số cây trồng chính phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung,bước đầu đã hình thành một số vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày phụcvụ chế biến như mì 2.314 ha, mía 2.279 ha; nhiều mô hình sản xuất mới có hiệuquả được nhân rộng như mô hình sản xuất giống lúa và bắp lai, mô hình “3 giảm,3 tăng”; mô hình cơ giới hoá trong thu hoạch lúa.

-Chăn nuôi: thực hiện đồng bộ các biện pháp từ khâu giống, thức ăn, công tác thúy; trong đó công tác phòng chống dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm thực hiện khátốt, thị trường tiêu thụ thuận lợi, chăn nuôi gia súc có sừng phục hồi và cóbước phát triển, quy mô tổng đàn đạt 249,19 nghìn con, tăng 29,41 nghìn con sovới năm 2005, quy mô đàn gia cầm tăng nhanh trên 1,4 triệu con, tăng gấp 3,6lần so với năm 2005; từng bước chuyển đổi chăn nuôi theo hướng thâm canh và bánthâm canh theo mô hình trang trại kết hợp chăn nuôi hộ gia đình, đến nay trênđịa bàn tỉnh có 1.221 trang trại, trong đó có 484 trang trại trồng trọt, 327trang trại chăn nuôi gắn với phát triển đồng cỏ 1.300 ha bảo đảm thức ăn chochăn nuôi, mô hình nuôi vỗ béo có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng đàn giasúc, tỷ lệ sind hoá đàn bò đạt 33,3% (mục tiêu là 32%).

-Chương trình đầu tư công trình thủy lợi trọng điểm đạt kết quả tích cực, tổngvốn đầu tư trong 5 năm trên 1.230 tỷ đồng, hầu hết các công trình trọng điểmtrong kế hoạch 5 năm đều được triển khai, hoàn thành 4 hồ chứa và 9 công trìnhhồ chứa khác đang triển khai thi công[4], nâng tổng số đến nay trênđịa bàn tỉnh có 12 hồ chứa nước, tổng dung tích trên 130 triệu m3,đầu tư trên 110 km kênh mương, tăng thêm diện tích tưới trên 4.200 ha, nâng tỷlệ chủ động tưới đạt 42% so tổng diện tích đất canh tác.

b) Phát triển lâm nghiệp: chủtrương phát triển rừng kinh tế được thựchiện đạt kết quả tốt, cơ cấu trồng rừng được dịch chuyểnsang trồng các loại cây mang lại hiệu quả kinh tế như cây trôm,cây neem, cóc hành[5], nângcao chất lượng độ che phủ rừng, tỷ lệ độ che phủ rừng đạt43,6%; hoàn thành côngtác rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừngtheo Chỉ thị 38/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; triểnkhai chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ, đã đầutư 82,7 tỷ đồng, phát triển mới 6.000 ha rừng các loại, trong đócó 1.657 ha rừng sản xuất; khoanh nuôi tái sinh 5.000 ha, tổ chức giao khoánbảo vệ 241.571 lượt ha, tạo thunhập cho một số hộ đồng bào dân tộc nghèo miền núi từ 200-250nghìn đồng/tháng.

Hạnchế lớn nhất trong phát triển nông, lâm nghiệp đó là: tuy đạt tốc độ tăngtrưởng cao và vượt mục tiêu kế hoạch, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nội bộ ngànhcòn chậm, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 28,4% (mục tiêu năm 2010 đạt 42%), quy môsản phẩm nhỏ, sức cạnh tranh còn thấp, cơ cấu cây trồng chuyển dịch không rõnét, diện tích các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả đạt thấp so vớichỉ tiêu đề ra[6], câynho được xác định là cây chủ lực nhưng tỷ trọng còn thấp (17,4%) và có xu hướnggiảm mạnh về diện tích, giảm gần 842 ha so với năm 2005, còn 773 ha (mục tiêuđến năm 2010 là 2.500 ha); đàn gia súc tuy có phục hồi nhưng còn chậm, chấtlượng đàn gia súc tuy có cải thiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu cho côngnghiệp chế biến.

Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại trên trước hết là việc tổchức triển khai thực hiện các quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch sản phẩmcây, con không đạt kết quả, nguyên nhân là do quy hoạch chưa dự báo được cácbiến động của thị trường và chậm điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thựctiễn, thiếu nguồn lực và các đề án khả thi, thiếu giải pháp phù hợp, nhất làvai trò của Nhà nước hỗ trợ cho nông dân tiêu thụ sản phẩm và nâng cao chấtlượng đàn gia súc còn nhiều hạn chế, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả chậmđược nhân rộng; về trồng rừng thì do định mức hỗ trợ của Nhà nước còn thấp,chậm được điều chỉnh kịp thời nên việc triển khai rồng rừng sản xuất không đạtkế hoạch; chỉ tiêu về độ che phủ rừng chậm được điều chỉnh cho phù hợp với điềukiện thực tế của địa phương do chuyển đổi đất rừng sang sử dụng các mục đíchkhác như đầu tư các hồ đập và chuyển đất rừng sang đất sản xuất kinh doanh trên40 nghìn ha; chuyển dịch nội bộ ngành còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi còn thấp,chưa đạt mục tiêu kế hoạch là 42% do có sự đầu tư mạnh về thủy lợi, mở rộngdiện tích canh tác; đối với ngành chăn nuôi chưa có nhiều các dự án đầu tư pháttriển nâng cao năng suất, chất lượng đàn gia súc.

c) Thủy sản: tốc độ tăng trưởng đạt khá, giá trị sản xuất tăng bình quân10,6%/năm, chiếm 15,2% GDP của tỉnh, cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch tích cựctheo hướng tăng tỷ trọng ngành nuôi trồng chiếm 23,3% tăng 5,4%, khai thácchiếm 68% giảm 5,3% so với năm 2005.

Thựchiện chủ trương về phát triển kinh tế biển, trong đó xác định thủy sản cùng vớicông nghiệp ven biển, du lịch biển là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, chủtrương xây dựng Ninh Thuận trở thành vùng sản xuất giống quy mô lớn đạt kết quảtích cực, lợi thế về sản xuất giống thủy sản được phát huy, thu hút 15 dự ánđầu tư, trong đó 10 dự án hoàn thành, năng lực sản xuất tăng nhanh, quy mô sảnxuất giống được mở rộng đạt 11,2 tỷ con giống, tăng bình quân 16,6%/năm, vượtmục tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả chuyển đổi đối tượng nuôi mới tôm thẻ chântrắng đang phát huy hiệu quả, quy mô sản xuất mở rộng, sản lượng đạt 7.851tấn/năm; nghề khai thác hải sản hiệu quả có được nâng lên thông qua việc thựchiện tốt chương trình đánh bắt xa bờ, đầu tư đóng mới tàu có công suất lớn đểchuyển đổi cơ cấu nghề; cơ cấu tàu thuyền có công suất lớn trên 90 CV chiếm26,6% số lượng và 77,5% công suất, mô hình hợp tác trên biển được phát huy.

Hạtầng nghề cá được tiếp tục đầu tư để từng bước hình thành trung tâm dịch vụ hậucần nghề cá của khu vực, trong 5 năm bằng nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu củatrung ương và vốn ngân sách tỉnh, đã đầu tư 195,4 tỷ đồng, triển khai 8 côngtrình, dự án, trong đó hoàn thành 2 cảng cá Cà Ná và Mỹ Tân đảm bảo cho gần2.000 tàu thuyền ra vào neo đậu, triển khai đầu tư khu neo đậu tránh trú bãoNinh Chữ quy mô cấp vùng cho 2.000 tàu thuyền, cơ bản hoàn thành dự án đầu tưcơ sở hạ tầng nuôi tôm An Hải quy mô 648 ha, tiếp tục đẩy nhanh tiến độ đầu tưdự án đầu tư cải tạo Đầm Nại, Trung tâm giống hải sản cấp I, dự án vùng kiểmđịnh giống Ninh Phước.

Hạn chế nổi lên đó là: khai thác hải sản còn khókhăn, hiệu quả thấp; năng lực chế biến tăng chậm do nhiều dự án sản xuất chếbiến thủy sản không triển khai, giá trị xuất khẩu thủy sản mới đạt 24% mục tiêuđề ra[7], chưa khai thác hết tiềm năngnguyên liệu của địa phương từ khai thác và nuôi trồng thủy sản, nhất là tômnuôi là lợi thế của tỉnh để phục vụ cho chế biến xuất khẩu; một số dự án đầu tưcơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm chậm hoàn thành, tình trạng ô nhiễm môi trường vùngnuôi chậm khắc phục.

d) Phát triển kinh tế nông thôn: được đầu tư toàn diện hơn, vừa đầu tưkết cấu hạ tầng thiết yếu, vừa hỗ trợ phát triển sản xuất và nâng cao dân trícho người dân; chương trình giao thông nông thôn được quan tâm chỉ đạo, tổ chứctriển khai đồng bộ, trong 5 năm đã huy động trên 280 tỷ đồng từ nhiều nguồn vốn[8], đầu tư 262 tuyến đường giao thông nôngthôn, với chiều dài 258,3 km và 14 cầu ở nông thôn, đến nay đã có 100% xã cóđường ô tô đến trung tâm xã thông suốt quanh năm, hầu hết các cầu tạm bợ ở cácvùng sâu, vùng xa được đầu tư thay mới tạo thuận lợi cho giao thương hàng hoávà đi lại của nhân dân ở miền núi đi lại và giao thương hàng hoá thuận lợi; 80%đường huyện lộ và 85% tuyến đường trong nội thị, đường liên phường, khu phố ởcác đô thị được nhựa hoá, 40% đường liên thôn được bê tông hoá; chương trìnhmục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt kết quả tíchcực, đầu tư trên 279 tỷ đồng/41 công trình, cấp nước sinh hoạt cho 122 nghìnngười, đạt tỷ lệ 79% (năm 2005 là 54%); môi trường nông thôn có bước cải thiện,tỷ lệ hộ gia đình có công trình hợp vệ sinh đạt 57%, 34,9% số hộ chăn nuôi cóchuồng trại hợp vệ sinh, có 16/47 xã tổ chức thu gom rác thải tập trung; nétmới là đã đầu tư trên 150 tỷ đồng triển khai 9 công trình giảm nhẹ thiên tai ởcác vùng xung yếu, ven biển, ven sông, bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản chonhân dân trong mùa mưa bão. Quan hệ kinh tế hợp tác ở nông thôn có bước pháttriển thông qua thực hiện liên kết 4 nhà trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chonông dân, mô hình liên kết trong khai thác thủy sản và nuôi tôm theo tổ cộngđồng đang được phát huy hiệu quả và nhân rộng.

3.Công nghiệp - xây dựng: giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp - xây dựng tăng17,7%/năm, trong đó công nghiệp tăng bình quân 11,9%/năm.

a)Sản xuất công nghiệp phát triển đúng hướng và đạt được một số kết quả nhấtđịnh, công nghiệp chế biến luôn giữ vai trò động lực cho tăng trưởng ngành côngnghiệp và thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tỷtrọng công nghiệp chế biến chiếm 74,8% giá trị toàn ngành, bước đầu đã hìnhthành một số sản phẩm công nghiệp có lợi thế như sản xuất muối công nghiệp vớiquy mô lớn nhất nước gần 4.000 ha, chiếm 50% sản lượng của cả nước; công nghiệpchế biến nông thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp sử dụng nhiềulao động tiếp tục được mở rộng quy mô sản xuất như chế biến nhân điều tăng từ6.500 tấn/năm lên 9.000 tấn/năm, gạch tuynen nâng công suất từ 30 triệuviên/năm lên 120 triệu viên/năm, xi măng quy mô 750 nghìn tấn/năm, may mặc nângquy mô từ 1 triệu sản phẩm/năm lên 2,5 triệu sản phẩm/năm; một số dự án quy môlớn đang triển khai sẽ tạo tăng trưởng cho giai đoạn tới như nhà máy bia 50triệu lít, nhà máy sản xuất muối cao cấp quy mô 200 nghìn tấn/năm và một số dựán khai thác thế mạnh của tỉnh về năng lượng như điện gió, điện mặt trời, chếbiến titan được nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Tiểuthủ công nghiệp phát triển ổn định, giá trị sản xuất tăng bình quân 14%/năm vàchiếm 21% giá trị ngành công nghiệp; chương trình khuyến công giai đoạn 2008 -2012 được triển khai và đề án phát triển làng nghề - du lịch đã góp phần thúcđẩy các sản phẩm làng nghề truyền thống phát triển, như gốm Bầu Trúc, dệt ThổCẩm Chung Mỹ, Mỹ Nghiệp; phát triển một số làng nghề có quy mô sản phẩm lớn vàcó lợi thế như chế biến cá khô, chế biến nước mắm, góp phần tạo việc làm cholao động nông thôn.

Về đầu tư hạ tầng công nghiệp: quyhoạch đầu tư phát triển 2 khu công nghiệp trọng điểm phía Bắc và Phía Nam quymô 800 ha và 2 cụm công nghiệp Thành Hải và Tháp Chàm; tập trung triển khai đầutư các công trình phục vụ sản xuất công nghiệp như cấp nước, thoát nước, hạtầng khu, cụm công nghiệp, với tổng vốn trên 680 tỷ đồng, đến nay 2 cụm côngnghiệp Thành Hải và Tháp Chàm cơ bản hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng thu hút 12dự án đầu tư đang triển khai, trong đó có 7 dự án đã đi vào hoạt động, tiếp tụctriển khai đầu tư mở rộng cụm công nghiệp Thành Hải quy mô trên 40 ha; riêng 2khu công nghiệp đang triển khai giai đoạn I với tiến độ quá chậm, không hoànthành theo tiến độ đề ra; hoàn thành đầu tư giai đoạn I khu sản xuất muối côngnghiệp và xuất khẩu Quán Thẻ đi vào hoạt động năm 2009 (600 ha) và đang triểnkhai thi công giai đoạn II (1.700 ha) hoàn thành trong năm 2011, sẽ tạo ra nănglực sản xuất mới trên 150 nghìn tấn muối/năm và tiếp tục triển khai đồng muốiBắc Quán Thẻ 650 ha sau năm 2011.

Hạn chế lớn nhất của ngành công nghiệp đó là: tốc độ tăngtrưởng đạt thấp so với chỉ tiêu KH 5 năm (đạt 50% chỉ tiêu KH 5 năm) và thấphơn giai đoạn 2001 - 2005 (18%/năm); quy mô ngành công nghiệp nhỏ, tỷ trọngcông nghiệp trong GDP còn thấp và có xu hướng giảm (năm 2005 chiếm 14,6%, năm2010 chiếm 12,7%, giảm 1,9%), công nghiệp chế biến còn chiếm tỷ trọng thấp vàkhông đạt mục tiêu đề ra, năm 2005 chiếm 76%, đến năm 2010 còn 74,8% (mục tiêulà 85%).

Nguyênnhân: năng lực sản xuất mới tăng chậm, sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăngcao còn ít, nhiều dự án đầu tư trọng điểm ngành công nghiệp chậm triển khai,trong đó có 2 khu công nghiệp Du Long và Phước Nam do một số nhà đầu tư thiếunăng lực tài chính và thiếu quyết tâm đầu tư, năng lực tài chính một số nhà đầutư chưa tương xứng với quy mô dự án đầu tư, cùng với tình hình khó khăn dokhủng hoảng tài chính toàn cầu đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khaicác dự án.

b) Về xây dựng: công tác quy hoạch xây dựng và quảnlý đô thị có chuyển biến tích cực, đã hoàn thành 60 đồ án quy hoạch chi tiết;công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị được tăng cường, tổ chức kiểm tra 576công trình xây dựng và nhà ở riêng lẽ, kiên quyết xử lý 376 trường hợp saiphạm; năng lực ngành xây dựng có bước phát triển, tăng thêm 89 doanh nghiệp sovới năm 2005 (162 doanh nghiệp), một số doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị, đổimới công nghệ bảo đảm năng lực thi công một số công trình có quy mô lớn, yêucầu kỹ thuật phức tạp.

Chủ trương đô thị hoá được thực hiện đồng bộ, từ khâuquy hoạch gắn với các dự án đầu tư hạ tầng như cấp thoát nước, giao thông đôthị và phát triển khu đô thị mới. Trong các năm qua, đã tập trung đầu tư trên795 tỷ đồng, triển khai 27 công trình, dự án, hoàn thành đưa vào sử dụng Nhàmáy cấp nước Tháp Chàm công suất 52.000m3/ngày-đêm, Dự án cấp nướcPhước Dân và khu công nghiệp Phước Nam công suất 30.000 m3/ngày-đêm,nâng tổng lượng cấp nước trên địa bàn tỉnh lên 104.000 m3/ngày-đêm,đến nay có 95% dân số đô thị được cấp nước sạch; triển khai dự án thoát nước thànhphố Phan Rang - Tháp Chàm và 02 thị trấn Phước Dân, Khánh Hải. Hạ tầng giaothông đô thị tiếp tục được mở rộng và nâng cấp, tập trung đầu tư một số tuyếnđường nội thị; đã hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng 3 khu dân cư mới, diện tích63,4 ha; một số dự án khu đô thị mới có quy mô lớn đang được các nhà đầu tưquan tâm đăng ký đầu tư như Khu đô thị mới K1 (diện tích 55 ha), Khu đô thị mớiK2 (diện tích 52ha), Khu dân cư D2 - D7 (diện tích 38ha), Khu đô thị mới ĐôngVăn Sơn - Bắc Bình Sơn (diện tích 100ha); cảnh quang môi trường đô thị đượcquan tâm thực hiện tốt hơn, bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương; triển khai đề án phát triển nhà ởxã hội đạt kết quả bước đầu, hoàn thành đưa vào sử dụng 87 căn hộ chung cưNguyễn Văn Trỗi và Chung cư C5, kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư 3 dự ánxây dựng nhà ở xã hội khác, với tổng vốn 162 tỷ đồng xây dựng trên 600 phòng ở.

4.Đối với khu vực dịch vụ: tốc độ tăng trưởng đạt khá, giá trị sản xuất tăng bình quân11%/năm, chiếm 35,2% GDP của tỉnh.

a)Hoạt động thương mại: có bước chuyển biến tích cực, hạ tầng thương mại đượcquan tâm đầu tư, phát triển nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ mới, nhiều nhàphân phối lớn đã triển khai đầu tư trên địa bàn như Saigon Co.op Mart, tổng đạilý xăng dầu, ximăng; thương mại miền núi phát triển khá tạo lưu thông hàng hoáthông suốt giữa các vùng miền; chương trình phát triển chợ đạt một số kết quảbước đầu, xã hội hoá đầu tư phát triển chợ được đẩy mạnh, trong 5 năm, huy độngnhiều nguồn vốn đầu tư trên 52,6 tỷ đồng, hoàn thành và đưa vào sử dụng 39 dựán chợ, trong đó: vốn xã hội hoá là 35.620 triệu đồng, chiếm 67,6%; nâng tổngsố đến nay toàn tỉnh có 101 chợ, 03 siêu thị (02 siêu thị chuyên doanh và 01siêu thị tổng hợp); tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2010 đạt6.390,8 tỷ đồng, tăng bình quân 24,6%/năm, tăng gấp 3 lần so với năm 2005 vàvượt 1,7 lần chỉ tiêu kế hoạch 5 năm đề ra (3.800 tỷ đồng).

Tuynhiên, hoạt động thương mại trên địa bàn vẫn là kênh bán lẻ chiếm hơn 70%, chưahình thành các kênh phân phối cấp I, đã ảnh hưởng không ít đến công tác chỉđạo, quản lý Nhà nước về thị trường, nhất là trong bối cảnh thực hiện chủtrương bình ổn giá cả tiêu dùng trong điều kiện lạm phát tăng cao trong nhữngnăm gần đây, thị trường nông thôn vẫn chưa được quan tâm đầu tư của các doanhnghiệp.

b) Vềdu lịch: thế mạnh về du lịch biển đang được tập trung khai thác với nhiều dự ánquy mô lớn được triển khai, mở thêm nhiều tuyến du lịch bước đầu đã gắn kết cáctour du lịch biển với các điểm du lịch văn hoá (tháp Po Klong Garai, làng nghềtruyền thống), đã thu hút hơn 700 nghìn lượt du khách tăng gấp 3,1 lần năm2005, lượng khách tăng bình quân 25,7%/năm, trong đó khách quốc tế tăng33,6%/năm, thời gian lưu trú đạt 1,9 ngày/lượt-người (tăng 0,3 ngày so với năm2005), doanh thu du lịch tăng bình quân 20,9%/năm.

Hạtầng du lịch được quan tâm đầu tư, trong 5 năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư cơsở hạ tầng để phát triển 5 khu du lịch biển trọng điểm theo quy hoạch, đã huyđộng nhiều nguồn vốn đầu tư trên 291 tỷ đồng triển khai 7 công trình giao thôngđến các khu du lịch và tiếp tục triển khai tuyến đường ven biển từ Bình Tiênđến Cà Ná, các cơ sở hạ tầng về cấp điện, cấp nước được mở rộng đến các khu dulịch, cơ sở hạ tầng của làng nghề truyền thống được quan tâm đầu tư hoàn thànhnhanh và đồng bộ, bước đầu hình thành các điểm thu hút khách du lịch; nhờ vậymà trong những năm qua, đã thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư pháttriển du lịch, một số dự án có quy mô lớn đã cấp giấy chứng nhận đầu tư, một sốdự án đã hoàn thành, góp phần tăng năng lực sản xuất ngành du lịch như kháchsạn Sài Gòn - Ninh Chữ (4 sao), khu resort Long Thuận (3 sao) và 6 khách sạn mini,với tổng vốn đầu tư trên 250 tỷ đồng, và 18 dự án đang triển khai đầu tư tổngvốn 7.800 tỷ đồng, trong đó một số dự án quy mô lớn như khu du lịch Bình Tiên,khu du lịch sinh thái Nam Núi Chúa, khu du lịch Bãi Thùng, ... và một số dự ántại khu du lịch Bình Sơn - Ninh Chữ.

Tuynhiên tốc độ tăng trưởng ngành du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thếcủa tỉnh, nhất là lợi thế về du lịch biển, một số dự án du lịch quy mô lớn chậmhoàn thành, tỷ trọng ngành du lịch còn chiếm thấp trong GDP của tỉnh[9], chất lượng dịch vụ còn thấp, cơ sở hạ tầngphục vụ phát triển du lịch chưa được đầu tư đồng bộ, nhất là các tuyến đườnggiao thông kết nối với các khu du lịch trọng điểm, cung cấp điện, nước cònnhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Chủ trương đưa du lịch Ninh Thuận vào chươngtrình trọng điểm du lịch của cả nước chưa thực hiện được, kết quả triển khaiquy hoạch phát triển 5 khu du lịch trọng điểm còn hạn chế, một số dự án du lịchcó quy mô lớn chậm triển khai hoàn thành, năng lực sản xuất mới của ngành dulịch tăng chậm, chưa hình thành được một số khu du lịch cao cấp, khách sạn đạtchuẩn 5 sao có sức cạnh tranh cao; năm 2009 do tác động của khủng hoảng tàichính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu thu hút khách dulịch, mới đạt 92% chỉ tiêu KH 5 năm (700 - 800 nghìn khách).

c) Dịch vụ vận tải: có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càngtốt hơn nhu cầu đi lại và giao lưu hàng hoá của nhân dân, chất lượng dịch vụđược nâng lên, phương tiện hiện đại được đầu tư, hoạt động vận tải hành kháchcông cộng được mở rộng đến các địa bàn trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu đi lại cho4.500 - 5.000 lượt hành khách/ngày. So với năm 2005, năng lực vận tải tăng thêmgần 2.265 xe, đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 4.073 xe, khối lượng luân chuyểnhành khách tăng bình quân 16,3%/năm, luân chuyển hàng hoá tăng bình quân12%/năm.

Xã hội hoá trong đầu tư bến xe tỉnh, huyện đạt kếtquả tích cực, trong các năm qua đã thu hút các thành phần kinh tế đầu tư xâydựng bến xe Phan Rang, bến xe huyện Ninh Sơn, cơ bản đã xoá tình trạng xe dù,bến cốc, bước đầu lập lại trật tự giao thông đường bộ, tạo thuận lợi cho việcđi lại người dân, đưa hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp.

Hạtầng giao thông được quan tâm đầu tư, trong 5 năm đã huy động nhiều nguồn vốnđầu tư trên 1.325 tỷ đồng, triển khai thi công 25 tuyến đường quan trọng tạođộng lực phát triển kinh tế xã hội, đến nay có 14 tuyến đường đã cơ bản hoànthành, 11 tuyến đường đang triển khai thi công, một số công trình trọng điểm đãhoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư hoặc đang chuẩn bị để khởi công trong 2011tạo kết nối để khai thác tối đa lợi thế kinh tế vùng cho phát triển của địaphương, như tuyến đường ven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná, nâng cấp mở rộng tuyếnQuốc lộ 1A đoạn từ sân bay quốc tế Cam Ranh đến thành phố Phan Rang - ThápChàm. Nhìn chung hạ tầng giao thông của tỉnh còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ,nhiều dự án trọng điểm chậm được triển khai.

Tuy nhiên dịch vụ vận tải của tỉnh có quy mô nhỏ, chiếmtỷ trọng thấp trong GDP của tỉnh (năm 2010 chiếm 2,4%); dịch vụ về vận tải biểnphát triển chậm do tỉnh chưa có cảng hàng hoá; hạ tầng giao thông còn hạn chế,mật độ giao thông của tỉnh thấp nhất cả nước [10];hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ, các tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh nhưtuyến đường ven biển mới đang được đầu tư, gây cản trở cho quá trình phát triểncủa tỉnh, khó khăn trong việc khai thác tiềm năng kinh tế biển, nhất là du lịchbiển.

d) Dịch vụ b­ưu chính viễn thông: mạng lưới bưu chính trongtỉnh được mở rộng và phát triển nhanh với nhiều loại hình dịch vụ phong phúhiện đại, đến nay toàn tỉnh có 119 điểm gồm bưu cục, bưu điện văn hoá xã và cácđại lý bưu điện; hạ tầng viễn thông phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin trong nước và quốc tế, trong 5 năm đã pháttriển mới 93.659 thuê bao điện thoại và 14.361 thuê bao internet mới; nâng tổngsố thuê bao điện thoại cố định và di động trả sau đạt 139,4 nghìn máy, đạt tỷlệ 24,4 máy/100 dân (tăng 16,9 máy/100 dân so với năm 2005) và 14,4 nghìn thuêbao internet, tỷ lệ dân số có sử dụng internet chiếm 22%.

e) Các loại hình dịch vụ khác tiếp tục phát triển cảquy mô và phạm vi hoạt động, chất lượng dịch vụ bảo hiểm, ngân hàng được nânglên, chiếm tỷ trọng 3% GDP của tỉnh, tăng bình quân 26,5%/năm.

Tuy nhiên, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng caocòn chiếm tỷ trọng thấp trong GDP của tỉnh, như dịch vụ tài chính, dịch vụ tưvấn và kinh doanh bất động sản là những ngành có giá trị gia tăng cao và cònđiều kiện phát triển.

f)Hoạt động xuất nhập khẩu: các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu trong 5 năm qua đã chủđộng mở rộng thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, phát triển mặt hàng xuất khẩumới, tổng giá trị xuất khẩu năm 2010 đạt 46,9 triệu USD, tốc độ tăng bình quân 2%/năm,đạt 46,9% mục tiêu đề ra (90 - 100 triệu USD), trong đó xuất khẩu nông sản 36,4triệu USD chiếm 77,6%, thủy sản 7,2 triệu USD (đạt 24% mục tiêu 30 triệu USD)chiếm 15,3%; giá trị nhập khẩu đạt 11,17 triệu USD.

Hạn chế lớn nhất đó là chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩuđạt thấp so với mục tiêu đề ra, do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu nêngiá cả và thị trường tiêu thụ khó khăn hơn[11], mặt khác về phía chủ quando chưa có chiến lược phát triển xuất khẩu tốt, quy mô sản phẩm xuất khẩu cònnhỏ, sức cạnh tranh thấp, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh dựa vào mặt hàngnhân điều, nhưng phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu nên không ổn định,phát triển thiếu vững chắc; đối với xuất khẩu thủy sản chưa khai thác hết tiềmnăng, lợi thế về nguyên liệu của địa phương từ khai thác và nuôi trồng thủysản, nhất là tôm nuôi để phục vụ cho chế biến xuất khẩu, chủ yếu là bán nguyênliệu thô, giá trị xuất khẩu ngành hàng thủy sản còn chiếm tỷ trọng thấp trongkim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

5. Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế:

- Về Hội nhập kinh tế quốc tế: thực hiện chủ trươngchủ động trong hội nhập kinh tế, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã kịp thời banhành Nghị quyết, chương trình để triển khai và đạt một số kết quả bước đầu; cácngành, các cấp đã tập trung tuyên truyền, cung cấp thông tin cho doanh nghiệpvà người dân, nâng cao hiểu biết về WTO và lộ trình cam kết mở cửa thị trườngđể chủ động ứng phó với tác động tiêu cực từ việc gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới, cũng như tận dụng những cơ hội mang lại, nhất là về phát triển thịtrường xuất khẩu, thu hút đầu tư; ban hành quy chế cung cấp thông tin về hàngrào kỹ thuật trong thương mại để tư vấn kịp thời cho người dân và doanh nghiệp,tránh thua thiệt trong quan hệ thương mại quốc tế; đồng thời phối hợp với BộNgoại giao, Bộ Công Thương tổ chức các hội nghị tập huấn nâng cao năng lực chocán bộ các ngành và địa phương về hội nhập kinh tế quốc tế.

- Chủ trương hợp tác phát triểnvới các tỉnh, thành phố được triển khai, nhiều chương trình hợp tác đang pháthuy hiệu quả tích cực, như hợp tác hỗ trợ kỹ thuật trong khám và điều trị bệnhở bệnh viện tỉnh, hợp tác du lịch triển khai nhiều chương trình liên kết quảngbá du lịch hàng năm, hợp tác trong xúc tiến và thu hút đầu tư để thu hút các dựán đầu tư lĩnh vực có lợi thế như du lịch, công nghiệp biển và công nghiệp sửdụng nhiều lao động, điện gió; chủ trương hợp tác phát triển toàn diện với cáctập đoàn, các tổng công ty trong và ngoài nước để khai thác tiềm năng, lợi thếcủa tỉnh được triển khai tích cực, nhiều bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác đầu tưđã được ký kết với các nhà đầu tư chiến lược trên các lĩnh vực năng lượng táitạo, du lịch cao cấp, đào tạo, y tế, đang xúc tiến hợp tác với các trường đạihọc và cơ sở đào tạo có uy tín trong và ngoài nước để hình thành những cơ sởđào tạo có chất lượng cao tại tỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lựccho tỉnh trong giai đoạn tới và tiến tới thực hiện chủ trương xây dựng NinhThuận trở thành trung tâm đào tạo chất lượng trên một số lĩnh vực tỉnh có lợi thế.

- Về công tác vận động thu hút cácnguồn vốn ODA: Được xác định là nguồn lực quan trọng để đầu tư phát triển cơ sởhạ tầng của tỉnh; trong 5 năm 2006 - 2010, công tác vận động, thu hút các nguồnvốn ODA, NGO được quan tâm thực hiện thông qua tăng cường tiếp xúc với các Bộngành Trung ương, tiếp cận các nhà tài trợ, nhất là các nhà tài trợ đang cóchương trình tài trợ tại tỉnh, nhờ đó tình hình thu hút vốn ODA, NGO trongnhững năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực.

Trong 5 năm, đãvận động 27 dự án sử dụng vốn ODA, với tổng vốn đăng ký là 2.613 tỷ đồng, củacác nhà tài trợ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vàcác tổ chức của Liên hiệp quốc (UNFPA, UNICEF) và các nhà tài trợ song phươngcác nước Nhật Bản (JBIC), Pháp (AFD), Bỉ, Đan Mạch, Úc, ... Tổng vốn ODA thựchiện 5 năm đạt 1.063 tỷ đồng, đạt 40,6% trên tổng vốn đăng ký. Trong đó đángchú ý là đã vận động được một số dự án ODA quy mô lớn đầu tư vào hệ thống cơ sởthủy lợi, giao thông như hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ vốn AFD (tổng vốn ODA là240 tỷ đồng, xây dựng 5 hồ chứa tổng dung tích 28,8 triệu m3); hồ Lanh Ra(vương quốc Bỉ vốn ODA 117 tỷ đồng); dự án cấp nước ADB3, tổng vốn ODA 252 tỷđồng; các dự án JBIC tổng vốn 49 tỷ đồng (đường Phước Đại - Phước Trung, hồ TàRanh, nước Mỹ Tường); Dự án phát triển nông thôn tổng hợp các tỉnh miền Trungdo ADB và AFD tài trợ (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ dự án,khoảng 7 triệu USD); các dự JICA (kênh chính Đông Krông Pha, đường Quốc lộ 27đi Ma Nới); Dự án hỗ trợ Y tế vùng duyên hải Nam Trung bộ do ADB tài trợ(khoảng 4 triệu USD); dự án Nâng cao năng lực quản lý nguồn nước do Chính phủBỉ tài trợ (10 triệu Euro), các dự án giáo dục Trung học phổ thông, trung họccơ sở do ADB và WB tài trợ, …

Ngoài ra còn một số dự án đã hoàntất thủ tục bắt đầu triển khai trong năm 2011 như dự án phát triển nông nghiệpbền vững do IFAD tài trợ (12 triệu USD) đồng thời đang hoàn tất thủ tục đăng kýcác dự án ODA mới, dự kiến triển khai giai đoạn 2011 - 2015 như: Dự án Trường trungcấp Nghề tỉnh đăng ký tài trợ của Ả Rập Xê Út và Đức (11,2 triệu USD), dự ánphát triển hạ tầng nông thôn hai huyện Ninh Sơn và Ninh Hải do OFID tài trợ, dựán thoát nước thành phố Phan Rang - Tháp Chàm; dự án phát triển toàn diện kinhtế xã hội thành phố Phan Rang - Tháp Chàm do ADB tài trợ, …

- Về công tác vận động tài trợ củacác tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGO): đổi mới phương thức vận động, chủđộng trong xây dựng chương trình, chuẩn bị tốt nội dung dự án để vận động đúngtheo các tiêu chí của các nhà tài trợ, tổ chức thành công nhiều Hội thảo vềtăng cường sự hợp tác giữa tỉnh Ninh Thuận và các tổ chức quốc tế, tổ chức phichính phủ nước ngoài, duy trì thường xuyên việc tổ chức gặp mặt các nhà tài trợphi chính phủ nước ngoài hàng năm. Trong 5 năm đã vận động trên 20 nhà tổ chứcphi chính phủ triển khai 36 dự án, vốn thực hiện là 3,5 triệu USD, trong đó cónhiều dự án thời gian thực hiện 3 - 4 năm, lĩnh vực viện trợ chủ yếu là hỗ trợnâng cao năng lực cho người dân xoá đói giảm nghèo, vấn đề y tế, bảo vệ môitrường, bảo trợ xã hội cho người khuyết tật, lĩnh vực mới là năng cao năng lựcchính quyền các cấp trong đổi mới chính sách tài chính công và lập kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, mặt còn hạn chế là độingũ làm công tác vận động vừa thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực, phầnlớn các dự án có quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn, địa bàn chưa được mởrộng, nhiều xã nghèo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn chưa có dự ánthực hiện.

6. Phát triển các thành phần kinhtế:

a) Đổi mới và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp Nhà nước: đến nay toàn tỉnh đã cơ bản đã hoàn thành chương trình đổimới và sắp xếp doanh nghiệp giai đoạn 2005 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phêduyệt, trong đó có 23 doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hoá, 4 doanh nghiệpchuyển sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 2 doanhnghiệp thực hiện hình thức bán và giải thể; hầu hết các doanh nghiệp sau cổphần hoá đều hoạt động có hiệu quả, đầu tư mở rộng sản xuất, tạo sản phẩm mới,bảo đảm được việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động;

b) Phát triển doanh nghiệp các thànhphần kinh tế:thực hiện nhất quán chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, tạo môitrường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh vàđầu tư; trong 5 năm từ năm 2006 - 2010, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mớităng nhanh cả về số lượng và quy mô, hoạt động đa ngành nghề, có 1.146 doanhnghiệp thành lập mới và đang hoạt động, vốn đăng ký gần 9.200 tỷ đồng, nângtổng số đến nay có 1.857 doanh nghiệp tăng gấp 3,2 lần và vốn đăng ký 10.027 tỷđồng gấp 14 lần giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng khu vực kinh tế tưnhân tăng bình quân 11,5%, đóng góp 67,8% GDP và 50% thu ngân sách của tỉnh vàgiải quyết việc làm cho trên 40.000 lao động tại địa phương.

c)Phát triển thành phần kinh tế tập thể: trong 5 năm, phát triển 38 hợp tácxã với gần 12.000 xã viên, 01 Liên hiệp hợp tác xã; đến nay toàn tỉnh có 77 hợp tác xãđang hoạt động với 29.678 xã viên, 3.120 tổ hợp tác, chủ yếu là hợp tác xã dịchvụ trong nông nghiệp chiếm 44%, một số mô hình hợp tác xã làm dịch vụ nôngnghiệp có hiệu quả được nhân rộng; vai trò của kinh tế tập thể ngày càng đươckhẳng định, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của tỉnh (chiếm 11% GDP),đặc biệt góp phần tích cực trong việc triển khai các chủ trương, chính sách củaNhà nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện tốt vai trò xoá đóigiảm nghèo.

7. Tài chính, ngân hàng:

a) Quản lý và sử dụng ngân sách:

- Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn trong 5 năm đạt 2.586,2 tỷđồng, tăng bình quân hàng năm 27,3 %/năm, riêng năm 2010 đạt 883,7 tỷ đồng, đạt147,3% mục tiêu đề ra (550 - 600 tỷ đồng); tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách đạt13,2% (mục tiêu là 11 - 12%); cơ cấu nguồn thu chuyển dịch tích cực, nguồn thutừ thuế tăng từ 67% năm 2005 lên 88,5% năm 2010 (tăng 26%/năm), các khoản thutừ đất chiếm 23,3% năm 2005, giảm còn 5,3% năm 2010, nguồn thu từ phí, lệ phíchiếm gần 9,7% năm 2005 giảm còn 6,2% năm 2010; đã phát triển được nguồn thumới từ dịch vụ nhập khẩu xăng dầu; năm 2009 đã thành lập và đưa vào hoạt độngChi nhánh Hải quan Ninh Thuận, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệptrong việc lập thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá và đóng góp đáng kể cho ngânsách Nhà nước (năm 2009: 75 tỷ đồng, năm 2010: 235 tỷ đồng).

- Tổng chi cân đối ngân sách 5 nămđạt 8.353 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 15,7%, trong đó chi đầu tư pháttriển 3.416,5 tỷ đồng, tăng bình quân 19%/năm; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp ngânsách, giao quyền quản lý kinh phí sự nghiệp và chi đầu tư cho các huyện, thànhphố; thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các cơ quan hành chính và đơn vịsự ngiệp công, bước đầu tạo quyền chủ động trong chi ngân sách và tiết kiệm chicho các đơn vị địa phương; công tác quản lý tài sản công được đẩy mạnh, côngkhai quản lý tài sản và định mức trong mua sắm tài sản công để tiết kiệm vàquản lý sử dụng có hiệu quả.

b) Tín dụng, ngân hàng: hệ thống ngânhàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội được mở rộng đến các địa bàntrong tỉnh, các khu công nghiệp, vùng đông dân cư, đáp ứng tốt hơn nhu cầu pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương, đến nay hệ thống tổ chức tín dụng trênđịa bàn tỉnh nâng lên 12 đơn vị[12]. Ngành ngân hàng đãthực hiện tốt chủ trương, chính sách tiền tệ của Chính phủ trong kiềm chế lạm pháttăng cao năm 2008 và tình hình khủng hoảng tài chính năm 2009, năm 2010.

Đến cuối năm2010, tổng dư nợ tín dụng cho vay đạt 5.800 tỷ đồng tăng bình quân 24,2%/năm[13],dư nợ ngân hàng chính sách xã hội cho vay theo 9 chương trình của Chính phủ đạt873,6 tỷ đồng, tăng bình quân 35%/năm, trong đó dư nợ cho vay hộ nghèo chiếm47%, đạt 283 tỷ đồng cho 39.352 hộ được vay vốn.

8. Công tác quy hoạch, đầu tư pháttriển:

a) Công tác quy hoạch: được triển khai đồngbộ, bước đầu đã đổi mới trong tư duy và phương pháp tiếp cận, là nền tảng cơbản để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững; hầu hết cáchuyện thành phố đã hoàn thành kịp thời quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội đến năm 2010, quy hoạch chung xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn,quy hoạch xây dựng 5 vùng huyện; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sửdụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, quy hoạch sử dụng đất đai;các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu đều đã lập quy hoạch, 65% diện tích đấtđô thị ở thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và 35% đất đô thị ở các huyện đã cóquy hoạch, 49/65 xã phường có quy hoạch chi tiết sử dụng đất, là những thuậnlợi cơ bản để thu hút đầu tư, đồng thời tỉnh đã chủ động kiến nghị trung uơngbổ sung vào quy hoạch chung của cả nước những ngành, lĩnh vực tỉnh có lợi thếđể phát triển kinh tế của địa phương như quy hoạch 2 khu công nghiệp Du Long vàPhước Nam, quy hoạch điện gió, quy hoạch phát triển đồng muối, quy hoạch cảngDốc Hầm vào hệ thống cảng biển miền Trung, quy hoạch khôi phục tuyến đường sắtĐà Lạt - Tháp Chàm.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinhtế - xã hội của tỉnh trong tình hình mới, được sự đồng ý của Thủ tướng Chínhphủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thuê tư vấn nước ngoài lập 3 quy hoạch trọng điểmcủa tỉnh, trong đó quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến năm2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, riêng quy hoạch chung xây dựngthành phố Phan Rang - Tháp Chàm và quy hoạch phát triển dải ven biển đang hoànthiện giai đoạn cuối nhằm đón nhận những giá trị mới, những cơ hội mới của quátrình toàn cầu hoá mang lại, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh tronggiai đoạn tới.

b) Đầu tư phát triển: tổng vốn đầu tư toàn xãhội tăng khá, trong 5 năm đạt 17.745 tỷ đồng (vượt 61,3% mục tiêu Nghị quyết),tăng bình quân 32%/năm, cơ cấu đầu tư được chuyển dịch tích cực. Trong đó nguồnvốn thuộc ngân sách Nhà nước đạt 7.080 tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng vốn, tăng bìnhquân 19,5%/năm; vốn của các thành phần kinh tế và dân cư (bao gồm cả tín dụngthương mại) đạt 10.665 tỷ đồng, chiếm 60,1% tổng vốn, tăng bình quân 41,7%/năm.

- Đối với các nguồn vốn ngân sách Nhànước: nhờ tranh thủ tối đa sự hỗ trợ Chính phủ và các Bộ, ngành trung ươngthông qua các chương trình hỗ trợ có mục tiêu của Chính phủ, bổ sung thêm nguồnvốn trái phiếu Chính phủ, ứng trước kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nướccủa các năm sau, nguồn vốn tín dụng Nhà nước, vay Kho bạc, cùng với nguồn vốnđầu tư ngân sách tỉnh cân đối hàng năm, trong 5 năm qua, đã huy động đầu tư7.080 tỷ đồng, gấp 3,5 lần giai đoạn 2001 - 2005, trong đó vốn các Bộ ngànhTrung ương đầu tư trên địa bàn chiếm gần 22%, vốn trái phiếu Chính phủ chiếm20%, vốn ngân sách do tỉnh quản lý chiếm gần 50% và các nguồn vốn huy động hợppháp khác khoảng 8%; tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnhvà đầu tư cho mục tiêu giải quyết an sinh xã hội; một số công trình trọng điểmcủa tỉnh trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 về giao thông, thủy lợi, cấp nước,thoát nước và các công trình văn hoá - xã hội thiết yếu khác đều được triển khaiđầu tư, trong đó có một số dự án quy mô lớn là những dự án động lực phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh như hệ thống thủy lợi Tân Mỹ công suất 219 triệu m3đang triển khai thi công và 4 hồ chứa nước khác có dung tích gần 60 triệu m3đã hoàn thành, tăng diện tích tưới cho 4.200 ha đất nông nghiệp, tuyến đườngven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná dài 116 km, trong đó 4 dự án thành phần đã đượckhởi công và đang đẩy nhanh tiến độ thi công; các dự án cấp nước Phan Rang -Tháp Chàm công suất 52.000 m3 /ngày đêm và cấp nước khu công nghiệpPhước Nam quy mô 30.000 m3/ngày - đêm đã đầu tư hoàn thành; bệnhviện đa khoa tỉnh quy mô 500giường và một số công trình văn hoá lớn của tỉnh như tượng đài, nhà bảo tàngtỉnh đã hoàn thành, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hình thức đầu tư có nhiều nét mới,một số công trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọngđã thực hiện hình thức xã hội hoá, như cầu An Đông, khu du lịch, đô thị, côngviên biển Bình Sơn - Ninh Chữ, sẽ góp phần cải thiện nhanh cơ sở hạ tầng đápứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới.

- Đối với đầu tư các thành phần kinhtế: phát triển kinh tế nhiều thành phần luôn được tỉnh quan tâm chỉ đạo thựchiện, trong 5 năm qua đã triển khai đầy đủ, kịp thời các chính sách khuyếnkhích, ưu đãi đầu tư và được áp dụng ở mức cao nhất theo khung quy định củaChính phủ; đồng thời đẩy mạnh công tác vận động xúc tiến đầu tư, đã tổ chứcthành công Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh năm 2009; kết hợp với việc thànhlập và đưa vào hoạt động Văn phòng Phát triển kinh tế trực thuộc Sở Kế hoạch vàĐầu tư, môi trường đầu tư của tỉnh có bước cải thiện rõ nét, năng lực cạnhtranh cấp tỉnh được nâng lên, năm 2006, chỉ số PCI của Ninh Thuận xếp vị trí53/63 tỉnh, thành phố, thuộc nhóm tương đối thấp, năm 2010, chỉ số PCI của tỉnhxếp vị trí thứ 41/63 xếp trong nhóm các tỉnh khá, nâng lên 7 bậc so với năm2009 và tăng lên 12 bậc so với năm 2006;

Nhờ triển khai các giải pháp huyđộng vốn của các thành phần kinh tế, trong 5 năm, huy động vốn đầu tư của cácthành phần kinh tế có chuyển biến tích cực, tổng vốn huy động 10.655 tỷ đồng,gấp 4,3 lần giai đoạn 2001 - 2005; đã có 107 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầutư, với tổng vốn đăng ký 20.763 tỷ đồng (17 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài,với tổng vốn 5.473 tỷ đồng); quy mô đầu tư ngày càng lớn, lĩnh vực đầu tư đadạng hơn, tập trung các lĩnh vực tỉnh có lợi thế của tỉnh như năng lượng sạch,du lịch, sản xuất nông nghiệp, thủy sản và một số lĩnh vực đầu tư mới đang đượcnhiều đầu tư quan tâm đăng ký đầu tư như khu đô thị mới, giáo dục, y tế, dạynghề, riêng lĩnh vực phong điện đến nay đã có 12 dự án đã được Ủy ban nhân dân tỉnhchấp thuận chủ trương địa điểm, trong đó có 6 dự án đã được cấp giấy chứng nhậnđầu tư quy mô 525 MW, tổng vốn đăng ký gần 17.700 tỷ đồng. Nét mới nổi lêntrong thu hút đầu tư giai đoạn này, là số lượng dự án thu hút ngày càng tăngthuộc các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty có uy tín, có thương hiệu đăng kýđầu tư, một số dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư; đã có 42 dự án đẩy nhanhtiến độ hoàn thành đưa vào hoạt động, trong đó có 15 dự án thuộc lĩnh vực côngnghiệp - xây dựng, 11 dự án thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ, 5 dự án thuộclĩnh vực nông - lâm - thủy sản và 11 dự án FDI; một số dự án đẩy nhanh tiến độhoàn thành trong năm 2011 tạo tăng trưởng cho các năm tới như Khu liên hiệp chếbiến muối cao cấp quy mô 200 nghìn tấn/năm (giai đoạn II), chế biến muối tinh,các dự án chế biến đá granite, khu du lịch Nam Núi Chúa, nhà máy bao bì, sảnxuất giống thủy sản Việt - Úc, ...

9.Phát triển kinh tế - xã hội miền núi: kinh tế - xã hội miền núi có chuyển biến trên nhiều mặt, nhất là cơ sở hạtầng thiết yếu và phát triển sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sốngcho nhân dân thông qua triển khai các chương trình, dự án của Chính phủ; công tác khuyến nông, khuyến lâm đượcđẩy mạnh, chuyển giao kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệpcho đồng bào miền núi, đến nay các xã miền núi đã tự túc được lương thực, sảnlượng lương thực bình quân đạt 350 kg/người.

Kết cấu hạ tầng các xã miền núi đượcưu tiên đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, hỗ trợ xây dựng gần 5.000 căn nhà cho đồngbào dân tộc thiểu số, trong đó hỗ trợ từ chương trình 62 huyện nghèo của Chínhphủ trên 900 căn nhà, khai hoang đất sản xuất gần 700 ha hỗ trợ cho đồng bàodân tộc thiểu số có đất sản xuất ổn định đời sống, 100% số xã có điện, đườnggiao thông đến trung tâm xã thông suốt quanh năm, 100 % số thôn có điện lướiquốc gia và 79% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 100% xã có trạmy tế và có trên 50% trạm y tế xã có bác sĩ, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 40%.

Tiếp tục duy trì chính sách cử tuyểnđào tạo giáo viên cho con em là người dân tộc, thực hiện tốt chính sách bảohiểm y tế cho người nghèo, hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi và hỗ trợ kinh phí chohọc sinh hộ nghèo các cấp học mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung họcphổ thông các xã thuộc chương trình 135, đầu tư công trình giảm nhẹ thiên tai ởcác vùng xung yếu, vùng thường bị thiên tai, sạt lở như Ma Nai (Bác Ái), TầmNgân (Ninh Sơn); đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu sốtừng bước được nâng lên, trình độ dân trí có tiến bộ, hưởng thụ văn hoá củanhân dân được cải thiện tốt hơn.

II. VỀ LĨNH VỰC VĂN HOÁ -XÃ HỘI

Được quan tâm đúng mức, các mục tiêu xã hội đượcthực hiện tốt, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và mức hưởng thụvăn hoá cho nhân dân.

1. Giáo dục - đào tạo:

a) Về giáo dục: chủ trương nâng caochất lượng giáo dục toàn diện được thực hiện tốt, quy mô giáo dục được duy trì,mạng lưới trường lớp học được mở rộng đến các vùng, miền, đáp ứng nhu cầu họctập cho con em trong tỉnh, đến nay hầu hết các cụm dân cư đều có trường tiểuhọc hoặc điểm trường, 87,7% xã, phường có trường trung học cơ sở, các huyện đềucó trường trung học phổ thông; đào tạo chuẩn hoá đội ngũ giáo viên đạt 93%,giáo dục miền núi được quan tâm, công tác đào tạo cử tuyển được thực hiện tốt,đã cử 359 con em là người dân tộc thiểu số đi đào tạo hệ đại học, cao đẳng vàdự bị đại học, đào tạo 73 giáo sinh tiểu học, mầm non thiểu số và tiếp tục đàotạo giai đoạn II cho 68 giáo sinh từng bước đáp ứng nhu cầu giáo dục tại chỗcho các xã miền núi; triển khai cuộc vận động “hai không và 4 nội dung” củangành giáo dục - đào tạo đạt kết quả tíchcực, chất lượng giáo dục được duy trì, tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào cáctrường đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng[14]; tình trạng lưu ban, bỏhọc từng bước được khắc phục có kết quả rõ nét, tỷ lệ giảm đáng kể [15]; huy động nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục, baogồm nguồn vốn ngân sách tỉnh, vốn ODA, trái phiếu Chính phủ triển khai đề ánkiên cố hoá trường lớp học, trường đạt chuẩn quốc gia, xây dựng mới và cải tạo58 trường phổ thông và Trường bán trú dân nuôi, 1.588 phòng học và phòng chứcnăng, đã cơ bản xoá được lớp học ca 3, có 12,1% (27/223) trường phổ thông đạtchuẩn quốc gia và 28,4% số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày; mô hìnhtrường bán trú dân nuôi ở các xã miền núi được nhân rộng ở 3 trường phổ thôngthuộc 3 xã Ma Nới, Phước Bình, Phước Chiến, duy trì tốt việc giảng dạy chữ Chămở 24 trường tiểu học.

Công tác phổ cập giáo dục tiếp tụcduy trì, hoàn thành đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở trong toàn tỉnh đúng tiếnđộ (được công nhận vào cuối năm 2008); 100% số xã, phường duy trì chuẩn quốcgia về phổ cập giáo dục tiểu học, 39/65 xã phường đạt phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi; triển khai Đề án phổ cập trung học phổ thông địa bàn thành phốPhan Rang - Tháp Chàm và các thị trấn đến năm 2015.

Chủ trương xây dựng xã hội học tậpđược triển khai thực hiện tốt, thông qua việc xây dựng và phát triển mô hìnhTrung tâm học tập ở các xã phường, đến nay có 65/65 xã, phường, thị trấn cóTrung tâm học tập cộng đồng, đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng cho nhân dân; chủtrương xã hội hoá lĩnh vực giáo dục được tập trung chỉ đạo và đạt được một sốkết quả bước đầu[16], xã hội hoá giáo dục ở bậc học mầmnon đạt kết quả tốt, hình thành các lớp mầm non tư thục thu hút trên 4.000 trẻem ngoài công lập, chiếm 22,5% so với tổng số trẻ em trong độ tuổi ra lớp; giáodục phổ thông và dạy nghề đang được nhiều nhà nhà đầu tư quan tâm, đăng kýtriển khai 3 dự án đầu tư; chủ trương chuyển đổi trường bán công sang tư thụcđược triển khai, đã cơ bản hoàn thành Đề án chuyển đổi Trường bán công TrầnQuốc Toản sang tư thục chất lượng cao.

b) Về đào tạo: triển khai tốt chủ trươngđa dạng hoá các hình thức đào tạo, trong chuẩn hoá giáo viên, kết quả 5 năm đãđào tạo chuẩn hoá 2.661 giáo viên các cấp học, nâng tổng số đạt chuẩn lên 6.060giáo viên, chiếm 93%, một số cấp học đạt cao hơn bình quân của cả nước[17]; lĩnh vực đào tạo được quan tâm đầu tư và có bướcphát triển, Trường trung cấp Nghề đang được đầu tư nâng cấp thành Trường caođẳng Nghề, thành lập đi vào hoạt động phân hiệu Trường đại học Nông Lâm thànhphố Hồ Chí Minh tại tỉnh, triển khai xây dựng Đề án nâng cấp Trường cao đẳng Sưphạm Ninh Thuận theo hướng đào tạo đa ngành; đẩy mạnh hợp tác liên kết với cáccơ sở đào tạo có uy tín, có thương hiệu trong nước để xúc tiến thành lập cơ sởđào tạo tại tỉnh; đến nay, toàn tỉnh có 18 cơ sở dạy nghề, tăng 05 cơ sở so vớinăm 2005. Kết quả 5 năm qua, đã dạy nghề cho 41.193 lao động, trong đó đào tạonghề dài hạn cho 3.231 lao động, dạy nghề ngắn hạn cho 37.962 lao động, từ 60 -70% lao động có việc làm sau khi đào tạo nghề, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt40%, trong đó đào tạo nghề 25%.

Tồn tại, hạn chế nổi lên trong giáodục và đào tạo đó là: chất lượng giáo dục - đào tạo còn có sự chênh lệch lớngiữa các vùng miền, nhất là khu vực miền núi, vùng sâu vùng chất lượng cònthấp; tỷ lệ huy động trẻ vào mẫu giáo (50,3%) đạt thấp so với kế hoạch và cảnước (kế hoạch là 67% và cả nước là 80,9%); đội ngũ giáo viên bậc trung học phổthông một số bộ môn còn thiếu; số trường triển khai học ngày hai buổi và sốtrường chuẩn quốc gia đạt được còn thấp. Chất lượng dạy nghề còn thấp, đào tạochưa theo địa chỉ và chưa sát nhu cầu thực tế của địa phương; công tác xã hội hoágiáo dục và đào tạo triển khai đạt kết quả thấp so với mục tiêu đề ra[18].

2.Về khoa học công nghệ: nhận thức của cán bộ và quần chúng nhân dân về vai tròcủa khoa học và công nghệ trong sản xuất kinh doanh, đời sống xã hội được nânglên; trong 5 năm qua đã đầu tư 52,196 tỷ đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa họcvà công nghệ, triển khai 72 đề tài, tập trung nghiên cứu các giống cây trồng,vật nuôi mới, công nghệ mới trong sản xuất - kinh doanh để tăng năng suất vàchất lượng theo hướng tạo ra sản phẩm sạch và bảo vệ môi trường. Bước đầu có sựđầu tư nghiên cứu tạo ra các sản phẩm công nghệ sinh học và công nghệ sau thuhoạch từ những sản phẩm đặc thù của địa phương như cây neem, cây nho, rong sụn,sản xuất các chế phẩm vi sinh; các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực văn hoá xãhội đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học trong việc hoạch định các chính sáchvăn hoá, xã hội, bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc; nghiên cứu, triểnkhai các dự án, giải pháp phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường, sự biếnđổi khí hậu; đã triển khai 41 dự án khoa học - công nghệ cấp huyện, hỗ trợ 58cơ quan, doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO,HACCP, hỗ trợ bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cho 11 doanh nghiệp và bảo hộ sở hữutrí tuệ, kiểu dáng công nghiệp cho 74 sản phẩm hàng hoá. Đội ngũ trí thức cóbước phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, các tổ chức khoa học bước đầuđược củng cố[19], đã thành lập Liên hiệp các HộiKhoa học và Kỹ thuật tỉnh, mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế như GEF,WWF, ICRAN và các viện, trung tâm khoa học trong cả nước.

Tuy nhiên hạn chế trong hoạt độngnghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ là chưa thể hiện được vai trò nềntảng, động lực trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá; cơ cấu đề tài nghiên cứu ứng dụng giữa các lĩnhvực chưa phù hợp, còn thiếu các đề tài quy mô lớn, một số đề tài cònchậm được nghiệm thu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất - kinhdoanh và hoạt động quản lý còn chậm và thiếu đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

3. Quản lý tài nguyên, môi trường: cóchuyển biến, đã hoàn thành quy hoạch khoáng sản làm vật liệu xây dựng thôngthường đến năm 2015 và các quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, 6 huyện, thành phốvà quy hoạch chi tiết sử dụng đất cho 55/63 xã, phường, thị trấn. Trong 5 năm,đã cấp mới 130 giấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản và đã cơ bảnhoàn thành việc cấp quyền sử dụng đất ở và đất nông nghiệp[20]; quản lý môi trường có nhiều chuyển biến tích cực,đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ônhiễm và đã hoàn thành xử lý 5 khu vực ô nhiễm nặng; các dự án đầu tư mới đềuthực hiện tốt việc thẩm định điều kiện về môi trường, đã phê duyệt báo cáo tácđộng môi trường cho 35 dự án đầu tư; quản lý tài nguyên biển đạt được một sốkết quả bước đầu, phối hợp với các Bộ ngành trung ương triển khai điều tra,đánh giá tài nguyên môi trường biển, triển khai xây dựng dự án quản lý tổng hợpđới bờ tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020.

4. Về y tế, chăm sóc sức khỏe: côngtác y tế, chăm sóc súc khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện, mạng lưới y tếcơ sở được củng cố và nâng cấp, đến nay toàn tỉnh 100% xã phường có trạm y tế,trong đó 60% xã phường đạt chuẩn quốc gia về y tế (năm 2005 đạt 12,9%), nhiềudịch bệnh nguy hiểm được khống chế, đẩy lùi, các dịch vụ y tế được mở rộng địabàn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Các chính sách khám chữa bệnh chongười nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách khác thông qua bảohiểm y tế được thực hiện ngày một tốt hơn. Cơ sở vật chất khám chữa bệnh đượcquan tâm đầu tư, trong 5 năm đã triển khai xây dựng mới nhiều cơ sở khám chữabệnh quy mô lớn theo hướng hiện đại đã hoàn thành đưa vào sử dụng[21], đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dânđịa phương.

Chương trình mục tiêu quốc gia về ytế triển khai đạt kết quả, tiêm chủng đủ các loại vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổihàng năm đạt trên 95%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 23,5%;tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức từ thiện trong nước, vận động gây "Quỹhỗ trợ bệnh nhân nghèo" để tạo điều kiện cho người nghèo được chữa bệnhnhư mổ đục thủy tinh thể, hở hàm ếch, mổ tim bẩm sinh.

Chất lượng khám và điều trị bệnhtừng bước được nâng lên, thông qua việc thực hiện có kết quả tích cực một sốchương trình, đề án lớn nhằm nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh nhưchương trình hợp tác kỹ thuật với thành phố Hồ Chí Minh đã nâng cao trình độkhám và điều trị cho đội ngũ y bác sĩ, đề án khám chữa bệnh theo yêu cầu đạtkết quả tích cực, được nhân dân đồng tình. Công tác đào tạo nhân lực cho ngànhy tế được quan tâm, thành lập Trường trung cấp Y tế Ninh Thuận, đồng thời đẩymạnh liên kết với các trường đại học, cao đẳng y, dược trong đào tạo nguồn nhânlực cho ngành y tế tỉnh đạt kết quả bước đầu[22].

Các hoạt động về dân số và kế hoạchhoá gia đình tiếp tục được đẩy mạnh, bộ máy và mạng lưới được quan tâm củng cố,kiện toàn; công tác truyền thông, tư vấn nâng cao nhận thức về chăm sóc sứckhoẻ sinh sản của người dân được tăng cường với nhiều hình thức phong phú thiếtthực, các chỉ số cộng đồng đã được nâng lên: giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1tuổi còn 2,4‰ và dưới 5 tuổi còn 3‰, tỷ lệ sinh từ 20,64‰ năm 2005 giảm xuốngcòn 19‰ và giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,282% vào năm 2010.

Hạn chế trong lĩnh vực y tế nổi lên:đó là thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt là thiếu đội ngũ bác sĩ ở tuyến cơ sở vàcó xu hướng giảm dần qua các năm[23], tỷ lệ bác sĩ trên 1vạn dân không đạt mục tiêu kế hoạch đề ra và thấp so với cả nước; mạng lưới ytế cơ sở vùng sâu, vùng xa có nơi chưa đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh tạichỗ cho nhân dân, tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân còn thấp[24]. Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặtchẽ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng cao so với bình quân chung của cảnước; tinh thần, thái độ phục vụ bệnh nhân có chuyển biến tốt hơn nhưng còn xảyra một số vụ việc tạo dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân; chính sáchbảo hiểm y tế toàn dân kết quả còn thấp, chỉ có 46,1% dân số tham gia (mục tiêulà đạt 80%); công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình vẫn còn tiềm ẩn nguy cơtăng dân số trở lại, do tỷ suất sinh trong những năm gần đây giảm chậm và có xuhướng chững lại; công tác xã hội hoá trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khoẻnhân dân chuyển biến còn chậm, nguồn lực xã hội huy động cho phát triển y tếcòn hạn chế.

5. Giải quyết việc làm, giảm nghèovà thực hiện các chính sách xã hội:

Các hoạt động xã hội và chăm sóc ngư­ờicó công đư­ợc duy trì và mở rộng. phong trào Đền ơn đáp nghĩa đ­ược sự quan tâmrộng rãi của nhân dân, đã có 63/65 xã phường được công nhận làm tốt công tác th­­ươngbinh liệt sĩ và người có công, tỷ lệ hộ chính sách có mức sống bằng hoặc caohơn mức trung bình của dân địa phương nơi cư­­ trú chiếm 98%, đã hoàn tất 2.450hồ sơ công nhận gia đình chính sách, gia đình có công cách mạng và đã quy tập90 bộ hài cốt liệt sĩ về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh. Phong trào xây dựng nhà tìnhnghĩa, lập sổ tiết kiệm tặng các gia đình chính sách khó khăn, được triển khairộng rãi. Trong 5 năm đã xây 220 nhà tình nghĩa, nâng cấp sửa chữa 577 nhà,tặng 240 sổ vàng tình nghĩa cho người có công, thu hút các thành phần kinh tếtham gia đóng góp xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa hơn 5 tỷ đồng.

Công tác giảm nghèo được quan tâmchỉ đạo thực hiện, huy động được nhiều nguồn lực chăm lo cho người nghèo, vớitổng vốn huy động trong 5 năm 1.318 tỷ đồng, đồng thời thực hiện lồng ghép cácchương trình, dự án cho mục tiêu giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 21,29%xuống còn 11,05% năm 2010 (theo chuẩn nghèo 2005). Một số chủ trương, chínhsách về hỗ trợ nhà ở cho người nghèo đạt kết quả, lồng ghép với nguồn lực từcộng đồng, Quỹ vì người nghèo tỉnh, cùng với nguồn lực của Nhà nước đã hỗ trợxây dựng 3.692 căn nhà cho người nghèo theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg củaChính phủ, ngoài ra còn hỗ trợ xây dựng 4.168 căn nhà cho đồng bào dân tộcthiểu số nghèo từ chương trình 134 và 900 căn nhà ở huyện Bác Ái từ chươngtrình 62 huyện nghèo của Chính phủ.

Công tác giải quyết việc làm cóchuyển biến tích cực, vai trò của Nhà nước tác động bước đầu trong giải quyếtviệc làm thông qua tổ chức các phiên chợ việc làm hàng năm, kết quả trong 5 nămđã giải quyết việc làm cho 70.741 lao động, vượt chỉ tiêu kế hoạch (kế hoạch 55- 60 nghìn người), trong đó lao động làm việc ngoài tỉnh là 37.542 người, chiếm53% tổng số, bình quân mỗi năm giải quyết hơn 14.000 người; có 525 ngư­ời đilao động có thời hạn tại n­ước ngoài, tăng 3,3 lần so với 5 năm 2001 - 2005,chủ yếu tại thị tr­ường các nước và vùng lãnh thổ như Hàn quốc, Malaysia, ĐàiLoan, Nhật Bản.

Cơ cấu lao động có b­­ước chuyểndịch theo hướng giảm dần lao động trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao độngtrong các ngành công nghiệp và xây dựng từ 13% năm 2005 lên 15%, dịch vụ tăngtừ 29,9% năm 2005 lên 33,1%, giảm tỷ lệ lao động ngành nông lâm thủy sản giảmtừ 57,1% năm 2005 xuống còn 51,9% vào năm 2010.

Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạnchế như: chất l­ượng lao động còn thấp; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, tỷ lệlao động chuyên môn kỹ thuật, nhất là lao động có trình độ kỹ thuật cao cònthấp; cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm; tình trạng thiếu việc làm hoặc việclàm chưa ổn định vẫn còn lớn, nhất là khu vực nông nghiệp nông thôn; lao độngđi làm việc có thời hạn ở nư­ớc ngoài chưa đạt mục tiêu; lao động đi làm việc ởngoài tỉnh chủ yếu là lao động phổ thông, thu nhập thấp, việc làm bấp bênhthiếu ổn định.

Chấtl­ượng giảm nghèo thiếu bền vững; nguy cơ tái nghèo còn cao, khoảng cách giàunghèo của các tầng lớp dân cư, giữa các vùng có xu hướng gia tăng; đời sốngnhân dân đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, vùng xa, các xã bãi ngangcòn khó khăn; một số mô hình xoá đói giảm nghèo có hiệu quả nhưng chậm tổng kếtvà nhân rộng.

6. Văn hoá thông tin, phát thanhtruyền hình, thể dục thể thao:

- Văn hoá thông tin: tiếp tục đượcđổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng tuyêntruyền, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, nhiều chương trìnhnghệ thuật được dàn dựng hoàng tráng, góp phần quảng bá hình ảnh quê hương NinhThuận; công tác bảo tồn, bảo tàng, nhất là bảo tồn văn hoá truyền thống các dântộc thiểu số được chú trọng, có 12 công trình văn hoá lịch sử cấp quốc gia đượctôn tạo chống xuống cấp, 24 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh, sưu tầm1.035 hiện vật; trùng tu một số di tích văn hoá Chăm; một số công trình văn hoácó quy mô lớn như tượng đài, nhà bảo tàng tỉnh đã đầu tư hoàn thành; phong tràotoàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được triển khai rộng khắp, đến naycó 40,3% thôn, khu phố được công nhận đạt chuẩn văn hoá cấp huyện, 95% cơ quan,đơn vị đạt chuẩn văn hoá.

- Các hoạt động báo chí, phát thanhtuyền hình có nhiều chuyển biến tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, nội dungvà hình thức có nhiều cải tiến, quy mô và địa bàn hoạt động đ­ược mở rộng, tăngcường hợp tác liên kết với các Đài trong khu vực và trung ương, mở nhiều chuyênmục mới được người dân quan tâm, tiếp tục đầu tư trang thiết bị truyền hìnhtheo hướng hiện đại, đến năm 2010 có 90% địa bàn dân cư được phủ sóng truyềnhình trung ương, 80% phủ sóng truyền hình địa phương, có 100% địa bàn dân cưđược phủ sóng phát thanh trung ương, 95% phủ sóng phát thanh địa phương, đã gópphần nâng cao vai trò của thông tin đại chúng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

- Hoạt động thể thao có bước pháttriển và đạt được một số kết quả nhất định, phong trào thể dục thể thao quầnchúng tiếp tục phát triển, tỷ lệ người dân thường xuyên tập luyện thể dục thểthao tăng nhanh qua các năm, đạt 20% dân số, tăng 4%; hoạt động thể dục thểthao cơ sở đã bám sát việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đượcnhân dân đồng tình hưởng ứng; thể thao thành tích cao có tiến bộ, tham dự tốtcác giải thể thao khu vực và toàn quốc đạt được một số thành tích ở các mônbóng rổ, điền kinh, võ thuật, bi sắt, bóng bàn và quần vợt.

Hoạt động thể dục thể thao truyềnthống được khôi phục và phát triển, nhất là các môn thể thao dân tộc và thểthao mang tính dân gian như­: việt dã, bắn nỏ, bắn cung, đẩy gậy, đi cà kheo,... được thành lập các đội tuyển tham dự các giải khu vực và toàn quốc.

Hạn chế đó là: chất lượng và hiệuquả của văn hoá - thông tin, phát thanh - truyền hình ở vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bào dân tộc miền núi còn hạn chế; chất lượng xây dựng đời sống văn hoá cơsở có mặt còn thấp; cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá đầu tư­ chưa nhiều,thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao nhất là nơi sinh hoạt, vui chơi giảitrí cho thanh thiếu niên; quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực hoạt động kinhdoanh dịch vụ văn hoá còn bất cập, thiếu chặt chẽ; đội ngũ cán bộ văn hoá thểthao cơ sở còn thiếu và yếu, công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng tài năngvăn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao chưa quan tâm đúng mức. Công tác xã hội hoácác hoạt động thể thao kết quả còn thấp.

7. Bình đẳng về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ,bảo đảm quyền cho trẻ em

Công tác Vì sự tiến bộ của phụ nữđược quan tâm hơn, đã thành lập và kiện toàn Ban vì sự tiến bộ phụ nữ từ tỉnhđến cơ sở đi vào hoạt động ổn định; triển khai Kế hoạch hành động vì sự tiến bộphụ nữ tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 đạt một số kết quả bước đầu, nhất là bìnhđẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ có nhiều chuyển biến tiến bộ. Đến năm2010 có nhiều chỉ tiêu hoàn thành v­ượt mức kế hoạch như­­: tỷ lệ thất nghiệpcủa lao động nữ ở khu vực thành thị giảm từ 6% năm 2005 xuống còn 5%, tỷ lệ hộnghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay vốn tăng từ 70% năm 2005 lên trên 85%, tỷlệ hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ giảm từ 22,5% năm 2005 xuống còn 15%; tỷ lệcán bộ công chức nữ được bồi dưỡng chính trị, hành chính, tin học, ngoại ngữ từ40% năm 2005 lên 45,5% năm 2010.

Côngtác quy hoạch đào tạo cán bộ nữ được các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm, giớithiệu và đề bạt vào các vị trí lãnh đạo ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoànthể, doanh nghiệp;

Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em có nhiều chuyển biến, đời sống vật chất và tinh thần của trẻ em từngbước được nâng lên, hầu hết các trẻ em đều đư­ợc hưởng thụ các quyền cơ bản củamình trong các dịch vụ như­­: khai sinh, y tế, giáo dục, các chính sách trợ cấpxã hội, ... Trong 5 năm có 574 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc bảovệ, có 13 trường hợp trẻ em bị xâm hại, lạm dụng được phát hiện và xử lý. Côngtác phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi đã được triển khai mởrộng đến các xã phường trong tỉnh, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em hàng năm đạt98% kế hoạch, tỷ suất chết trẻ dưới 1 tuổi liên tục giảm từ 5,8%o năm 2005xuống còn 2,4%o năm 2010. Các hoạt động hỗ trợ về y tế, giáo dục, văn hoá chotrẻ em mồ côi, tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được quan tâmtriển khai, có trên 85% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh, trên90% số trẻ em 1 tuổi được đăng ký khai sinh đúng tuổi.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ và chămsóc trẻ em còn một số mặt hạn chế, tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật chưađược ngăn chặn có hiệu quả, hơn 60 em gái đưa vào Trường Giáo dưỡng, tỷ lệ suydinh d­ưỡng trẻ em chiếm 23,5% cao so với cả nước (18,9%); đội ngũ cán bộ làmcông tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp còn thiếu về số lượng, hạn chế vềnăng lực chuyên môn, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của gia đình và bản thântrẻ em còn hạn chế.

III. Công tác nội chính

1. Công tác thanh tra, phòng chốngtham nhũng: công tác phòng chống tham nhũng được quan tâm chỉ đạo, duy trì cáccuộc họp Ban chỉ đạo và tổ chức thành công Hội nghị tổng kết công tác phòngchống tham nhũng giai đoạn 2006 - 2010. Công tác thanh tra đã thực hiện tốt kếhoạch hàng năm. Trong 5 năm, các tổ chức thanh tra các cấp đã tiến hành1.418/833 cuộc thanh tra kinh tế - xã hội, đạt 170,2% kế hoạch; đã kết thúc1.369 cuộc, phát hiện sai phạm và xử lý về kinh tế số tiền trên 59,1 tỷ đồng,đã kịp thời ngăn chặn và thu hồi cho Nhà nước 86,1 tỷ đồng từ nguồn hỗ trợ lãisuất thuộc gói kích cầu của Chính phủ theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP kiến nghịxử phạt hành chính 10.231 trường hợp, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 15vụ (47 người), kiến nghị xử phạt hành chính 27 tập thể và 177 cá nhân.

2. Giải quyết khiếu nại tố cáo công dân: tiếp tụcthực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong công tác giải quyết khiếu nại thôngqua đối thoại trực tiếp với nhân dân; duy trì thường xuyên công tác tiếp dân,các cơ quan hành chính Nhà nước đã tiếp 7.353 lượt công dân, có 29 đoàn đôngngười; tiếp nhận 4.342 đơn khiếu nại, tố cáo, các cơ quan chức năng đã giảiquyết theo thẩm quyền bình quân đạt trên 97,6%.

3. Công tác tư pháp: công tác tưpháp có nhiều chuyển biến cả về công tác xây dựng văn bản, công tác Luật sư vàbảo trợ tư pháp. Trong 5 năm, đã thẩm định 373 văn bản quy phạm pháp luật do Ủyban nhân dân tỉnh ban hành và tổ chức kiểm tra, rà soát 4.017 văn bản quy phạmpháp luật khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh,công bố 106 văn bản hết hiệu lực do cấp tỉnh, huyện đã ban hành; công tác phổbiến, giáo dục pháp luật được duy trì, đã kịp thời tuyên truyền các văn bảnpháp luật mới ban hành, mở rộng trợ giúp pháp lý cho người nghèo đến các vùngsâu, vùng xa cho 9.517 trường hợp; xã hội hoá trong thực hiện công chứng đượctriển khai, đến nay đã thành thành lập 01 phòng Công chứng tư nhân.

4. Tổ chức bộ máy, xây dựng chínhquyền, cải cách hành chính:

Hoàn thành công tác kiện toàn bộ máyhành chính theo tinh thần Nghị định 13/2008/NĐ-CP và Nghị định 14/2008/NĐ-CP sắp xếp 24 sở ngành cấp tỉnh thành 18 sở ngành mới, sắp xếp các phòng ban cấphuyện (còn 12 phòng) đi vào hoạt động ổn định, từng bước khắc phục được sựchồng chéo, trùng lắp chức năng nhiệm vụ; tăng cường công tác đào tạo nâng caotrình độ cán bộ công chức; đã thực hiện bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước vànghiệp vụ chuyên môn cho 4.418 lượt cán bộ công chức các cấp; hoàn thành việcnâng cấp thị xã Phan Rang - Tháp Chàm lên thành phố loại III và chia tách huyệnNinh Hải thành huyện Ninh Hải và Thuận Bắc, tiếp tục điều chỉnh địa giới hànhchính cấp huyện, xã, thành lập thêm 43 thôn, khu phố, thành lập mới 2 phường, 4xã, nâng tổng số lên 65 xã, phường, thị trấn; thành lập mới huyện Thuận Namchính thức đi vào hoạt động tháng 10/2009.

Triển khai thực hiện đúng tiến độ,đạt kết quả chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn2006 - 2010, đến nay toàn tỉnh có 91 cơ quan, đơn vị thực hiện cơ chế “mộtcửa”; 75 đơn vị thực hiện cơ chế “một cửa liên thông”; hoàn thành việc rà soát,thống kê và cắt giảm 71%/1.102 thủ tục hành chính theo Đề án 30 của Chính phủ,thực hiện công khai các quy trình thủ tục hành chính đúng quy định tạo thuậnlợi cho người dân và doanh nghiệp.

- Công tác thi đua khen thưởng đượcchú trọng, chất lượng có được nâng lên; kết quả khen thưởng đối với cán bộ vànhân dân trong tỉnh: năm 2007, tỉnh được Chủ tịch Nước phong tặng Huân chương Độclập hạng Ba và năm 2010 được Chủ tịch nước phong tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì.

IV. Công tác quốc phòng - anninh

- Quốc phòng: tiếp tục quán triệt và triển khai thựchiện tốt nhiệm vụ “xây dựng tỉnh thành khu vực phòng thủ cơ bản liên hoàn, vữngchắc bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, khu vực phòng thủ quốc phòngđược củng cố, đã tổ chức các cuộc diễn tập vận hành cơ chế các cấp đạt yêu cầuđề ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối; công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng đượcquan tâm thực hiện đạt kết quả tốt, đã cử 69 lãnh đạo các sở, ngành và địaphương bồi dưỡng ở Quân khu, 3.245 cán bộ công chức được bồi dưỡng kiến thứcquốc phòng tại địa phương, đào tạo 139 xã, phường đội trưởng; hoàn thành tốtchỉ tiêu giao quân hàng năm bảo đảm chất lượng, đạt 100% chỉ tiêu, giao 2.230quân; thực hiện tốt hơn việc phát triển kinh tế xã hội gắn với quốc phòng trongviệc triển khai các dự án đầu tư có quy mô lớn trên địa bàn.

- Anninh trật tự: công tác an ninh đã bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các hoạt độngchính trị, các ngày lễ lớn tại địa phương, nhiều mô hình tự quản về an ninhtrật tự được nhân rộng, duy trì đối thoại trực tiếp với nhân dân; tập trungtriển khai các đợt cao điểm trấn áp tội phạm, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảovệ an ninh tổ quốc, công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự có chuyển biếntích cực, công tác cải cách hành chính trong các lĩnh vực đăng ký hộ khẩu,chứng minh nhân dân, cấp biển số xe trong ngày thực hiện tốt, được nhân dânđồng tình.

- Công tác biên phòng: công tác bảo đảm an ninh nôngthôn vùng ven biển và an toàn trên biển được thực hiện tốt, duy trì và thựchiện tốt công tác hợp đồng bảo vệ vùng giáp ranh với Biên phòng các tỉnh; côngtác tuần tra trên biển được thực hiện thường xuyên, lực lượng biên phòng tổchức 1.354 lượt tuần tra, kiểm tra 72.186 lượt phương tiện, phát hiện và xử lý245 vụ vi phạm, giữ vững an ninh trên biển, bảo đảm an toàn cho tàu thuyền hoạtđộng khai thác hải sản.

- Công tác bảo đảm an toàn giao thông được chỉ đạoquyết liệt bằng nhiều giải pháp đồng bộ, ý thức người dân có được nâng lên, mộtsố điểm đen trên các tuyến giao thông được khắc phục, công tác kiểm định antoàn phương tiện được tăng cường, nhằm góp phần từng bước hạn chế tai nạn giaothông.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG

I. Một số kết quả đạt được

Qua 5 năm tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinhtế-xã hội 2006 - 2010, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển khá vàđạt nhiều kết quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm đãhoàn thành và vượt mục tiêu đề ra, năng lực sản xuất các ngành tăng khá, thungân sách vượt chỉ tiêu đề ra; tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, nhất là tiềmnăng và lợi thế mới về kinh tế biển được nhận diện và đánh giá đúng mức, vị thếcủa tỉnh bước đầu được nâng lên; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiệnrõ rệt, thu hút vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, huy động được nhiều nguồn vốncho đầu tư phát triển, nhiều dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, côngnghiệp và du lịch đã và đang triển khai, những kết quả đạt được này sẽ là tiềnđề cơ bản cho phát triển kinh tế nhanh, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với cáctỉnh trong khu vực và cả nước trong thời gian tới.

Trong lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, hầuhết các chỉ tiêu về xã hội đều đạt và vượt kế hoạch, công tác cải cách hànhchính có chuyển biến rõ nét, chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, côngtác phòng chống dịch có hiệu quả, chất lượng khám và điều trị bệnh cho nhân dânđược tốt hơn, các chính sách chăm sóc y tế cho người nghèo được thực hiện đầyđủ, vấn đề an sinh xã hội được quan tâm đúng mức, đời sống nhân dân vùng nôngthôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc được cải thiện đáng kể; công tác phòngchống lũ lụt, thiên tai, dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh lớnxảy ra, công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo quyết liệt,nhiều vụ việc vi phạm được phát hiện và xử lý kịp thời; quốc phòng, an ninhđược giữ vững, trật tự xã hội được bảo đảm, góp phần tạo thuận lợi cho pháttriển kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 được tăng cao hơn.

II. Những tồn tại, hạn chế

1. Về kinh tế: nền kinh tế tăng trưởng chưa ổn định, nhiều chỉ tiêuquan trọng không đạt mục tiêu đề ra; chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranhnền kinh tế còn thấp, thể hiện cơ cấu kinh tế lạc hậu, cơ cấu nông nghiệp cònchiếm tỷ trọng cao, GDP bình quân đầu người bằng 52% mức bình quân chung của cảnước; tiềm năng thế mạnh mới, tuy được phát hiện, nhưng chậm được khai thác,các dự án đầu tư quy mô lớn chậm triển khai hoặc không triển khai, năng lực sảnxuất mới tăng chậm, nhất là các ngành công nghiệp, du lịch; xuất khẩu chậm pháttriển; hạ tầng cơ sở vừa yếu vừa thiếu, chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứngyêu cầu phát triển; đầu tư bằng ngân sách Nhà nước có một số dự án đầu tư khôngđồng bộ, kéo dài nên phát huy hiệu quả thấp.

2. Lĩnh vực xã hội: tuy có phát triển nhưng một số vấnđề bức xúc chưa được giải quyết tốt; chất lượng giáo dục - đào tạo còn có sựchênh lệch khá lớn giữa các vùng miền; khoa học và công nghệ vẫn chưa thể hiệnđầy đủ vai trò nền tảng, động lực trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá;chất lượng xoá đói giảm nghèo ch­ưa vững chắc, tình trạng tái nghèo còn cao,đời sống nhân dân đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khókhăn. Về y tế, nổi lên là nguồn nhân lực ngành y tế ngày càng thiếu, nhất làcác tuyến cơ sở và chưa được thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ chuyên mônphù hợp với đầu tư trang thiết bị hiện đại; quản lý Nhà nước ở địa phương, cơsở trên một số lĩnh vực còn nhiều hạn chế, nhất là quản lý tài nguyên khoángsản, quản lý và bảo vệ rừng, đất đai; an ninh trật tự và tệ nạn xã hội ở một sốnơi còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông chưa được kiềm chế có hiệu quả.

III. Nguyên nhân

1. Nguyên nhân đạt được:

a)Về khách quan: trước hết là sự tác động tích cực của làn sóng đầu tư nước ngoàisau khi Việt Nam gia nhập WTO; sự hỗ trợ kịp thời có hiệu quả của Chính phủ vàcác Bộ ngành trung ương, đã có nhiều chương trình, dự án lớn được triển khaitrên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương; cộng với tình hình thời tiết 04 năm đầu tương đối thuận lợi.

b) Về chủ quan là: các mục tiêu,nhiệm vụ và hệ thống các giải pháp được đặt ra trong kế hoạch 5 năm và các kếhoạch hàng năm là phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,chủ trương, chính sách của Nhà nước. Quá trình thực hiện có đánh giá giữa kỳ đểxác định những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế, đồng thời xác địnhnhững thuận lợi mới, những khó khăn thách thức mới phát sinh, để tập trung cácgiải pháp đạt mục tiêu cao hơn; quá trình chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạchvừa bám sát Nghị quyết của Tỉnh ủy, của Hội đồng nhân dân tỉnh, vừa tập trungchỉ đạo linh hoạt, hiệu quả, sâu sát, quyết liệt, có trọng tâm trọng điểm; kếtquả đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội trong những năm qua đã từng bước phát huyhiệu quả; công tác cải cách thủ tục hành chính, nhất là trong lĩnh vực đầu tưcó nhiều chuyển biến; cùng với các chính sách mới của tỉnh đã tạo môi trườngđầu tư - kinh doanh thông thoáng hơn, thu hút được các thành phần kinh tế thamgia đầu tư sản xuất - kinh doanh; bộ máy chính quyền và các cơ quan quản lý Nhànước được kiện toàn, ý thức trách nhiệm có được nâng lên, cùng với sự phấnkhởi, nổ lực, phấn đấu vươn lên của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

2. Nguyên nhân những hạn chế, tồn tại:

a) Nguyên nhân khách quan: trước hết sự tác động củatình hình lạm phát tăng cao năm 2008 và khủng hoảng tài chính toàn cầu và suythoái kinh tế thế giới năm 2009; đối với tỉnh còn do xuất phát từ khó khăn vốncó của nền kinh tế, quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp; khí hậu thời tiếtkhắc nghiệt, nhất là cơn lũ lịch sử vào đầu tháng 11/2010 đã gây thiệt hại nặngnề cho sản xuất và đời sống nhân dân; chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịpvới yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

b) Nguyên nhân chủ quan: việc chỉ đạo triển khai vàcụ thể hoá các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thểở một số ngành và địa phương chưa kịp thời, chậm sơ tổng kết rút kinh nghiệm;năng lực tổ chức thực hiện ở một số ngành và địa phương chưa tốt, còn lúngtúng, thiếu chủ động; tinh thần trách nhiệm một bộ phận cán bộ, công chức trongthực thi công vụ chưa cao; công tác phối hợp một số ngành và địa phương cótrường hợp chưa kịp thời, thiếu đồng bộ, nhất là trong công tác đền bù giảiphóng mặt bằng; việc tổ chức triển khai một số chính sách mới của Chính phủ cònchậm; sự mất cân đối về các nguồn lực chưa được giải quyết tốt, năng lực dựbáo, phân tích còn hạn chế, chưa lường hết những khó khăn khách quan tác độngđến quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Phần thứ hai

KẾHOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2011 - 2015

A. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓKHĂN

1. Tình hình thế giới: theo nhiều dự báo thì tình hình kinh tếthế giới sẽ tiếp tục được phục hồi, nhờ tiềm năng tăng trưởng mạnh của các thịtrường đang nổi, nhu cầu tiêu dùng và đầu tư tiếp tục tăng nhanh ở các thịtrường này. Tuy nhiên trong một hai năm đầu của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, nềnkinh tế thế giới phục hồi còn chậm; những khó khăn mang tính toàn cầu như anninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nước sạch và thiên tai, dịch bệnh,biến đổi khí hậu ngày càng có nguy cơ gây gắt hơn trong giai đoạn tới.

2. Tình hình trong nước: kinh nghiệm trong đổi mới vàhội nhập quốc tế cùng với ổn định chính trị sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hútcác nguồn vốn ODA, FDI; các chính sách kiềm chế lạm phát, kích thích kinh tếđược thực hiện có hiệu quả, sẽ tạo động lực phát triển cho những năm tới. Tuynhiên trong kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, nước ta thoát khỏi các nước nghèo nênkhả năng thu hút ODA sẽ khó khăn hơn và là giai đoạn thực hiện đầy đủ các camkết WTO sẽ tạo thách thức lớn đốivới các doanh nghiệp.

3. Tình hình trong tỉnh: những chủ trương, định hướnglớn về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đang triển khai sẽ tạo hướng đimới, khác biệt, có tính cạnh tranh cao; cùng với vị thế của tỉnh được nâng lênvà các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm triển khai sẽ tạo động lực thúcđẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhanh và bền vững. Tuy nhiên quy mô vàsức cạnh tranh nền kinh tế thấp, nguồn lực có hạn, cơ sở hạ tầng kinh tế - xãhội còn khó khăn, chất lượng nguồn nhân lực thấp là những khó khăn, thách thứctrong thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong 5năm tới.

B. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA KẾ HOẠCH 5 NĂM 2011 -2015

I. Mục tiêu tổng quát: phát triển kinh tế - xã hội đạt tốcđộ tăng trưởng nhanh và bền vững theo mô hình kinh tế “xanh, sạch”, tập trungnâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, xây dựngmôi trường sống tốt; từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, pháttriển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế; chuyểndịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ, gắn với giải quyếtcác vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cảithiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trịvà trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh.

II. Các chỉ tiêu chủ yếu

1. Về kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 16 - 18%/năm; trong đógiá trị gia tăng các ngành: công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 30 - 31%/năm;nông - lâm - thủy sản tăng bình quân 5 - 6%/năm; các ngành dịch vụ tăng bìnhquân 15 - 16%/năm.

- GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt trên 25 triệuđồng/người (tương đương 1.400 USD), gấp 2,2 lần so với năm 2010, bằng 70% mứcbình quân của cả nước.

- Giá trị sản xuất các ngành: công nghiệp - xây dựng tăng36-37%/năm; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6-7%/năm; các ngành dịch vụ tăng16-17%/năm.

- Cơ cấu kinh tế: công nghiệp - xây dựng chiếm 40%; nông,lâm, thủy sản chiếm 25%; dịch vụ chiếm 35% GDP vào năm 2015.

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đến năm 2015 đạt1.900 tỷ đồng (trong đó thu nội địa đạt trên 1.300 tỷ đồng, thu hải quan đạttrên 600 tỷ đồng), tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách năm 2015 tối thiểu là 11%.

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2015 là 180 triệuUSD, tăng bình quân 28 - 30%/năm.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thời kỳ 2011 - 2015khoảng 55 - 60 nghìn tỷ đồng.

2. Về xã hội: phấn đấu đến năm 2015, đạt các chỉ tiêu sau:

- Số lượng lao động được giải quyết việc làm mới từ70 nghìn đến 75 nghìn người, bình quân hàng năm giải quyết việc làm mới cho 15nghìn lao động.

- Tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,15%/năm, quy mô dânsố trung bình đến năm 2015 đạt 650 nghìn người.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm từ 1,2 -1,5% (theo chuẩn mới 2011 - 2005).

- Đạt tỷ lệ 7 bác sĩ/1 vạn dân và 60% trạm y tế xãphường có bác sĩ; 70% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệtrẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đến năm 2015 còn dưới 18%.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 đạt 50%,trong đó đào tạo nghề đạt 33%.

- Phấn đấu đến năm 2015, có 30% số trường đạt chuẩn quốcgia; 50% số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày; 10% số trường mầm non đạtchuẩn quốc gia.

- Phấn đấu đến năm 2015 có 60% số xã, phường xây dựngđược trung tâm văn hoá - thông tin - thể thao; 65% số thôn, khu phố đạt chuẩnvề văn hoá.

3. Các chỉ tiêu về môi trường:

- Nâng độ che phủ rừng đạt trên 45%.

- Tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt95%; 80% số hộ nông thôn có hố xí hợp vệ sinh.

- Tỷ lệ thu gom rác thải đô thị đạt 90%.

4. Các chỉ tiêu về quốc phòng an ninh:

- Tỷ lệ số xã, phường đạt vững mạnh toàn diện về quốcphòng an ninh từ 50% trở lên.

- Tỷ lệ quân số dân quân, tự vệ đạt 1,5% dân số.

III. Nhiệm vụ chủ yếu: để đạt được các mục tiêu, các chỉtiêu chủ yếu nêu trên, trong giai đoạn 5 năm tới cần tập trung thực hiện cácnhiệm vụ trọng tâm, trước hết là thực hiện ba khâu đột phá lớn: (1) Tập trungnâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng,để khai thác tốt nhất nội lực và thu hút tối đa ngoại lực cho đầu tư pháttriển; (2) Cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng; (3) Phát triển nguồn nhân lực đểđáp ứng cho yêu cầu phát triển của tỉnh và hội nhập quốc tế trên cơ sở liên kếtvới các trường đại học, các trung tâm đào tạo có thương hiệu, có uy tín trongvà ngoài nước để thành lập và đưa vào hoạt động các cơ sở đào tạo nguồn nhânlực tại tỉnh; cụ thể:

1. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinhdoanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, phấn đấu đến năm 2015, nâng chỉ sốnăng lực cạnh tranh của tỉnh xếp vào nhóm các tỉnh đứng đầu trong cả nước.Trước hết là đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính một cách đồng bộ, cóhiệu quả; phát huy hiệu quả hoạt động của Văn phòng Phát triển kinh tế, thựchiện tốt nhất cơ chế một cửa liên thông trên lĩnh vực đầu tư, nhằm tạo thuậnlợi tối đa có thể cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư hoạt động sản xuất kinhdoanh và đầu tư; khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế phát triển.

2. Nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả nềnkinh tế, huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế và giảiquyết tốt các vấn đề xã hội; phối hợp tốt nhất trong triển khai các dự án đầutư trọng điểm quốc gia trên địa bàn, tập trung triển khai các dự án, công trìnhcó quy mô lớn của địa phương để tạo động lực phát triển nhanh và bền vững kinhtế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2015 và các năm tiếp theo.

3. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trong đótập trung đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển của tỉnh, trước hết là phát triển các ngành kinh tế trụ cột và hội nhậpquốc tế.

4. Đẩy mạnh phát triển và chuyển giao công nghệ, nhấtlà công nghệ ứng dụng vào sản xuất, công nghệ sinh học trong nông nghiệp vàcông nghiệp sạch; chú trọng liên kết hợp tác để chuyển giao công nghệ mới;trọng tâm là triển khai có hiệu quả dự án nâng cao năng suất và chất lượng sảnphẩm, hàng hoá của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại địa phương; thực hiện tốtchương trình hỗ trợ doanh nghiệp về khoa học và công nghiệp và chương trình sửdụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; đẩy mạnh hoạt động sản xuất sạch hơntrong công nghiệp.

5. Hoàn thiện một bước hệ thống kết cấu hạ tầng, nhấtlà hạ tầng giao thông kết nối để khai thác tốt nhất lợi thế kinh tế vùng, phụcvụ cho phát triển địa phương như sân bay, cảng biển của các tỉnh trong vùng, màtrọng tâm là đầu tư hoàn thành tuyến đường ven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná dài116 km và nâng cấp, mở rộng tuyến Quốc lộ 1A đoạn từ sân bay quốc tế Cam Ranhđến thành phố Phan Rang - Tháp Chàm; chuẩn bị tốt các điều kiện để phục vụ khởicông xây dựng các nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh theo Quyết định của Chính phủvà Nghị quyết của Quốc hội.

6. Mở rộng hợp tác toàn diện với các tỉnh trong khuvực Nam Trung bộ và thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng và các tỉnh Tây nguyên; đẩymạnh các chương trình hợp tác với các tập đoàn kinh tế, các nhà đầu tư tiềmnăng trong và ngoài nước để khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh, nhất là lĩnhvực năng lượng, du lịch, công nghiệp...

7. Tập trung triển khai đầy đủ, kịp thời các chủtrương, chính sách an sinh xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc;khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai, tăng cường công tác bảo vệcải thiện môi trường; chủ động phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó cóhiệu quả với biến đổi khí hậu.

8. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý Nhà nước trêntất cả các lĩnh vực; thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng,thực hiện tốt công tác tiếp công dân; bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự antoàn xã hội.

C. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH VÀ LĨNH VỰC CHỦ YẾU

I. Lĩnhvực kinh tế: phát triển kinh tế đạt tốc tăng trưởngnhanh và bền vững, với những bước đi riêng, khác biệt, có tính cạnh tranh cao,nhằm khai thác tốt nhất lợi thế kinh tế của vùng và tiềm năng, thế mạnh củatỉnh, nhất là các nhóm ngành trụ cột, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển xãhội và bảo vệ môi trường.

1. Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp:

a) Sản xuất nông, lâm nghiệp:

Mục tiêu: Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng caochất lượng tăng trưởng, sản xuất sạch để phát triển bền vững; chuyển dịch mạnhcơ cấu nội bộ ngành để nâng cao hiệu quả, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệpchế biến và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; phát triển mạnh các cây trồngcó giá trị kinh tế cao như cây cao su, cây neem và một số cây có lợi thế khác;phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với thực hiện các chính sách an sinh xãhội; phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 5 -6%/năm, chiếm cơ cấu 20 - 21% trên GDP toàn tỉnh; giá trị sản xuất đạt 55 - 60triệu đồng/ha, tỷ lệ chủ động tưới đạt 50%.

Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

- Trồng trọt: tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp vớiđiều kiện của từng vùng, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất đểnâng cao giá trị sản xuất /ha đất sản xuất; ổn định diện tích trồng lúa 17 - 18nghìn ha, trong đó diện tích sản xuất 2 - 3 vụ khoảng 11 - 12 nghìn ha, hìnhthành vùng sản xuất rau sạch, cây thực phẩm ở thành phố Phan Rang - Tháp Chàmvà huyện Ninh Phước để đáp ứng nhu cầu thực phẩm sạch cho các siêu thị, các khudu lịch; tập trung triển khai quy hoạch phát triển cây nho theo hướng đầu tưđồng bộ, trước hết là công tác giống, cải tạo giống mới, ứng dụng công nghệ sảnxuất nho sạch, phục vụ nhu cầu nho tươi và các sản phẩm chế biến nho, các giốngnho rượu gắn với chế biến rượu vang nho, để vừa tăng quy mô sản lượng, vừa tănghàm lượng giá trị cây nho, phấn đấu nâng tỷ trọng giá trị cây nho chiếm từ 24 -25% giá trị của ngành trồng trọt, đưa quy mô diện tích trồng nho lên khoảng2.000 ha vào năm 2015.

+ Mở rộng quy mô sản xuất cácloại cây công nghiệp ngắn ngày, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến,nâng cao chất lượng và tăng năng suất cây trồng gắn với thị trường; tậptrung vào một số cây trồng chính như: mía khoảng 3.000 ha cung cấp nguyên liệucho nhà máy đường của địa phương ở các vùng chủ động nước thuộc hệ thống thủylợi Tân Mỹ, sông Trâu, sông Sắt và Tân Giang; quy hoạch vùng sản xuất mì tậptrung ổn định diện tích 2.500 ha trên địa bàn các huyện Ninh Sơn, Bác Ái cungcấp nguyên liệu cho nhà máy tinh bột mỳ, phát triển cây thuốc lá bảo đảm chấtlượng cho xuất khẩu ở các xã Phước Sơn, Phước Vinh (Ninh Phước), Nhơn Sơn, MỹSơn, Hoà Sơn (Ninh Sơn) và Phước Đại, Phước Tân, Phước Tiến và Phước Trung (BácÁi) với diện tích khoảng 2.500 ha.

+ Phát triển cây công nghiệp dài ngày gắn với quyhoạch phủ xanh rừng, tăng độ che phủ và bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến, phát triển theo hướng mở rộng diện tích, tập trung phát triển các loạicây chủ lực phù hợp điều kiện của từng vùng, chủ yếu là ở địa bàn các huyệnNinh Sơn, Bác Ái, Ninh Phước với các loại cây neem khoảng 5.000 - 6.000 ha; cây điều khoảng6.000 ha đáp ứng khoảng 50% nhu cầu nhà máy chế biến trong tỉnh, cây jatrophakhoảng 3.000 - 5.000 ha, nghiên cứu điều tra phát triển cây cao su theo hướngđại điền ở diện tích rừng nghèo kiệt khoảng 11 - 12 nghìn ha ở vùng tiếp giápvới cao nguyên Lâm Đồng thuộc địa bàn các huyện Bác Ái, Ninh Sơn. Phát triểncây táo khoảng 1.000 ha, sản lượng 25 nghìn tấn vào năm 2015.

+ Tập trung đầu tư chương trình thủy lợi trọng điểmđể tăng năng lực tưới cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, bảo đảm cung cấpnước cho các khu công nghiệp, các khu du lịch và 02 nhà máy điện hạt nhân, cungcấp nước sinh hoạt cho nhân dân; triển khai đầu tư hoàn thành đồng bộ một số hồđập gắn với đầu tư hệ thống kênh mương để phát huy cao nhất hiệu quả cáchồ chứa: Lanh Ra, Bà Râu, Kiền Kiền, Ô Căm, Tân Giang II, Sông Than và hệ thốngthủy lợi Tân Mỹ; triển khai đầu tư đập hạ lưu Sông Dinh, hồ sinh thái Đa Mây; đầutư các tuyến giao thông huyết mạch đến các vùng nguyên liệu trọng điểm của tỉnhvà hệ thống các tuyến đường giao thông nông thôn, miền núi.

+ Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp đặcthù, trước hết là nho và các sản phẩm chế biến từ nho, tỏi, dê, cừu, ... theohướng phát triển các sản phẩm sạch, đạt chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm.

+ Tăng cường công tác thông tin về thị trường giá cảnông sản cho nông dân.

- Chăn nuôi: phát triển chăn nuôi toàn diện, đồng bộ gắn với thịtrường theo hướng bền vững, trọng tâm là phát triển và nâng cao chất lượng đànbò, phát triển theo hướng tăng trọng thông qua mô hình chăn nuôi trang trại tậptrung và hộ gia đình, thâm canh, vổ béo, ổn định quy mô tổng đàn khoảng 120 -130 nghìn con, tỷ lệ sind hoá đạt 38% vào năm 2015; phát triển đàn dê, cừu theohướng chăn nuôi quy mô lớn, trong đó tập trung tạo giống đàn cừu đáp ứng tiêuchuẩn quy mô khoảng 120 nghìn con, phát triển tổng đàn dê khoảng 80 nghìn con,gắn với quy hoạch phát triển đồng cỏ, thị trường tiêu thụ, chế biến, dịch vụthú y, công tác phòng chống dịch bệnh, đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho nhàmáy chế biến thịt gia súc.

- Dịch vụ nông nghiệp: mở rộng mạng lưới dịch vụ nông nghiệpgắn với hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến cơ sở, phát triển các loại hình dịchvụ về giống, chuyển giao công nghệ ứng dụng vào sản xuất, cung ứng vật tư nôngnghiệp, dịch vụ trong khâu làm đất, thu hoạch...phấn đấu đạt giá trị ngành dịchvụ chiếm khoảng 11 - 12% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp.

- Lâm nghiệp: phát triển lâm nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng độ chephủ rừng một cách hợp lý bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững, định hướngphát triển đồng bộ từ trồng, chăm sóc bảo vệ, quản lý và khai thác phát triểnkinh tế từ rừng, trọng tâm là chăm sóc và bảo vệ rừng, tất cả diện tích rừngđều có chủ theo phương châm xã hội cùng chăm lo bảo vệ rừng, phấn đấu đến năm2015, nâng độ che phủ rừng đạt 45%; tập trung bảo vệ rừng ở những vùng trọngđiểm, các khu bảo tồn và các Vườn quốc gia Núi Chúa và Phước Bình, giữ độ chephủ rừng Bác Ái, nâng độ che phủ rừng Ninh Hải, Thuận Bắc, Ninh Phước và NinhSơn, trồng mới 800 - 1000 ha rừng theo quy hoạch và chăm sóc rừng 50 nghìnha/năm.

b) Thủy sản:

Mục tiêu: phát triển ngành thủy sản theo hướng phát triển bềnvững, khai thác tiềm năng lợi thế về kinh tế biển, phát triển đồng bộ cả khaithác, nuôi trồng, chế biến và phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá, lấy chế biếnlàm động lực để nâng cao hiệu quả ngành thủy sản, phát triển nuôi trồng thủysản bền vững là nhiệm vụ trọng tâm gắn với phát triển du lịch và công nghiệpven biển và bảo vệ môi trường, tài nguyên biển.

Phấn đấu tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 7 -8%/năm, trong đó ngành khai thác tăng 2 - 2,2%/năm, nuôi trồng tăng bình quân20 - 25%/năm và dịch vụ sản xuất giống tăng 10%/năm; ổn định sản lượng khaithác thủy sản khoảng 60.000 - 62.000 tấn/năm, giải quyết việc làm cho khoảng40.000 lao động; sản lượng giống thủy sản đạt 14 tỷ con giống/năm; giá trị xuấtkhẩu thủy sản đạt 100 triệu USD.

Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

- Khai thác thủy sản: mở rộng ngư trường khai thác xabờ kết hợp bảo vệ quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền trên biển, hiện đại hoáthiết bị nghề cá, chuyển đổi thuyền nghề khai thác sản phẩm có giá trị kinh tếcao, phát triển cơ sở hạ tầng nghề cá đồng bộ theo hướng xây dựng Ninh Thuậntrở thành trung tâm dịch vụ hầu cần nghề cá của khu vực, đầu tư các cảng cáĐông Hải, Ninh Chữ, Cà Ná, đầu tư mới bến cá Mỹ Tân, Sơn Hải theo hướng đa mụctiêu, vừa là nơi trú tránh bão cho tàu thuyền có công suất lớn từ 500 - 1.000CV vừa phát triển hệ thống kho lạnh bảo quản và các cơ sở đóng, sửa chữa tàuthuyền trên các cảng cá, bảo đảm cung cấp nguyên vật liệu cho tàu thuyền vàtiêu thụ sản phẩm cho ngư dân; đưa số lượng tàu cá đánh bắt xa bờ lên từ 500 -550 chiếc với năng lực 80.000CV, chiếm 20% số tàu cá (khoảng 2.800 chiếc) và47% về công suất.

- Phát triển nuôi trồng theo hướng bền vững gắn vớiphát triển du lịch, ổn định diện tích nuôi trên bờ, phát triển nuôi biển vànuôi nước ngọt, phát triển theo chiều sâu, ứng dụng công nghệ nuôi mới tạo sảnphẩm sạch, phát triển sản xuất đi đôi với bảo vệ tốt môi trường và bảo đảm ansinh xã hội cho nhân dân vùng biển; định hướng nuôi trồng nước lợ ổn định diệntích từ 1.200 - 1.300 ha ở Đầm Nại, Phú Thọ, An Hải, Sơn Hải theo hướng nuôicông nghiệp, đến năm 2015 đạt sản lượng khoảng 10.000 tấn; phát triển nuôi nướcngọt tận dụng các hồ chứa theo hướng nuôi quảng canh để bảo vệ môi trường sinhthái vùng hồ và cung cấp thực phẩm tại chỗ; phát triển nuôi biển theo phươngthức nuôi lồng, bè vươn ra biển.

- Phát huy lợi thế sản xuất giống, mục tiêu là xâydựng Ninh Thuận thành trung tâm sản xuất giống chất lượng cao của cả nước theohướng khép kín từ khâu giống bố mẹ đến khâu nuôi, áp dụng quy trình sản xuấtsản phẩm sạch, đa đối tượng nuôi theo hướng thị trường, bảo đảm yêu cầu nguyênliệu phục vụ công nghiệp chế biến; phấn đấu đến năm 2015, sản lượng giống thủysản đạt khoảng 14 tỷ con giống.

2. Công nghiệp và xây dựng:

a) Về công nghiệp:

Mục tiêu chung: phát triển công nghiệp sạch, tạo tăngtrưởng cao đối với các ngành công nghiệp tỉnh có lợi thế để chuyển dịch nhanhcơ cấu kinh tế, trọng tâm là phát triển công nghiệp chế biến nông lâm, thủysản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm và đồ uống, năng lượng táitạo, điện hạt nhân, thủy điện tích năng, sản xuất muối công nghiệp và hoá chấtsau muối; từng bước hình thành và phát triển một số sản phẩm chủ lực có khảnăng cạnh tranh cao, phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 26 -27%/năm.

Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

- Công nghiệp năng lượng: mục tiêu là xây dựng NinhThuận trở thành trung tâm năng lượng sạch, mà trọng tâm là 2 nhà máy điện hạtnhân do nguồn lực trung ương đầu tư, cần tăng huy động các nguồn lực FDI để đẩymạnh phát triển năng lượng tái tạo, theo quy hoạch hiện có 14 vùng có tiềm nănggió với quy mô 1.500-2.000 MW, trong đó giai đoạn 2011 - 2015, ưu tiên pháttriển các nhà máy điện gió trên địa bàn 2 huyện Ninh Phước và Thuận Bắc, phấnđấu đến năm 2015 phát triển điện gió khoảng trên 200 MW theo quy hoạch; triểnkhai dự án đầu tư thủy điện tích năng với tổng công suất 1.200 MW tại huyện BácÁi, kêu gọi các thành phần kinh tế kể cả FDI đầu tư các dự án điện mặt trời.

- Phát triển ngành công nghiệp chế biến có lợi thếcủa tỉnh theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển công nghiệp sạch, thânthiện môi trường và tiết kiệm năng lượng:

+ Trước hết, phát triển mạnh sản xuất muối côngnghiệp và hoá chất sau muối, tập trung vùng trọng điểm sản xuất muối côngnghiệp ở 2 huyện Thuận Nam, Ninh Hải với quy mô sản xuất lớn nhất cả nước trên5.000 ha, sản lượng hàng năm 450 - 500 nghìn tấn, phát triển các sản phẩm hoáchất sau muối như oxit magie, xút, soda; xây dựng một số nhà máy sản xuất muốitinh tại các đồng muối và nhà máy chế biến muối i-ốt đáp ứng nhu cầu muối thựcphẩm trong nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất muối sạch, muốitinh hướng đến xuất khẩu, khuyến khích đầu tư cơ giới hoá khâu thu hoạch, ápdụng công nghệ che phủ bạt khu kết tinh muối; quan tâm đầu tư hạ tầng sản xuấtvà hạ tầng xã hội cho nhân dân vùng sản xuất muối để ổn định đời sống nhân dân.

+ Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy hảisản theo hướng nâng cao hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, là động lực để pháttriển nông nghiệp và công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấulao động trong nông thôn và giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội; địnhhướng phát triển các nhà máy công nghiệp quy mô nhỏ và vừa phù hợp với điềukiện việc phát triển vùng nguyên liệu trong tỉnh và một số tỉnh lân cận, chếbiến phải gắn với thị trường trong nước và hướng đến xuất khẩu; tập trung pháttriển một số sản phẩm chủ lực của tỉnh theo hướng đổi mới công nghệ nâng caochất lượng và tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao và mở rộng quy môsản phẩm phù hợp như sản phẩm đường và sản phẩm sau đường đạt 11 - 12 nghìntấn, tinh bột mỳ 7 - 8 nghìn tấn, nhân hạt điều và sản phẩm sau điều đạt 12 -13 nghìn tấn.

Phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến thực phẩmvới nguồn nguyên liệu chủ động và là những sản phẩm có lợi thế của địa phương,hình thành từ 01 đến 02 nhà máy chế biến tôm, sản lượng khoảng 10 nghìntấn/năm, nhà máy chế biến thịt gia súc, gia cầm với sản phẩm có lợi thế từngành chăn nuôi của địa phương như dê, cừu; phát triển nhà máy sản xuất rượunho gắn với việc hình thành các khu du lịch sinh thái; nhà máy sản xuất bia quymô 50 triệu lít/năm.

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp khai thác và chếbiến khoáng sản của tỉnh theo quy hoạch, trước hết quy hoạch và khai tháckhoáng sản titan gắn với chế biến và bảo đảm môi trường sinh thái; triển khaiđầu tư xây dựng nhà máy chế biến sâu titan quy mô công suất 60 nghìn tấnxỉ/năm, chế biến các sản phẩm đá granit phát triển thành sản phẩm vật liệu caocấp Ninh Thuận với quy mô trên 1 triệu m2/năm, cung cấp cho thịtruờng xây dựng cao cấp trong nước và hướng đến xuất khẩu; phát huy lợi thế vềsản xuất vật liệu xây dựng những sản phẩm quy mô lớn như gạch tuynen quy môtrên 150 triệu viên, sản xuất ximăng 750 nghìn tấn/năm.

- Phát triển khai thác nước khoáng theo hướng đa mụctiêu, gắn với việc khai thác chế biến nước khoáng với phát triển du lịch nghỉdưỡng, tắm nước khoáng nóng, tắm bùn, ... giai đoạn 2011 - 2015, mở rộng vànâng công suất khai thác nước khoáng Ninh Sơn; thăm dò và lập dự án khai thác,thu hút các doanh nghiệp phát triển sản xuất nước khoáng ở Nhị Hà đạt công suất2 triệu lít /năm

- Từng bước phát triển các ngành công nghiệp phụ trợphục vụ cho sản xuất công nghiệp như lắp ráp, gia công cơ khí, sản xuất cáclinh kiện cơ khí phục vụ cho các nhà máy sản xuất điện.

- Tập trung phát triển các làng nghề tiểu thủ côngnghiệp gắn với phát triển du lịch, góp phần bảo tồn nền văn hoá các dân tộc;triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển làng nghề, tiểu thủ côngnghiệp đến năm 2012 và các năm tiếp theo; duy trì và phát triển các ngành nghề tiểuthủ công nghiệp và các ngành nghề truyền thống của tỉnh có lợi thế và sản phẩmcó quy mô lớn, lựa chọn một số ngành nghề có hiệu quả như chế biến nước mắm vớiquy mô khoảng 10 triệu lít/năm, chế biến nội tiêu (cá khô hấp), khôi phục vàphát triển các làng nghề truyền thống của tỉnh gắn với việc quy hoạch xây dựngcác cụm ngành nghề nông thôn để sản xuất tập trung và có điều kiện để mở rộngquy mô sản xuất, bảo đảm điều kiện môi trường, trong đó các làng nghề chế biếnthủy sản ở Cà Ná, Mỹ Tân, Đông Hải, làng gốm Bàu Trúc ở Phước Dân; dệt thổ cẩmChăm ở Chung Mỹ, Mỹ Nghiệp; tranh thêu, tranh ghép gỗ, sản phẩm từ mây tre ởNinh Sơn và hàng thủ công mỹ nghệ khác.

- Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hoàn thành cơ sở hạ tầngcủa 2 Khu công nghiệp Du Long và Phước Nam, thu hút nhà đầu tư thứ cấp lấp đầygiai đoạn 1 của 2 Khu công nghiệp Du Long và Phước Nam, hoàn thành cơ bản cơ sởhạ tầng khoảng 30% Khu công nghiệp Cà Ná; tiếp tục thu hút các dự án đầu tư tạotăng trưởng ngay trong giai đoạn 2011 - 2015 và các năm tiếp theo; lắp đầy 2Cụm công nghiệp Thành Hải (kể cả phần mở rộng) và Tháp Chàm; quy hoạch và đầutư ở mỗi huyện có 1 - 2 cụm công nghiệp với quy mô khoảng 30 - 50 ha để thựchiện chủ trương công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn gắn với tiêu thụ sảnphẩm nông sản cho nông dân, ưu tiên thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm côngnghiệp Tri Hải (huyện Ninh Hải), Quảng Sơn (huyện Ninh Sơn), Suối Đá (huyệnThuận Bắc).

b) Xây dựng, kinh doanh bất động sản và phát triểncác khu đô thị mới theo hướng hiện đại:

Mục tiêu chung: phát triển ngành xây dựng và kinh doanh bất độngsản theo nguyên tắc chủ đạo là bảo đảm xây dựng một môi trường sống tốt, pháttriển theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, phát triển hệ thống giaothông liên vùng thuận tiện có tính kết nối cao và xây dựng một thị trường bấtđộng sản có giá cả hợp lý, có sự khác biệt và có sức cạnh tranh cao.

- Định hướng phát triển ngành xây dựng theo hướng:

+ Hình thành và phát triển các doanh nghiệp hoạt độngxây dựng có năng lực về tài chính và năng lực về kỹ thuật để triển khai cáccông trình dự án có quy mô lớn, yêu cầu về trình độ kỹ thuật phức tạp, và cóđiều kiện phát triển mạnh khi triển khai xây dựng 02 nhà máy điện hạt nhân, tạobức phá phát triển ngành xây dựng trong giai đoan tới.

+ Phát triển mạnh nguồn nguyên vật liệu xây dựng nhưxi măng đạt sản lượng 750 nghìn tấn/năm vào năm 2015, cát, đá xây dựng, ...đồng thời phát triển mạnh các ngành dịch vụ xây dựng như dịch vụ tư vấn thiếtkế kiến trúc, dịch vụ tư vấn xây dựng công trình.

- Kinh doanh bất động sản: từng bước hình thành vàphát triển thị trường bất động sản bao gồm dịch vụ môi giới, cho thuê bất độngsản, phát triển thị trường trung gian cung cấp các dịch vụ mua bán bất động sảnđã qua sử dụng và phát triển dịch vụ sửa chữa bảo dưỡng các công xây dựng,chống xuống cấp; phát triển mạnh thị trường nhà ở cho thuê, các khu văn phòngcao cấp.

- Phát triển đô thị:

+ Đẩy mạnh công tác quy hoạch đô thị một cách đồng bộvà có chất lượng cao, phấn đấu đến năm 2015, trên địa bàn thành phố Phan Rang -Tháp Chàm, các thị trấn, thị tứ đều có quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ1/2000; 100% xã trên địa bàn huyện đều có quy hoạch nông thôn mới.

+ Từng bước hình thành và phát triển các khu đô thị mới; đẩynhanh tiến độ đầu tư hoàn thành khu đô thị K1, thu hút đầu tư khu dân cư ĐôngVăn Sơn - Bắc Bình Sơn, khu đô thị Đầm Nại, và kêu gọi đầu tư phát triển một sốkhu dân cư cao cấp, quy mô diện tích từ 4 - 6 ha/khu, với khoảng 1.500 - 2.000căn hộ đáp ứng nhu cầu nhà ở cao cấp cho các chuyên gia nước ngoài, văn phòngcao cấp cho thuê và nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập cao, các doanh nhân đếnsinh sống và làm ăn tại tỉnh.

3. Các ngành dịch vụ là lĩnh vực còn nhiều tiềm nănglớn, phát triển toàn diện cả về quy mô và nâng cao chất lượng để tạo giá trịgia tăng cao; phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 16 -17%/năm, chiếm tỷ trọng 35% GDP vào năm 2015.

a) Du lịch:

Mục tiêu: phát triển toàn diện để khai thác tiềmnăng và lợi thế du lịch của tỉnh, bao gồm: du lịch biển, du lịch sinh thái, dulịch văn hoá và dịch vụ phục vụ du lịch, từng bước hình thành khu du lịch trọngđiểm của cả nước, với nhiều loại hình du lịch độc đáo và chất lượng dịch vụ tốtnhất, sản phẩm du lịch đa dạng; phát triển du lịch gắn với phát triển các làngnghề truyền thống, du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng gắn với thưởng thứcrượu vang nho, spa nho. Phấn đấu đến năm 2015, thu hút khách du lịch tăng gấp 2- 2,5 lần so với năm 2010, đóng góp 5% GDP của tỉnh, xây dựng Ninh Thuận trởthành một trong những vùng trọng điểm du lịch quốc gia, nằm trong tam giác dulịch Nha Trang - Đà Lạt - Mũi Né; xây dựng thương hiệu dulịch Ninh Thuận, trọng điểm là khu du lịch Bình Tiên-VĩnhHy.

Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

- Đầu tư cải thiện về điều kiện hạ tầng giao thôngtạo kết nối cao giữa các khu du lịch với các trục quốc lộ, nhất là tuyến đườngven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná, kết nối các khu du lịch biển với cảng hàngkhông quốc tế Cam Ranh, đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịchtheo hướng chuyên nghiệp, tiến tới xây dựng du lịch Ninh Thuận trở thành mộtđiểm đến quan trọng trong mạng lưới du lịch của cả nước.

- Đa dạng hoá các loại hình du lịch, có chính sáchthu hút đầu tư và đẩy mạnh xúc tiến mời gọi các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có uytín, có thương hiệu trong và ngoài nước đầu tư một số loại hình du lịch tỉnh cólợi thế với quy mô lớn, có tính cạnh tranh cao như du lịch thuyền buồm cao cấp;xây dựng các cơ sở du lịch nghĩ dưỡng và thu hút loại hình spa cao cấp có thươnghiệu; phát triển loại hình du lịch trên không và dưới nước như kéo dù, bơi lộidưới nước ngắm rạng san hô, đua mô tô trên cát; hình thành các tour du lịchsinh thái và các khu du lịch nghĩ dưỡng cao cấp thân thiện với môi trường; dulịch văn hoá gắn với các khu di tích Chăm và các làng nghề truyền thống.

- Triển khai chương trình hợp tác du lịch với cáctỉnh, thành phố nhất là chương trình hợp tác các tỉnh Ninh Thuận - Bình Thuận -Lâm Đồng, Ninh Thuận - Khánh Hoà, Ninh Thuận - thành phố Hồ Chí Minh để khaithác lợi thế vùng phát triển du lịch của mỗi địa phương.

- Phát triển du lịch biển được xác định là trọng điểmcủa tỉnh, tập trung phát triển 5 khu du lịch biển gồm: Khu du lịch Bình Tiên,Bình Tiên - Vĩnh Hy, Bình Sơn - Ninh Chữ, Mũi Dinh, Cà Ná. Trong đó Khu du lịchtrọng điểm làm động lực là khu du lịch Bình Tiên - Vĩnh Hy, Bình Sơn - Ninh Chữđể xây dựng thương hiệu cho du lịch Ninh Thuận với một số khu du lịch và kháchsạn đạt tiêu chuẩn 4 - 5 sao, có thể tổ chức các hoạt động lớn như hội nghị, liênhoan, lễ hội cấp vùng và cả nước, trở thành điểm đến của du khách trong vàngoài nước. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành một số dự án du lịch trọng điểm đi vàohoạt động tạo năng lực mới như Khu du lịch Bình Tiên, Bãi Thùng, Nam Núi Chúa,dự án du lịch sinh thái spa gắn với chế biến rượu Nho ở Ninh Hải, du lịch ĐầmNại, phát triển loại hình du lịch mới đua thuyền vịnh Vĩnh Hy.

-Phát triển các khu du lịch sinh thái theo hướng là khai thác các tiềm năng, địathế địa hình đồi núi để hình hình và phát triển các cụm du lịch sinh thái gắnvới các tuyến du lịch kết hợp du lịch sinh thái, du lịch văn hoá và các điểm dulịch trọng điểm của tỉnh như: Cụm du lịch sinh thái Bác Ái - Ninh Sơn, gắn vớicác điểm du lịch hồ Sông Sắt, suối Thương, du lịch Sa Kai, suối Chapơr (PhướcTân - Bác Ái) lấy Khu du lịch suối nước nóng và nghỉ dưỡng Ninh Sơn làm trungtâm; cụm du lịch sinh thái - văn hoá Thuận Bắc gắn với các điểm du lịch sôngTrâu, khu du lịch Nghỉ dưỡng cao cấp và sân golf - Ma Trai, điểm du lịch suốiTiên - Bình Tiên và Tháp Hoà Lai, lấy khu du lịch Bình Tiên làm Trung tâm; Cụmdu lịch sinh thái Ninh Phước gắn với các điểm du lịch hồ Tân Giang, sinh tháiĐa Mây, nước khoáng Nhị Hà, các điểm văn hoá Tháp Pôrômê, và các làng nghềtruyền thống dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ, gốm Bàu Trúc, lấy khu du lịch CàNá làm trung tâm; cụm du lịch văn hoá Phan Rang - Tháp Chàm: gắn với các điểmdu lịch văn hoá tháp PôKlong - Garai, Trung tâm nghiên cứu văn hoá Chăm, cácđền chùa, cụm di tích chùa núi Đá Chồng, bảo tàng tỉnh và du lịch biển Bình Sơn- Ninh Chữ kết hợp với du lịch mua sắm các Trung tâm thương mại, siêu thị, lấyKhu du lịch Bình Sơn - Ninh Chữ làm trung tâm.

- Phát triển một số sân golf ở các khu du lịch trọngđiểm, trong đó giai đoạn đến năm 2015 gồm 2 sân golf là Bình Tiên và Ma Trai(Sông Trâu) đáp ứng nhu cầu của du khách, các chuyên gia và cán bộ làm việc cáckhu công nghiệp, công trình trọng điểm và các nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh.

- Hoàn thành khu du lịch cổng chào Bình Tiên để tạođiểm nhấn cửa ngõ phía Bắc của tỉnh; xây dựng khu thương mại phía Đông trungtâm hành chính huyện Thuận Bắc để từng bước hình thành thị trấn Lợi Hải.

b) Thương mại:

Mục tiêu: phát triển mạnh hệ thống thương mại để tạokết nối thông suốt giữa thành thị và nông thôn, hình thành các kênh bán buônđối với một số mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân,khuyến khích phát triển loại hình kinh doanh siêu thị theo hướng văn minh, hiệnđại; phát triển thương mại miền núi trên cơ sở hình thành một số chợ cụm xã,chợ nông thôn ở các vùng đông dân cư ở nông thôn, miền núi; phấn đấu tổng mứcbán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân khoảng 21 - 22%/năm, đếnnăm 2015 đạt doanh thu khoảng 17 nghìn tỷ đồng.

Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

- Phát triển ngành thương mại đểcung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, các hình thức thương mại hiện đại, mua bánphục vụ tận nơi, đáp ứng nhu cầu hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng của nhândân, mở rộng phạm vi và địa bàn hoạt động, hình thành một số trọng điểm thươngmại tỉnh, xây dựng thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là trung tâm thương mại -dịch vụ của tỉnh, phát triển chợ đầu mối ở khu đô thị, khu công nghiệp, mỗi thịtứ có 01 chợ quy mô loại II, chú trọng phát triển hệ thống thương mại vùng nôngthôn, miền núi; hình thành hệ thống phân phối lớn theo hướng hiện đại của cáctổng công ty, các nhà phân phối đa quốc gia trực tiếp tại tỉnh, cung cấp cácsản phẩm hàng hoá thiết yếu đáp ứng nhu cầu nhân dân.

- Rà soát, quy hoạch phát triển hệ thống chợ, trungtâm thương mại, siêu thị trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, trên cơ sở đó đẩy mạnhxã hội hoá trong đầu tư phát triển chợ, trước mắt tập trung kêu gọi đầu tư cáctrung tâm thương mại ở thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và thị trấn Khánh Hảiđáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân địa phương và khách du lịch, phát triểnmới một số siêu thị tổng hợp có quy mô phù hợp ở các khu, cụm công nghiệp, cáckhu du lịch phục vụ nhu cầu mua sắm của công nhân lao động trong các khu côngnghiệp và khách du lịch đến tỉnh; lồng ghép có hiệu quả các chương trình hỗ trợphát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi của Chính phủ và các dự án củacác nhà tài trợ, gắn với xây dựng nông thôn mới để phát triển hệ thống chợ nôngthôn, miền núi; có chính sách cụ thể khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừađầu tư phát triển thương mại miền núi.

c) Xuất, nhập khẩu: phát triển mạnh hoạt động xuất nhậpkhẩu gắn với hội nhập kinh tế, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnhxuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm qua chế biến vàchế tạo tại tỉnh, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân của hoạt động xuất khẩucả giai đoạn đạt 28 - 30%/năm, đạt giá trị 180 triệu USD vào năm 2015.

- Tập trung mở rộng quy mô sản xuất và xuất khẩu cácmặt hàng có lợi thế của tỉnh như xuất khẩu nông, thủy sản, may mặc, muối, vậtliệu xây dựng, khoáng sản, ưu tiên xây dựng và phát triển các mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực về chế biến nông sản, thủy sản, khoáng sản.

- Tích cực, chủ động mở rộng thị trường, tận dụng mọikhả năng để tăng mức xuất khẩu vào tất cả các thị trường đã có, trong đó tậptrung đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn nhưng hiện còn chiếmtỷ trọng thấp; đồng thời chủ động tìm kiếm, mở ra các thị trường mới.

- Đổi mới cách thức tổ chức các chương trình xúc tiếnthương mại theo hướng: chú trọng vào khâu tổ chức và cung cấp thông tin thịtrường, giảm bớt các chương trình khảo sát thị trường mang tính nhỏ lẻ, tậptrung xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm có kim ngạch nhập khẩulớn, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, một số nước EU, …

- Đẩy mạnh nhập khẩu một cách hơp lý hàng hoá vật tưphục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiêp và hàng tiêu dùng, nhập khẩu máy mócthiết bị cho các dự án đầu tư như năng lượng (điện gió, điện mặt trời, điện hạtnhân) và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

- Làm tốt các thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá tại Chicục Hải quan Ninh Thuận, tạo điều kiện để 100% hàng hoá xuất nhập khẩu liênquan đến tỉnh đều được thông quan tại tỉnh.

d) Dịch vụ vận tải: phát triển các loại hình dịch vụ vậntải bao gồm cả đường sắt, đường bộ và đường biển để khai thác tiềm năng, thếmạnh kinh tế biển, trọng tâm là phát triển vận tải biển;

- Phát triển dịch vụ cảng biển để vận chuyển sản phẩmcông nghiệp có quy mô lớn, trước mắt đầu tư nâng cấp cảng Ninh Chữ thành cảnghàng hoá với trọng tải tàu trên 10.000 tấn có thể cập cảng để phục vụ Khu côngnghiệp Du Long và cụm công nghiệp Tri Hải; triển khai quy hoạch xây dựng cảngbiển hàng hoá Dốc Hầm có công suất hàng hoá qua cảng là 15 triệu tấn/năm để tạothuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp có quy mô sản phẩm hàng hoá lớnvà nhập khẩu vật tư thiết bị cho các dự án đầu tư.

- Phát triển các cảng phục vụ du lịch Vĩnh Hy, BìnhTiên, Ninh Chữ để có thể đón các tàu du lịch trong nước, tiến tới phát triểndịch vụ phục vụ đón tàu du lịch có trên 500 khách.

- Phát triển loại hình vận chuyển bằng đường sắt,phối hợp với Lâm Đồng và các Bộ ngành Trung ương triển khai quy hoạch khôi phụctuyến đường sắt Đà Lạt - Tháp Chàm để triển khai đầu tư sau năm 2015, tạo thuậnlợi giao lưu hàng hoá với các tỉnh Tây nguyên và phát triển du lịch; nâng cấpGa Tháp Chàm theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu giao nhận, vận chuyển hànghoá và phục vụ khách du lịch.

- Xây dựng, nâng cấp hệ thống các bến xe, bãi đỗ, cácđiểm dừng đón và trả khách tập trung trên các tuyến đường Quốc lộ 1A, Quốc lộ27 và 27B, bảo đảm vận chuyển hàng hoá phục vụ các khu công nghiệp và khu dulịch. Từng bước tạo ra cơ cấu, phương thức vận tải đường bộ hợp lý, thỏa mãnnhu cầu vận chuyển nội tỉnh, liên tỉnh được thông suốt, thuận lợi, đáp ứng tốtnhất nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực.

e) Dịch vụ bưu chính - viễn thông: tiếp tục triển khai chiếnlược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đến năm 2020 của Chính phủ,để đáp ứng tốt yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của địa phương, góp phầnxây dựng môi trường sống tốt, trọng tâm là hiện đại hoá hạ tầng bưu chính -viễn thông có độ bao phủ rộng khắp với dung lượng lớn, hình thành một mạng lướithông tin có chất lượng cao, cung cấp đa dịch vụ và hoạt động có hiệu quả; chútrọng phát triển hạ tầng thông tin phục vụ công tác phòng chống thiên tai, quốcphòng - an ninh; nâng cao chất lượng hoạt động các điểm bưu điện văn hoá xã,nâng mật độ thuê bao điện thoại đạt 34 máy/100 dân, 6,4 thuê bao internet/100dân.

h) Dịch vụ tài chính, bảo hiểm:

- Phát triển và mở rộng mạng lưới hệ thống cung cấpdịch vụ tài chính rộng khắp đến các khu công nghiệp, khu du lịch, các khu đôthị và các khu dân cư mới và hội nhập kinh tế theo lộ trình cam kết WTO; pháttriển các loại hình dịch vụ mới cho thuê tài chính, kinh doanh bất động sản,điểm giao dịch thị trường chứng khoán của cả nước để từng bước hình thành thịtrường vốn.

- Mở rộng các loại hình dịch vụ bảo hiểm, tạo điềukiện cho các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và cá nhân tham gia loại hình dịchvụ bảo hiểm; phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm 16 - 18%/năm; nâng caotrách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước trong hoạt động kinh doanh bảo hiểmnhằm quản lý và giám sát, thực hiện nghiêm túc các điều luật kinh doanh bảohiểm của các công ty bảo hiểm và đảm bảo quyền lợi đầy đủ cho khách hàng.

g) Dịch vụ nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa họckỹ thuật: pháttriển dịch vụ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giáthành sản phẩm, trọng tâm là xây dựng mạng lưới dịch vụ trong nông nghiệp, củngcố mạng lưới từ tỉnh đến cơ sở và mở rộng các loại hình cung cấp dịch vụ côngcộng như y tế, giáo dục theo hướng xã hội hoá để nâng cao chất lượng dịch vụ.Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu của trung ươngđể chuyển giao kỹ thuật sản xuất mới đến người sản xuất.

4. Hoạt động kinh tế đối ngoại:

Chủ động trong hội nhập quốc tế, tăng cường quãng bátiềm năng, thế mạnh của tỉnh, xây dựng thương hiệu Ninh Thuận trong tương lai,hướng mạnh vào vận động, thu hút, kêu gọi đầu tư, trong đó nguồn vốn FDI đượcxác định là nguồn vốn hết sức quan trọng để triển khai các chương trình kinh tế- xã hội của tỉnh, tập trung vào các lĩnh vực năng lượng, du lịch biển, côngnghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, phấn đấu thu hút 700 - 750 triệu USD;chủ động trong vận động các nguồn vốn ODA để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật vềgiao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và nâng cao năng lực cho người dân, nhấtlà ở các vùng nghèo, phấn đấu đạt 250 - 300 triệu USD.

Mở rộng chương trình hợp tác với các tỉnh trong khuvực và các thành phố lớn trong cả nước, các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty,huy động lực lượng kiều bào Ninh Thuận định cư ở nước ngoài về đầu tư tại tỉnh.

5. Tài chính, ngân hàng:

a) Quản lý và sử dụng ngân sách: triển khai thực hiệncó hiệu quả các chính sách, pháp luật về thuế theo Chiến lược cải cách hệ thốngthuế giai đoạn 2011 - 2020 ban hành theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17 tháng5 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh cải cách hành chính về Thuế và Hảiquan, phấn đấu tăng thu hàng năm đạt trên 16,5%; đến năm 2015 tổng thu ngânsách đạt 1.900 tỷ đồng (trong đó thu nội địa đạt trên 1.300 tỷ đồng; thu Hảiquan đạt trên 600 tỷ đồng); triển khai xây dựng định mức chi thường xuyên giaiđoạn 2011 - 2015, thành lập một số Quỹ tài chính Nhà nước để tạo nguồn vốn đầutư phát triển; tiếp tục mở rộng giao quyền tự chủ cho các cơ quan hành chính,ngân sách cấp xã và đơn vị sự nghiệp công.

b) Hoạt động ngân hàng:

- Mục tiêu: triển khai thực hiện tốt chính sách tiềntệ quốc gia; phát triển mạng lưới phục vụ gắn với hiện đại hoá ngân hàng đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh; tăngcường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngânhàng bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn – hiệu quả và phát triển bềnvững; tăng trưởng huy động vốn tối thiểu 25%/năm, tăng trưởng tín dụng 25 -30%/năm, tỷ lệ nợ xấu dưới mức cho phép 5%.

- Định hướng và các giải pháp chủ yếu:

+ Thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chủ trương, chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo điều hành của ngành về hoạtđộng tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng đáp ứng yêu cầu phát triển kinhtế - xã hội của tỉnh. Trong năm 2011 - 2015, tập trung triển khai thực hiện tốt2 Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng; thực hiện có hiệu quảchính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ gắn với triển khai các đề án phát triển nông nghiệp- nông thôn - nông dân, đề án nông thôn mới của tỉnh; thực hiện nghiêm túcchính sách điều hành lãi suất, tỷ giá và hoạt động ngoại hối.

+Chú trọng phát triển, mở rộng mạng lưới ngân hàng gắn đa dạng hoá loại hình tổchức tín dụng, các định chế tài chính và ưu tiên vùng nông thôn, vùng sâu, vùngxa; đẩy mạnh công tác hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán, phát triểndịch vụ tiện ích ngân hàng hiện đại phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế.

+ Tăng cường huy động và tranh thủ các nguồn vốn hỗtrợ từ trung ương để tập trung vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nôngthôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa với lãi suất hợp lý và nâng cao chấtlượng hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượngchính sách khác bảo đảm các mục tiêu an sinh xã hội.

+ Thực hiện tốt vai trò quản lý Nhà nước về tiền tệvà hoạt động ngân hàng trên địa bàn; làm tốt công tác dự báo, tham mưu cho cấpủy, chính quyền địa phương về phát triển kinh tế - xã hội; theo dõi, giám sátchặt chẽ tình hình hoạt động, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm,bảo đảm an toàn, hiệu quả hoạt động ngân hàng.

+ Thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền cơchế, chính sách và hoạt động tiền tệ, ngân hàng ra công chúng.

6. Phát triển các thành phần kinh tế:

Thực hiện nhất quán chủ trương của Đảng về phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể giữvai trò chủ đạo, nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp sau cổ phần hoá, các doanhnghiệp trách nhiệm hữu hạn 01 thành viên vốn Nhà nước, thực hiện thí điểm cổphần hoá một số đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 100% kinh phí hoạt động; tiếptục hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhânphát triển, triển khai có hiệu quả mô hình Văn phòng Phát triển kinh tế để nângcao chỉ số cạnh tranh của tỉnh; phấn đấu đến năm 2015, số lượng doanh nghiệptăng gấp 2 lần và vốn đăng ký tăng gấp 3 lần (tăng bình quân 25 - 26%/năm) sovới năm 2010, đóng góp 55 - 60% GDP của tỉnh.

Triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời có hiệu quả cácchính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, có chính sách khuyếnkhích các tổng công ty lớn thành lập đăng ký các dự án tại tỉnh, xây dựng mộtsố doanh nghiệp lớn để làm đối tác triển khai các dự án quy mô lớn; phát triểncác loại hình doanh nghiệp tập trung vào các dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế,chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành, các cụm ngành trụ cột của tỉnh, hình thànhsản phẩm chủ lực; có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nôngnghiệp, nông thôn theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

Triểnkhai thực hiện chương trình phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2011 - 2015;thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế tậpthể, nồng cốt là hợp tác xã, nâng cao vai trò của hợp tác xã triển khai chủtrương, chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế nông thôn, nhất là thựchiện Nghị quyết TW7 khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nôngthôn mới theo chủ trương của Chính phủ; tăng cường vai trò hợp tác xã trong việcphát triển các ngành nghề nông thôn, đẩy mạnh kinh tế hợp tác, đa dạng hoá cáchình thức góp vốn, tổng kết nhân rộng các hợp tác xã thành lập mới và chuyểnđổi làm ăn có hiệu quả, khuyến khích huy động cổ phần và tăng nguồn vốn góp củaxã viên để không ngừng tăng thêm vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

Tiếptục cụ thể hoá cơ chế chính sách, khuyến khích của Chính phủ phù hợp với điềukiện thực tế của địa phương nhằm tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhânvà các loại hình doanh nghiệp phát triển; từng bước nâng cao chỉ số năng lựccạnh tranh của tỉnh.

II. Lĩnh vực xã hội

1. Giáo dục và đào tạo:

a) Giáo dục: Phát triển giáo dục trong giai đoạn tớitrọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện hướng đến phát triển nguồnnhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tiếp tục triểnkhai có kết quả các chương trình đầu tư cho giáo dục gắn với thực hiện bìnhđẳng về cơ hội học tập và chính sách xã hội trong giáo dục cho mọi người.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trường lớp ở các cấphọc, theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá; hoàn thành Đề án kiên cốhoá trường lớp học và nhà công vụ giáo viên theo hướng đạt chuẩn, bảo đảm nhucầu học tập cho con em các dân tộc trong tỉnh; phấn đấu đến năm 2015, có 30% sốtrường đạt chuẩn quốc gia; 50% số học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày; 10%số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.

Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất nhà trẻ mẫu giáo theohướng xã hội hoá, riêng miền núi Nhà nước đầu tư bằng nguồn ngân sách, đầu tưhệ thống trường tiểu học với 100% số thôn đều có trường tiểu học và điểmtrường, phát triển hệ thống trường trung học phổ thông ở các huyện; mở rộngtrường dân tộc nội trú ở các vùng đồng bào dân tộc, đầu tư xây dựng mới Trườngdân tộc nội trú huyện Thuận Nam, nâng cấp Trường dân tộc nội trú Phan Rang quymô trang thiết bị bằng các trường trong khu vực.

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học,coi trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, pháp luật và truyền thống cho học sinh;thực hiện chương trình giáo dục mầm non theo chuẩn quốc gia để đến năm 2015 có100% trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo trước khi vào lớp 1; tiếp tục duy trì và nângcao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập bậc trung học cơ sở; nâng caochất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ em trước 6 tuổi để trẻ phát triển toàn diệncả về thể chất, trí tuệ; mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo, ưutiên vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; triểnkhai dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học từ lớp 3 đến lớp 5, đạt tỷ lệ 80%; coitrọng và đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và phân luồng sau trung học cơ sở; tiếptục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập bậc trunghọc cơ sở.

Củng cố, phát triển và nâng cao chất l­ượng các cơ sởgiáo dục như­ trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng nhằmđáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập th­ường xuyên của mọi ngư­ời ở mọi lứa tuổi.

b) Đào tạo: Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạođến năm 2015 đạt trên 50%, trong đó đào tạo nghề đạt 33%.

Đẩy mạnh chương trình hợp tác và tạo điều kiện về cơchế chính sách cho các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước thành lập các cơ sởgiáo dục, đào tạo trên địa bàn tỉnh theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực; phát huyhiệu quả hoạt động phân hiệu Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh;xúc tiến thành lập và đưa vào hoạt động các phân hiệu Đại học: Đại học Điệnlực, Đại học Công nghiệp, Đại học Thủy lợi; chuẩn bị đủ các yếu tố cần thiết đểthành lập Đại học Ninh Thuận khi có điều kiện.

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, trong đó 100%giáo viên đạt chuẩn về đào tạo và có 50% giáo viên trung học cơ sở, 10% giáoviên trung học phổ thông đạt trên chuẩn.

Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựngxã hội học tập và xã hội hoá, tạo điều kiện hỗ trợ để hình thành và phát triểncác loại hình tư thục chất lượng cao ở các cấp học; nhân rộng mô hình trườngbán trú dân nuôi; từng bước hình thành các trung tâm dạy nghề tổng hợp để kếthợp chức năng giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và tư vấn việc làm.

Tăng cường năng lực cho đào tạo nghề để nâng cao chấtlượng đào tạo, đầu tư hoàn thành Trường cao đẳng Nghề; nâng cấp và mở rộng quymô Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề Phan Rang tương đương trường trung cấp Nghề;phát triển các trung tâm dạy nghề một số huyện.

- Hoàn thiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viênTrường cao đẳng Sư phạm đáp ứng được yêu cầu đào tạo giáo viên đạt chuẩn vànâng lên thành Trường cao đẳng đa ngành.

- Hình thành các cơ sở dạy nghề đạt trình độ caođẳng, trung cấp nghề do các doanh nghiệp thành lập phục vụ cho những nghề mangtính đặc thù của doanh nghiệp.

2. Khoa học và công nghệ:

Khoa học và công nghệ trong giai đoạn 2011 - 2015phải thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vữngvà giúp doanh nghiệp chủ động hội nhập quốc tế; tiếp tục đầu tư nghiên cứu cácđề tài, dự án khoa học công nghệ mới, có tính ứng dụng cao phù hợp với quyhoạch và lợi thế cạnh tranh của tỉnh, sớm hình thành và phát triển sản phẩmcông nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao; triển khai có hiệu quả dự án "Nângcao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của các doanh nghiệp vừa và nhỏtại địa phương” góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố tổnghợp trong GDP lên 30% vào năm 2015; xây dựng và thực hiện tốt Chương trình tổngthể sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 -2015, trọng tâm là Chương trình tiết kiệm điện ở khu vực doanh nghiệp, vănphòng làm việc, hệ thống chiếu sáng công cộng; đẩy mạnh triển khai Chương trìnhhỗ trợ doanh nghiệp về khoa học và công nghệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranhdoanh nghiệp để hội nhập trong nước và quốc tế; kế hoạch sử dụng ngân sáchngành khoa học và công nghệ khoảng 155,4 tỷ đồng.

Ràsoát, tiếp tục đầu tư nghiên cứu các đề tài, dự án đã triển khai và các đề tàidự án mới phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, có tínhứng dụng cao, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làngnghề và sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản theo hướng sản xuất sạch đồng thờichú ý tổ chức nghiên cứu các đề tài thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhânvăn như bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chăm sóc sức khỏe nhândân, phục vụ cải cách hành chính và khoa học quản lý, nâng cao chỉ số cạnhtranh của tỉnh.

Tập trung nghiên cứu chọnlọc các giống mới chất lượng cao, ứng dụng công nghệ sinh học để tăng hiệu quảkinh tế đối với các sản phẩm đặc thù của địa phương, như: cây nho, cây neem,rong sụn, xương rồng không gai; tăng cường hiệu quả chương trình hỗ trợ doanhnghiệp, nhất là hỗ trợ khoa học công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh; quyhoạch phát triển Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng độingũ cán bộ khoa học và công nghệ tại chỗ đủ mạnh, đủ khả năng sức tiếp cận vàvận dụng thành quả của nền kinh tế tri thức; đầu tư nâng cấp Trung tâm Thôngtin ứng dụng tiến bộ khoa học và cơ sở hoạt động khoa học khác theo hướng hiệnđại, nhằm phát triển mạnh tiềm lực khoa học và công nghệ của địa phương. Đến năm2015, lực lượng khoa học và công nghệ của tỉnh đủ năng lực tiếp thu, làm chủ vàsử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài; có khả năng nghiêncứu và ứng dụng một số công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ tự động hoá, cơ - điệntử.

3. Dân số, kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏenhân dân:

a) Mục tiêu: nâng cao chất lượng dân số, tiếp tục hạnchế tốc độ tăng dân số, xây dựng mỗi gia đình có từ 1 đến 2 con; thực hiện tốtchiến lư­ợc dân số, kế hoạch hoá gia đình đến năm 2015, hạ thấp tỷ lệ gia tăngdân số tự nhiên còn 1,15%, quy mô dân số năm 2015 là 650 nghìn người; từng b­ướcnâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần, phát triển nguồnnhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, góp phần vào sựphát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Phát triển mạnh hệ thống chămsóc sức khỏe và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế gắn củng cố mạng lưới y tế cơsở, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khoẻ tại chổ cho nhân dân, củng cố mạnglưới y tế từ tỉnh đến cơ sở để tất cả người dân đều tiếp cận được các dịch vụ ytế cơ bản; thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư có thương hiệu, có uy tín đầu tư cáccơ sở y tế đạt chuẩn quốc tế tại tỉnh để tạo sự khác biệt mang tính cạnh tranhcao trong thu hút nhân lực và điều trị bệnh cho nhân dân.

b) Định hướng và giải pháp:

Tiếp tục thực hiện chiến lược quốc gia về dân số giaiđoạn 2011 - 2020, tập trung triển khai dự án nâng cao chất lượng và sử dụngdịch vụ sức khỏe sinh sản; đặc biệt chú trọng đến đối tượng thanh niên và vùngnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và những vùng có mức sinh cao.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức Đảng,chính quyền để lồng ghép các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhândân và công tác dân số. Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịchbệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh; thực hiện tốt các Chương trình mụctiêu quốc gia về y tế, khống chế và loại trừ một số bệnh xã hội.

Hoàn thành đầu tư nâng cấp các phòng khám đa khoa khuvực, bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện đa khoa tỉnh, trường trung cấp y tế;triển khai xây dựng mới Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Phong- Da liễu, Trung tâm Giám định pháp y; đầu tư mới bệnh viện huyện Thuận Nam.

Hình thành một số bệnh viện chuyên khoa; khuyến khíchvà tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia thành lập các cơ sở y tếngoài công lập, tham gia cung cấp các dịch vụ y tế chất lượng cao.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực cho ngành Y tế giaiđoạn 2011 - 2015 được coi là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu quyết định để nâng caochất lượng khám và điều trị bệnh cho nhân dân; quan tâm công tác đào tạo, bồidưỡng nâng cao năng lực chuyên môn và kỷ năng sử dụng các thiết bị y tế hiện đạicho đội ngũ y bác sĩ; giáo dục, rèn luyện y đức, nâng cao tinhthần trách nhiệm và thái độ phục vụ người bệnh cho đội ngũ cán bộ, nhân viên ytế từ tỉnh đến cơ sở; thực hiện có hiệu quả Đề án thu hút cánbộ y tế giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đào tạo để từngbước giải quyết tình trạng thiếu nhân lực của ngành y tế; triểnkhai tốt chủ trương hỗ trợ từ tuyến trên cho tuyến dưới; nâng caoloại hình dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu ở tuyến tỉnh và các hình thứcchăm sóc tại nhà.

Đảm bảo cho trẻ em được hưởng các dịch vụ y tế cơbản, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi theo quy định; mở rộng dịch vụ chăm sóc người caotuổi, người tàn tật; đẩy mạnh tuyên truyền nângcao ý thức phòng bệnh cho nhân dân, phát hiện và dập dịch kịp thời.

Đầu tư nâng cấp mạng lưới y tế dự phòng hiện có, nhấtlà tuyến cơ sở, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và nhân lực đủ khả năng hoạtđộng, tổ chức tốt việc theo dõi, giám sát, phát hiện và khống chế không để phátsinh dịch bệnh lớn; đẩy mạnh kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tiếp tục hoàn thiện mạng lưới công tác dân số và kếhoạch hoá gia đình các tuyến huyện, xã và đội ngũ cộng tác viên về dân số, tăngcường công tác truyền thông nâng cao nhận thức về dân số và nâng cao chất lượngsinh sản, chú trọng chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, ngư­ời cao tuổi và cáchoạt động phục hồi chức năng.

Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vựcy dược tư­ nhân; kết hợp tốt y học cổ truyềnvới y học hiện đại; khuyến khích và hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụngcác cây, con làm thuốc, nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc phòng chốngdịch bệnh.

Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động y tế, tạo môitrường thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ y tế theoh­ướng đa dạng hoá, đặc biệt là các cơ sở khám chữa bệnh chất lượng cao, đápứng ngày một tốt hơn nhu cầu của người dân. Mở rộng các hình thức chăm sóc sứckhỏe tại nhà; khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực y tế.

4. Lao động, việc làm, giảm nghèo và an sinh xã hội:

a) Lao động, việc làm:

Triển khai, thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốcgia việc làm giai đoạn 2011 - 2015, góp phần thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấulao động; phấn đấu đến năm 2015 đạt tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông lâm ngư­nghiệp còn 37% giảm 15 %, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng 28% tăng 13%, lĩnhvực dịch vụ 35% tăng 2% so với năm 2010; giải quyết việc làm mới bình quân mỗinăm cho 15 nghìn ngư­ời; giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còndưới 3% số lao động trong độ tuổi; tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nôngthôn trên 86% vào năm 2015.

Thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất,tạo việc làm mới; thu hút lao động vào các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch;thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏvà vừa, nhằm giải quyết nhiều việc làm cho lao động.

Phát huy cao nhất năng lực của người lao động để lập nghiệpvà làm giàu chính đáng, từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống củanhân dân; hình thành hệ thống cơ sở đào tạo nghề cấp tỉnh và huyện để thực hiệnchương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, để đến năm 2015 tỷ lệ laođộng qua đào tạo đạt 50%, trong đó đào tạo nghề đạt 33%.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường lao động, đầu tưtăng cường năng lực trung tâm giới thiệu việc làm; tiếp tục thực hiện các giảipháp để hình thành và phát triển thị trường lao động; xây dựng và tổ chức tốtchương trình đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giai đoạn 2011 -2015, phấn đấu bình quân mỗi năm đưa từ 100 - 150 người đi làm việc có thời hạnở nước ngoài; tiếp tục hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho các đối tượng chínhsách, người nghèo ở nông thôn, miền núi, đặc biệt là huyện nghèo Bác Ái; đẩymạnh thực hiện chủ trương xã hội hoá trong đào tạo nghề.

b) Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội:

- Về công tác giảm nghèo:

Tổ chức triển khai thực hiện có hiệuquả Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướnggiảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020 bằng nhiều giải pháp, chính sách cụthể, đồng bộ phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; lồng ghép và sửdụng hiệu quả các nguồn vốn chương trình dự án để thực hiện giảm nghèo bền vữngtrên cùng địa bàn, dành nguồn vốn ưu tiên hỗ trợ giảm nghèo các vùng sâu, vùngxa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng ven biển,các xã có tỷ lệ nghèo cao. Tổng kết và nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệuquả, xây dựng các mô hình giảm nghèo ở từng vùng; giảm dần chênh lệch về pháttriển kinh tế và đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền và các tầng lớp dâncư­ trong tỉnh; phấn đấu mỗi năm giảm tỷ lệ hộ nghèo 1,2-1,5% (theo chuẩn mớigiai đoạn 2011 - 2015).

Thực hiện có hiệu quả các chươngtrình mục tiêu đầu tư cho vùng nghèo như chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo, Chương trình 30a, triển khai nhân rộng các mô hình giảm nghèo bền vững,đề án cho vay vốn cho người nghèo; tranh thủ tối đa tài trợ của các tổ chứcquốc tế để triển khai các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng và tăngcường năng lực cho người dân phát triển sản xuất ở vùng nghèo, vùng có điềukiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, như dự án về phát triển cơ sở hạ tầngnông thôn tại hai huyện Ninh Hải và Ninh Sơn do tổ chức OFID tài trợ, dự ánnâng cao năng lực quản lý Nhà nước và cung cấp dịch vụ công do Vương quốc Bỉtài trợ, dự án hỗ trợ sinh kế và nâng cao lập kế hoạch giảm nghèo bền vững dotổ chức Oxfam tài trợ tại huyện Bác Ái, dự án phát triển nông nghiệp bền vữngtại các huyện trong tỉnh do tổ chức IFAD tài trợ, dự án hỗ trợ đồng bào dân tộcthiểu số nghèo phát triển chăn nuôi heo núi tại huyện Thuận Bắc do tổ chức AAFV- CCAS tài trợ.

Tiếp tục thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu củaChính phủ, các nguồn lực do các tổ chức phi Chính phủ, quỹ vận động vì ngườinghèo để hỗ trợ về nhà ở cho ngư­ời nghèo, đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùngxa, vùng đặc biệt khó khăn; hoàn thành mục tiêu chương trình hỗ trợ nhà ở chongười nghèo giai đoạn 2008 - 2012 vào năm 2011 và tiếp tục rà soát lại số hộnghèo khó khăn về nhà ở theo tiêu chí nghèo mới để xây dựng và triển khaichương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ ở vùng nông thôn giai đoạn 2011 -2015, phấn đấu đến năm 2015, giải quyết cơ bản về nhà ở cho những hộ sống trongnhà ở tạm bợ, dột nát; tiếp tục thực hiện tốt các chính sách để người nghèotiếp cận được các dịch vụ xã hội về bảo hiểm, khám chữa bệnh, về giáo dục - đàotạo, tiếp cận tín dụng ưu đãi vay vốn phát triển sản xuất, đầu tư các côngtrình cấp nước sinh hoạt và công trình hợp vệ sinh, góp phần cải thiện chấtlượng cuộc sống nhân dân ở vùng nghèo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn.

- Về chính sách đối với người có công: thực hiện tốt các chính sách đối vớingười có công, gia đình thương binh, liệt sĩ, nhất là chính sách ưu đãi và nângcao mức sống đối với người có công; duy trì và phát triển quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”;đẩy mạnh các hoạt động “uống nước nhớ nguồn”, huy động thêm các nguồn lực đểsớm đạt mục tiêu nâng cao mức sống của các đối tượng chính sách ngang bằng hoặccao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương; phấn đấu đến năm 2015, cơbản hoàn thành việc đầu tư, nâng cấp các công trình tưởng niệm, ghi công ở cáchuyện.

- Về chính sách an sinh xã hội: mở rộng các hình thức trợ giúp, cứutrợ đối với các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, nhất là người cao tuổi, ngườitàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người bị nhiễm chất độc da cam,nhiễm HIV/AIDS; tăng cường các hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội, ma túy,mại dâm; phấn đấu đến năm 2015 có 75% xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xãhội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và mở rộng việc thực hiện chínhsách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho mọi đối tượng,phấn đấu đến năm 2015 có 80% dân số có tham gia bảo hiểm.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và mở rộng việc thựchiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho mọi đối t­ượng.

Mở rộngmạng lư­ới an sinh xã hội thông qua phát triển và củng cố các quỹ của xã hội vàđoàn thể, thu hút sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã hội, tổchức phi chính phủ trong việc phát triển mạng l­ưới an sinh xã hội, trong đóMặt trận Tổ quốc các cấp từ tỉnh đến cơ sở chủ trì và phối hợp với chính quyền,các hội đoàn thể quần chúng xây dựng các phư­ơng thức vận động các cơ quan,doanh nghiệp và dân cư­ tham gia hoạt động từ thiện giúp đỡ các đối tư­ợngnghèo.

5.Văn hoá, thông tin - truyền thông, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao:

a) Mục tiêu chung là đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hoá vàtinh thần cho người dân phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh và gắn với hội nhập kinh tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc,nhất là di sản văn hoá Chăm của Ninh Thuận.

b) Định hướng và giải pháp chủ yếu:

- Về văn hoá:

Tập trung thực hiện các chương trình mục tiêu về văn hoá; thựchiện có hiệu quả công tác cổ động, tuyên truyền các chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm sự gắn kết phát triển giữa kinh tế và vănhoá; triển khai có hiệu quả chiến lược xây dựng gia đình văn hoá giai đoạn 2011- 2015 và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, phong tràoxây dựng nông thôn mới; chú trọng các giải pháp khuyến khích, huy động nguồnlực thông qua đẩy mạnh xã hội hoá, từng bước đầu tư hoàn thiện các thiết chếvăn hoá chủ yếu; phấn đấu đến năm 2015 có 65% số thôn, khu phố và 98% cơ quan,đơn vị đạt chuẩn văn hoá.

Bảo tồn và phát triển các giá trị di sản văn hoá, thuầnphong mỹ tục trong nhân dân, các loại hình nghệ thuật truyền thống, nghệ thuậtdân gian; tập trung bảo tồn các di tích cách mạng, di tích lịch sử, di tích vănhoá; huy động các nguồn lực, trí tuệ và sức sáng tạo trong xã hội để xây dựng,bảo tồn các thiết chế văn hoá, tham gia và phát triển các hoạt động văn hoá;tiếp tục điều tra, sưu tầm các giá trị văn hoá phi vật thể; giải quyết hài hoà,hợp lý giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hoá với yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội; chú trọng tính khoa học, tính hệ thống trong việc xây dựng tài liệu,hiện vật bảo tàng.

- Về thể dục - thể thao:

Chú trọng và phát triển thể dục, thể thao quần chúng, thể thaonghiệp dư, nhất là đối với trẻ em, thanh thiếu niên; khôi phục các trò chơi dângian, duy trì và phát triển các hội thi truyền thống; xây dựng đội ngũ huấnluyện viên, vận động viên có trình độ chuyên môn năng lực ở một số môn thế mạnhcủa tỉnh như bóng rỗ, bóng chuyền, điền kinh và một số môn võ thuật; nâng caothành tích thi đấu tại các giải quốc gia; phấn đấu đến năm 2015 có 29% dân sốluyện tập thể dục thể thao thường xuyên.

Phát triển mạng lưới thể dục thể thao của tỉnh đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu luyện tập và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; duy trì và pháttriển các phong trào thể thao quần chúng và hướng đến phát triển một số bộ mônthể thao thành tích cao; lồng ghép phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theogư­ơng Bác” với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” vàcác phong trào thể dục thể thao do các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội phátđộng nhằm thực hiện tốt các tiêu chí về rèn luyện sức khỏe trong quần chúngnhân dân.

Tập trung đầu tư xây dựng một số công trình văn hoá, thểthao lớn như nâng cấp, mở rộng sân vận động tỉnh, đầu tư mới nhà hát đa năng2.000 chỗ, bảo đảm các điều kiện tổ chức một số sự kiện văn hoá, thể thao củaquốc gia và khu vực.

Kết hợp phát triển các môn thể thaothành tích cao có lợi thế đồng thời phát triển thể thao phong trào gắn với khôiphục thể thao dân gian các dân tộc trong tỉnh; chú ý đào tạo vận động viên trẻcó chất lư­ợng; xây dựng đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên có trình độchuyên môn và năng lực phục vụ công tác thể dục thể thao mang tính chuyênnghiệp, nâng cao thành tích thi đấu tại các giải quốc gia.

- Về thông tin và truyền thông, phát thanh truyền hình:

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về thông tin và truyềnthông; triển khai có hiệu quả chiến lược phát triển công nghệ thông tin vàtruyền thông đến năm 2020; triển khai quy hoạch mạng lưới hạ tầng thông tinviễn thông gắn với phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, từng bước hình thành mộtmạng lưới thông tin có chất lượng cao phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và nhucầu thông tin của nhân dân; nhất là phục vụ công tác phòng, chống thiên tai vàan ninh - quốc phòng; nâng cao chất lượng hoạt động các điểm bưu điện văn hoáxã, nâng mật độ thuê bao điện thoại đạt 34 máy và 6,4 thuê bao internet/100dân.

Nâng cao chất lượng thông tin báo chí phục vụ yêu cầu lãnhđạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp và là diễn đàn cập nhật kiến thức,định hướng dư luận, trao đổi học tập kinh nghiệm cho mọi tầng lớp dân cư trongtỉnh; tiếp tục đầu tư hiện đại hoá công nghệ và chất lượng làm báo kể cả báoin, báo điện tử, báo hình, … đến năm 2015, đảm bảo phủ sóng phát thanh - truyềnhình đến tất cả các địa bàn dân cư trong tỉnh và phấn đấu đưa sóng truyền hìnhNinh Thuận lên vệ tinh quốc gia; đầu tư hoàn thành các công trình văn hoá lớnnhư Trung tâm nghiên cứu văn hoá Chăm; xây dựng bia kỷ niệm, gắn biển các ditích lịch sử trên địa bàn tỉnh; xây dựng hệ thống thư viện tỉnh, huyện.

6. Thúcđẩy bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ

a) Mục tiêu: bảo đảm bình đẳng giới trên mọi phương diện của đời sống xã hội, thu dầnkhoảng cách giới và xoá dần định kiến về giới.

b) Định hướng và giải pháp: xây dựng kế hoạch hành động triểnkhai thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của cả nước giai đoạn 2011- 2020; xây dựng và thực hiện có hiệu quả Kế hoạch vì sự tiến bộ phụ nữ củatỉnh giai đoạn 2011 - 2015; triển khai thực hiện chương trình hành động về côngtác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; lồng ghép các chỉtiêu bình đẳng giới, tiến bộ phụ nữ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộicủa ngành, lĩnh vực và địa phương; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ, tạo nguồn cán bộ kếcận và đề bạt cán bộ nữ.

Nâng cao nhận thức về bình đẳng giới ở các cấp, cácngành; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về Luật Bình đẳng giới và cácvăn bản hướng dẫn thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng và nhiềuhình thức khác để giúp mọi người dân, đặt biệt là phụ nữ nông thôn, vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc ít người hiểu và biết cách tự bảo vệ quyền lợi của mình.

Tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo về bình đẳng giớitrong những ngành, khu vực và vùng có sự bất bình đẳng và nguy cơ bất bình đẳnggiới cao; nhất là trong quan hệ lao động, quan hệ gia đình, ở vùng nông thôn,vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng có đông đồng bào dântộc thiểu số.

Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tácbình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ từ tỉnh đến cơ sở. Xây dựng cơ sở dữliệu, tiêu chí, hệ thống theo dõi, giám sát, đánh giá về bình đẳng giới.

7.Bảo vệ và chăm sóc trẻ em

a) Mục tiêu: bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em; tạo môi trường an toàn, lành mạnh đểtrẻ em được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần; ngăn chặn và từngbước đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em.

b) Định hướng và giải pháp:

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình bảo vệvà chăm sóc trẻ em giai đoạn 2011 - 2015; ưu tiên và lồng ghép có hiệu quả cácnguồn lực thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt (trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ em lang thang kiếm sống,…); ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em vùng nông thônnghèo, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số.

Mở rộng các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấnvề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên các phương tiện thông tin đạichúng; mở rộng các hình thức tư vấn trực tiếp và tư vấn cộng đồng cho các nhómđối tượng trẻ em; tổ chức hệ thống dịch vụ hỗtrợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm bảo đảm cho mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ emcó nguy cơ cao bị hạn chế phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, trẻem có hoàn cảnh đặc biệt tiếp cận các dịch vụ này thuận lợi và hiệu quả; nhân rộng các mô hình hiệu quả bảo vệvà chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng (mô hình xây dựng xã, phường phù hợp vớitrẻ em, mô hình thúc đẩy sự tham gia của trẻ em; mô hình phòng chống tai nạnthương tích; mô hình hỗ trợ trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị buôn bán, ...); củng cố bộ máy làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em từ tỉnh đến cơ sở.

III. Đầu tư phát triển

1. Mục tiêu:huy độngtối đa các nguồn lực đầu tư, ưu tiên tập trung triển khai các chương trình đầutư phát triển các cụm ngành trụ cột của tỉnh, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạtkhoảng 55 - 60 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nước chiếm 40%, vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 30%, vốn các thành phần kinh tế và dâncư chiếm 30%.

2. Định hướng đầu tư: quán triệt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015, địnhhướng đầu tư của giai đoạn tới phải bảo đảm đồng bộ, cơ cấu đầu tư phải hợp lý,gắn việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững với pháttriển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao hiệu quả đầu tư từ cácnguồn vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó nguồn vốn ngân sách Nhà nước giữ vai tròchủ đạo để thu hút nguồn vốn các thành phần kinh tế đầu tư phát triển. Các dựán đầu tư phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011 - 2015,đầu tư phải tập trung, tránh dàn trải, đầu tư hoàn thành nhanh để tăng năng lựcsản xuất mới, ưu tiên dành vốn cho các dự án, công trình trọng điểm tạo độnglực thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh các ngành kinhtế trụ cột của tỉnh, nhằm tạo bức phá phát triển kinh tế - xã hội của tỉnhtrong giai đoạn tới.

a) Đối với nguồn vốn ngân sách Nhà nước do tỉnh quảnlý: căn cứ quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, quy hoạch tổng thể pháttriển ngành, các ngành, các cấp cần chủ động xây dựng các dự án đầu tư, phấnđấu trong năm 2011 - 2012 hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư các dự án trongkế hoạch 5 năm 2011 - 2015, ưu tiên công tác quy hoạch phát triển các ngành,lĩnh vực, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng 1/2.000 làm cơsở kêu gọi đầu tư.

Tranhthủ tối đa sự hỗ trợ của Trung ương, huy động mọi nguồn lực để đầu tư pháttriển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trọng tâm là đầu tư hoàn thành nhanhtuyến đường ven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná vào năm 2013 để kịp triển khai xâydựng các nhà máy điện hạt nhân; đầu tư hoàn thành tuyến Quốc lộ 1A từ sân bayQuốc tế Cam Ranh đến thành phố Phan Rang - Tháp Chàm dài 60 km để tạo kết nối liên kết vùng, khai thác lợi thế sânbay, cảng biển để phát triển kinh tế của tỉnh; đầu tư một số tuyến đường liênkết với quốc lộ 1A như đường tỉnh 704, 708 (đoạn QL1A - Phước Thuận - 703),tuyến tránh quốc lộ 1A, các tuyến đường đến trung tâm xã miền núi bằng nguồnvốn trái phiếu Chính phủ; tăng cường kêu gọi đầu tư nâng cấp hạ tầng cảng biển,triển khai xây dựng cảng hàng hoá Dốc Hầm - Cà Ná và cảng hàng hoá Ninh Chữkhai thác tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển.

Tăng cường vận động các nguồn vốn ODA để đầu tư pháttriển hạ tầng đô thị, nông thôn, các công trình thủy lợi cho các vùng nghèo,vùng kinh tế còn khó khăn; tập trung triển khai đẩy nhanh tiến độ giải ngân cácdự án chuyển tiếp và hoàn thành thủ tục để khởi công một số dự án mới như Dự án phát triển nông nghiệp bền vững(vốn IFAD), các dự án hỗ trợ thiết bị y tế bệnh viện huyện Ninh Hải và Bệnh viện đa khoa tỉnh (vốn Hàn Quốcvà Chính phủ Áo tài trợ), dự án đầu tư thiết bị cơ sở dạy nghề tỉnh (vốn Ả RậpXê Út), dự án phát triển toàn diện thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (vốn ADB vàWB), dự án phát triển cơ sở hạ tầng 2 huyện Ninh Sơn và Ninh Hải (vốn OFID),các dự án giao thông, thủy lợi do các tổ chức JICA, WB, ADB tài trợ.

b) Nguồn vốn do các Bộ ngành Trung ương quản lý: thực hiện việc phối hợp chặt chẽ giữatỉnh với các Bộ ngành Trung ương triển khai các dự án có quy mô lớn theo kếhoạch, trọng tâm là hoàn thành tốt nhất công tác chuẩn bị phục vụ xây dựng 02nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh, nhà máy thứ nhất được khởi công đúng tiến độvào năm 2014 theo Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chínhphủ, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm lĩnh vực thủy lợi, giaothông, thủy sản như hệ thống thủy lợi Tân Mỹ, Quốc lộ 1A, tuyến tránh Quốc lộ 27, dự án cải tạo, nâng cấpcơ sở hạ tầng Đầm Nại, nâng cấp các cảng cá Ninh Chữ, Cà Ná, Trung tâm kiểm định giống, ...

c)Đối với các dự án thuộc nguồn vốn các thành phần kinh tế: tập trung thu hút các nguồn vốn cácthành phần kinh tế, trước hết tỉnh phải sẵn sàng chủ động mời gọi đầu tư, đặcbiệt là sự sẵn sàng giao đất sạch cho nhà đầu tư, triển khai đồng bộ các giảipháp nhằm thu hút đầu tư, cụ thể:

- Bảo đảm tính công khai minhbạch trong các thủ tục hành chính, sự nhất quán về các chủ trương chính sáchđầu tư tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư.

- Ban hành danh mục dự án đầu tư BOT, BTO, BT, PPP, ... tập trung những công trình trọngđiểm quy mô lớn của từng ngành, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng và danh mục dựán xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao, môi trường và dịch vụ công; ban hành quy định thực hiện có hiệuquả chính sách ưu đãi, khuyến khích thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vựcnông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

- Công tác xúc tiến đầu tư cần phải có chiến lượctổng thể dài hạn, phải chủ động và có trọng tâm, trọng điểm, cung cấp thông tinđầy đủ, kịp thời đến được các nhà đầu tư về quy hoạch, các tiềm năng lợi thế vàcác dự án kêu gọi đầu tư;thông quachương trình hợp tác với các tỉnh, các ngành, các doanh nghiệp và hợp tác vớicác khu công nghiệp trong nước để xúc tiến đầu tư.

- Tập trung tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướngmắc về thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường, giải phóng mặt bằng để sớm triểnkhai và đầu tư hoàn thành nhanh các dự án đầu tư tăng năng lực sản xuất mới,đồng thời hoàn thành thủ tục để khởi công những dự án có quy mô lớn trong kếhoạch 2011 - 2015 để tạo năng lực sản xuất mới cho giai đoạn tiếp theo, nhất làcác dự án có quy mô lớn lĩnh vực năng lượng, du lịch, công nghiệp như các dự ánđiện gió đã cấp chứng nhận đầu tư, các dự án du lịch biển cao cấp đã ký kếtthỏa thuận hợp tác đầu tư với một số nhà đầu tư chiến lược như khu du lịch VĩnhHy, khu du lịch Mũi Dinh.

IV. Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng

1.Giao thông: ưu tiên đầu tư các tuyến giaothông kết nối Quốc lộ 1A và Quốc lộ 27 nhằm tận dụng lợi thế hạ tầng về sânbay, cảng biển trong vùng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tậptrung hoàn thành tuyến đường ven biển từ Bình Tiên đến Cà Ná dài 116 km và nângcấp Quốc lộ 1A từ sân bay quốc tếCam Ranh đến thành phố Phan Rang - Tháp Chàm trước năm 2013; triển khai chươngtrình giao thông của Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương, phát triển giaothông đô thị, giao thông nông thôn miền núi, phấn đấu đến năm 2015 đạt mật độgiao thông khoảng 0,3 km/km2.

2.Thủy lợi: tập trung đầu tư các côngtrình thủy lợi trọng điểm để tăng năng lực tưới đạt khoảng 50% diện tích đấtnông nghiệp vào năm 2015;hoàn thành đầutư một số công trình thủy lợi trọng điểm như: Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ dungtích 219 triệu m3, hồ Sông Than, hồ Ô Căm, hồ Kiền Kiền; triển khaiđầu tư hồ Tân giang II, hồ Tà Nôi, hồ Đa Mây (Phước Bình - Bác Ái), đầu tư đồngbộ hệ thống kênh mương để phát huy hiệu quả các hồ chứa nước đã đầu tư.

3. Cấp điện: nâng cấp và phát triển mạng lưới điện trênđịa bàn tỉnh, bảo đảm 100% hộ gia đình đều được sử dụng điện lưới quốc gia vàđáp ứng 100% nhu cầu về điện sản xuất phù hợp với quy mô sản xuất ở các khu,cụm công nghiệp, các khu du lịch trọng điểm, phục vụ xây dựng 02 nhà máy điệnhạt nhân tại tỉnh.

4.Hệ thống cấp nước và thoát nước: mở rộng và nâng cấp mạng lưới cấp nước, thoátnước, xử lý nước thải thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và các đô thị trong tỉnh;đầu tư hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải cho các khu công nghiệpvà khu tái định cư các nhà máy điện hạt nhân.

5. Thông tin và truyền thông: mở rộng,nâng cấp và hiện đại hoá mạng bưu chính-viễnthông và thông tin truyền thông có dung lượng lớn, tốc độ cao, kết nối các địaphương trên cả nước và quốc tế; hiện đại hoá hệ thống phân phối vàtruyền dẫn công nghệ cao và cáp quang trên địa bàn tỉnh đến huyện, xã; nângmật độ thuê bao điện thoại đạt 34 máy/100 dân; 6,4 thuê bao internet/100dân vào năm 2015.

IV. Phươnghướng bảo vệ môi trường

1. Mục tiêu:nhiệm vụbảo vệ môi trường là một trong 3 mụctiêu kinh tế - xã hội - môi trường để phát triển bền vững, thực hiện mục tiêuthiên niên kỷ, mục tiêu chung là làm cho môi trường sống ngày càng tốt hơn; bảo vệ môi trường phải theo phươngchâm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợpvới xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiênnhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lựctrong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại vớicác phương pháp truyền thống.

- Phấn đấu đến năm 2015, tỷ lệthu gom rác thải đạt 90%; 100% khu, cụm công nghiệp đều có hệ thống xử lý chấtthải đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đi vào hoạt động; tỷ lệ dân số nông thônđược cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 95%; tỷ lệ hộ gia đình nông thôn cócông trình hợp vệ sinh đạt 80% vào năm 2015.

2. Nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ môi trường trong giaiđoạn tới:

Rà soát quy hoạch khu vực xử lý rác tập trung trênđịa bàn tỉnh, trước hết quy hoạch các khu vực xử lý chất thải rắn thông qua chếbiến cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cụm làng nghề;

Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường đất, nướcmặt, nước biển ven bờ, nước dưới đất và không khí; thiết lập hệ thống cảnh báodịch bệnh các vùng nuôi tôm thương phẩm tập trung;

Tập trung xử lý ô nhiễm nguồn nước, giám sát và xử lýchất thải vào nguồn nước, nhất là các khu vực trọng điểm ở Khu dân cư Đầm Nại,nước thải ra ao hồ sông suối chưa qua xử lý, nước thải ở các làng nghề, khu dâncư, các khu và cụm công nghiệp chưa được xử lý;

Giám sát chặt chẽ và thực hiện tốt việc xử lý chấtthải vào lồng đất, các khu vực nuôi trồng thủy sản, các khu du lịch, khu đôthị, khu dân cư, khu, cụm công nghiệp phải được xử lý đạt chuẩn trước khi thảira hệ thống; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nghĩa tranggiải quyết ô nhiễm tròng khu dân cư, đến năm 2015, đầu tư mỗi huyện một nghĩatrang tập trung, từng bước di dời các nghĩa trang phân tán (nghĩa trang Cà Đú),mồ mã chôn cất ở trong khu dân cư về nghĩa trang tập trung của huyện;

Đầu tư các công trình kè bảo vệ bờ sông, bờ biển,chống sạt lỡ, quy hoạch cát sõi lồng sông để quản lý khai thác chống sạt lỡ bờsông; nâng cấp, xây dựng hệ thống công trình chống xói lở bờ sông Cái Phan Rang:các cụm kè hạ lưu cầu Mống; nâng cấp,mở rộng các công trình chống xói lở bờ biển và bồi lấp cửa sông như kè với cảngcá Mỹ Tân, kè Đầm Vua, kè Khánh Hội, kè với cảng cá Cà Ná; xây dựng mới kè Sơn Hải, kè Thái An;xây dựng hồ, đập và các công trình chống sa mạc hoá; triển khai kế hoạch trồngrừng nâng độ che phủ rừng, cải tạo môi trường sinh thái, trồng rừng đầu nguồnđể giữ nước, trồng rừng phòng hộ ven biển để chống cát bay;

Đối với khu vực nông thôn cần chú ý bảo vệ môi trường khidùng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học. Trong phát triển nuôi trồng thủy sản cầnchú ý tới việc ngăn ngừa và có giải pháp kỹ thuật để bảo vệ môi trường ven biển; có cácbiện pháp lâm sinh để chống xói mòn, tăng độ phì cho đất, chống cát bay cátchảy ở ven biển;

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong quản lý vàbảo vệ môi trường; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục phápluật về môi trường; đào tạo, tập huấn chuyên môn, quản lý về bảo vệ môi trường;nâng cao ý thức người dân vùng nông thôn trong việc giữ gìn vệ sinh chung;

Nâng cao năng lực thẩm định điều kiện về môi trường củacác dự án đầu tư, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra sau thẩm định báo cáođánh giá tác động môi trường, các điểm nóng về môi trường; đến năm2011- 2012, đầu tư hoàn chỉnh phòng thí nghiệm môi trườngđất, nước, không khí đạt tiêu chuẩn ISO-17025.

V.Phát triển kinh tếgắn với bảo vệ an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Phát triển kinh tế xã hội phải gắn chặt chẽ với nhiệmvụ quốc phòng, an ninh, là nhiệm vụ trọng tâm, bám sát các Nghị quyết của Đảngvà chiến lược phát triển quốc phòng, an ninh trong tình hình mới để quy hoạchcác vùng trọng điểm, có vị trí chiến lược phục vụ quốc phòng, an ninh.

Định hướng quy hoạch giai đoạn tới là tập trung quyhoạch đất đai có vị trí chiến lược về quốc phòng dành ưu tiên cho phát triểntiềm lực quốc phòng của tỉnh và cả nước, quy hoạch sử dụng đất khu vực kết hợpgiữa phát triển kinh tế với quốc phòng, và đất đai phục vụ nhiệm vụ phát triểnkinh tế, kêu gọi đầu tư.

- Đối với các dự án phát triển vùng ven biển, các khudu lịch, khu công nghiệp đều có tính đến các phương án bảo vệ quốc phòng, anninh, quy hoạch phát triển khai thác thủy sản, các cảng cá và khu dịch vụ hậucần nghề cá kết hợp với bảo vệ an ninh vùng biển và có phương án chuyển trạngthái từ thời bình sang thời chiến.

- Khảo sát, nghiên cứu các hang động thiên nhiên cóvị trí chiến lược về quốc phòng an ninh để quy hoạch địa điểm xây dựng các côngtrình phòng thủ của tỉnh để phát triển tiềm lực quốc phòng của địa phương vàcủa Quân khu.

- Quy hoạch các địa bàn trọng điểm về an ninh, nhấtlà an ninh nông thôn để xây dựng phương án bảo vệ; quy hoạch các nơi luyện tập,đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụcủa cán bộ chiến sĩ, xây dựng cơ sở vật chất cho lực lượng vũ trang như trụ sởcông an xã, phường, Đồn Biên phòng, quy hoạch đầu tư các công trình phòng thủ,củng cố tiềm lực về quốc phòng, an ninh; bảo vệ các công trình trọng điểm.

Phần thứ ba

MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1.Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lựccạnh tranh, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển

- Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nâng caotrách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc triển khai thực hiệncông tác cải cách hành chính; tiếptục rà soát các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý,đặc biệt là trong công tác quản lý đất đai, quản lý đầu tư xây dựng, quản lýkinh doanh, hộ tịch, hộ khẩu và trong giải quyết các nhu cầu, quyền lợi chínhđáng của người dân và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung hoặc kiếnnghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ kịp thời;

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả mô hình một cửa liênthông trên lĩnh vực đầu tư tại Văn phòng Phát triển kinh tế (EDO); rà soát,điều chỉnh bổ sung kịp thời các quy trình, thủ tục còn bất cập cho phù hợp vớitình hình thực tế, trên tinh thần là tạo điều kiện thuận lợi tốt cho nhà đầu tưđến đầu tư, sản xuất kinh doanh tại tỉnh; triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện có hiệu quả Đề án nâng cao chỉsố năng lực cạnh tranh của tỉnh giai đoạn 2011 - 2015, phấn đấu đến năm 2015,nâng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh đứng đầu cảnước;

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng việc thực hiện cơchế một cửa, cơ chế một cửa liên thông theo Quyết định 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ;

- Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vàohoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệuvề thủ tục hành chính và công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh; sử dụng hiệu quả thông tin điện tửtrong chỉ đạo, điều hành trao đổi thông tin ở các cơ quan hành chính Nhà nước.Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện có kết quảviệc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vàohoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước. Việc áp dụng thực hiện hệ thốngquản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO phải gắn với quy trình thực hiện cơ chếmột cửa, cơ chế một cửa liên thông;

- Đánh giá và củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, côngchức quản lý ở các cấp, các ngành, đảm bảo đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chính trịtrong bối cảnh, tình hình hiện nay; thực hiện tốt công tác giáo dục, nâng cao tinh thần, thái độ, ý thức phụcvụ nhân dân của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, đặc biệt là những cánbộ, công chức có quan hệ trực tiếp với người dân và doanh nghiệp; xử lý nghiêm những cán bộ, công chứcthuộc quyền quản lý có hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn, chậm trễ trong giảiquyết công việc;

- Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạoỦy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành và các nhà đầu tư, để xử lý kịp thời cáckhó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, đảm bảo dự án hoạtđộng hiệu quả, đúng tiến độ;

- Thực hiện tốt việc giao đất vàcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp theo đúng quy định hiệnhành, giúp doanh nghiệp chủ động tiếp cận vay vốn hoạt động sản xuất kinhdoanh, quản lý, sử dụng đất đúng mục đích.

2.Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển:

a) Đối với vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước:

- Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư để đăng ký cácnguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương như: trái phiếu Chính phủ, nguồn hỗ trợ có mục tiêu của Trung ương, nguồn tăngthu, kết dư,lập danh mục các dự án huy động từ nguồn vốn vay, từ các nguồn tài chínhhợp pháp khác; huy động nguồn vốn vay nhàn rỗi Kho bạc để đầu tư các công trìnhdự án bức xúc của tỉnh như giao thông đô thị, mở rộng hạ tầng các cụm côngnghiệp...

- Bám sát các quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cảnướcđể đề nghị Trung ương đầu tưtrên địa bàn đúng tiến độ đề ra; phốihợp tốt với các bộ, ngành Trung ương để triển khai các công trình trọng điểmcủa quốc gia đầu tư trên địa bàn.

- Rà soát việc quản lý và sử dụng đất đai để có biệnpháp khai thác sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất thông qua đấu giá quyền sửdụng đất và đấu thầu dự án để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng; xây dựng và công bố bảng giá đất hàngnăm sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường, vừatăng nguồn thu cho ngân sách, tránh thất thu tài nguyên từ đất nhưng phải bảođảm giá đất hợp lý để khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư tại tỉnh.

- Làm tốt công tác chuẩn bị đầutư để đăng ký các nguồn vốn từ Trung ương để đầu tư vào các công trình kết cấuhạ tầng lớn của mạng lưới giao thông, thủy lợi, bệnh viện, cơ sở đào tạo, ... cótính chất liên vùng, liên tỉnh trên địa bàn tỉnh;

b) Đối với vốn ODA, FDI:

- Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư để tranh thủ nguồntài trợ ODA, xây dựng chiến lược thu hút, kế hoạch vận động và sử dụng vốn ODAtập trung vào lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là hạ tầng đôthị, giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục, dạy nghề, cơ sở hạ tầng ở các vùngnghèo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, các công trình bảo vệ môitrường, đa dạng sinh học, xoá đói giảm nghèo, ...

- Tiếp tục chủ động, hợp tác với các mục tiêu ưu tiênvà tiêu chí của nhà tài trợ; phốihợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư vận động nguồn vốn ODA đối với các nhà tài trợ đaphương, đồng thời chủ động vận động tài trợ thông qua kênh vốn của các tổ chứcphi chính phủ và một số khoản hỗ trợ song phương.

- Tập trung kêu gọi vốn FDI cho các cụm ngành nănglượng, du lịch, công nghiệp; có cơchế khuyến khích các doanh nghiệp trong tỉnh hợp tác, liên doanh, liên kếttrong hoạt động sản xuất - kinh doanh với các doanh nghiệp trong nước để khaithác tiềm năng, thế mạnh của địa phương;

c) Đối với vốn tín dụng của Nhà nước: triển khai chương trình hỗ trợ tíndụng Nhà nước cho các doanh nghiệp có các dự án thuộc đối tượng được hỗ trợtheo quy định của Chính phủ; hỗ trợ tín dụng sản xuất các sản phẩm chất lượngcao, chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng và hướng đến xuất khẩu; tiếp tục kiến nghị trung ương hỗ trợvay vốn tín dụng ưu đãi Nhà nước hàng năm để triển khai chương trình đầu tư hạtầng giao thông nông thôn, hạ tầng làng nghề và nuôi trồng thủy sản;

d) Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp ngoài quốc doanhvà dân cư:

-Tiếp tục thực hiện đầy đủ, chính sách ưu đãi tối đa theo khung quy định củaChính phủ để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế triểnkhai các dự án thuộc lĩnh vực có lợi thế so sánh của địa phương như kinh tếbiển, xây dựng các khu đô thị, văn phòng cho thuê, xây dựng danh mục dự án ưutiên thực hiện hình thức đầu tư BOT, BT đối với các lĩnh vực đầu tư hạ tầnggiao thông, cảng biển.

- Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư trong và ngoàinước để thu hút làn sóng đầu tư mới từ các quốc gia và các vùng khác vào tỉnh,chú trọng thu hút nguồn từ Nhật Bản, Hoa Kỳ và các quốc gia khác vào Việt Nam, ...

- Động viên, khuyến khích các thành phần kinh tế đầutư vốn phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, tiểu điền; đầu tưphát triển các cơ sở chế biến nông, lâm sản, khôi phục các làng nghề truyền thốngcủa địa phương.

- Thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hoá trêncác lĩnh vực văn hoá - xã hội thông qua các chính sách khuyến kích hỗ trợ cụthể từng lĩnh vực y tế, dạy nghề, giáo dục, văn hoá và thể thao.

- Xây dựng chương trình hợp tác với các tỉnh, thànhnhư: thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh khu vực Nam Trung bộ và Lâm Đồng, … để huyđộng các nguồn lực khai thác các lợi thế so sánh của tỉnh; từng bước đẩy mạnhhợp tác quốc tế, hoạt động kinh tế đối ngoại và hợp tác đầu tư với một số tỉnhcủa một số nước phát triển có tiềm năng về thị trường và trình độ khoa học côngnghệ phát triển.

- Ngoài việc hợp tác trong các vấn đề về kinh tế - xãhội cần phải thực hiện tốt việc hợp tác trong lĩnh vực thông tin, dự báo; đảmbảo các thông tin cũng như dự báo về kinh tế - xã hội của các tỉnh cũng nhưvùng, thường xuyên được trao đổi, cập nhật.

3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

-Tập trung xúc tiến mời gọi các trường đại học, các trung tâm đào tạo có uy tín,có kinh nghiệm để đầu tư thành lập cơ sở đào tạo tại tỉnh đồng thời cụ thể hoácác cơ chế, chính sách của Chính phủ vào điều kiện thực tiễn của địa phương đểthu hút các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp có dự án đầu tư quy mô lớn mởcác trường đào tạo hoặc liên kết mở các lớp đào tạo để đào tạo các ngành nghềđặc thù cho doanh nghiệp; tích cực liên danh, liên kết với các trường đại họclớn trong vùng để đào tạo nhân lực tại chỗ cho tỉnh;

-Tăng kinh phí đầu tư từ ngân sách tỉnh để đầu tư các cơ sở đào tạo để đáp ứngyêu cầu đào tạo nghề cho lao động trong nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu laođộng sang công nghiệp và dịch vụ, nhất là các ngành công nghiệp sử dụng nhiềulao động của địa phương ở trình độ thấp, lao động phổ thông; xây dựng và banhành chính sách cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho lao động được học nghề nhấtlà dạy nghề cho nông dân, làng nghề, khuyến khích các tổ chức cá nhân tham giadạy nghề, làm tốt công tác xúc tiến việc làm cho lao động sau đào tạo tìm đượcviệc làm;

- Tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích tài năng trẻnghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng những thành quả công nghệ mới; trẻ hoá đội ngũcán bộ quản lý, tạo điều kiện tham quan, học tập, giao lưu với nước ngoài đểnắm bắt các thông tin về thị trường, công nghệ, ... thường xuyên mở các lớp đàotạo cán bộ quản lý doanh nghiệp để nâng cao trình độ quản lý, đáp ứng yêu cầuhội nhập và cạnh tranh;

-Có chính sách sử dụng và thu hút nhân tài, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợngười lao động được đào tạo lại, học nghề mới, tự tìm kiếm việc làm đồng thờiđẩy nhanh tốc độ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơcấu kinh tế của tỉnh trong giai đoạn tới; quan tâm đầu tư cho các sinh viên củatỉnh đang theo học ở các trường đại học và các trường dạy nghề để sau khi tốtnghiệp về quê hương làm việc;

- Có chính sách khuyến khích các tổ chức xã hội, cá nhânđầu tư vào giáo dục, đào tạo theo hướng đào tạo nhiều cấp học, hình thành nhanhchóng các trường học ngoài công lập có chất lượng để nâng cao chất lượng giáodục phổ thông.

4.Phát triển khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường:

a)Khuyến khích các doanh nghiệp tập trung đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất,thay thế dần các thiết bị lạc hậu, đồng bộ hoá công nghệ trong những ngành cólợi thế như chế biến nông - lâm - thủy sản, chế biến thực phẩm; cung cấp thôngtin về công nghệ mới cho các doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầutư đổi mới công nghệ sản xuất và quản lý; mở rộng hình thức liên kết hợp tácgiữa các cơ sở sản xuất với cơ quan nghiên cứu ứng dụng khoa học và các trườngđại học nhằm đưa khoa học vào thực tế cuộc sống, đón bắt kịp thời đà phát triểncủa cả nước và trên thế giới; tuyên truyền phổ biến đến doanh nghiệp trong tỉnhvề chính sách năng suất - chất lượng; chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệmvà hiệu quả;

b)Đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật, đầu tư đổi mới thiết bị máy móc, dây chuyền côngnghệ đi đôi với bảo vệ môi trường:

-Lựa chọn đúng công nghệ cần đổi mới, sử dụng công nghệ nhiều tầng, kết hợp côngnghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; chuyển từ sản xuất và xuất khẩu sảnphẩm thô sang chế biến và xuất khẩu sản phẩm tinh, sản xuất hàng thay thế nhậpkhẩu.

-Liên kết các viện nghiên cứu, các trường đại học, hỗ trợ kinh phí cho các côngtrình nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp, khôngphân biệt sở hữu.

-Tập trung đầu tư, đổi mới trang thiết bị công nghệ vào các ngành mà thị trườngtrong nước và thế giới có nhu cầu mà tỉnh có điều kiện sản xuất và đảm bảo cạnhtranh được; kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới công nghệ và bảo vệ môi trường.

-Khuyến khích các doanh nghiệp, làng nghề đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chấtthải rắn, lỏng, khí trước khi thải ra môi trường; không nhập các thiết bị cócông nghệ lạc hậu cũng như thiết bị gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

-Ban hành các quy chế, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa xử lý các hành vi huỷhoại hoặc gây ô nhiễm môi trường, nhất là đối với thành phố, thị trấn, khu côngnghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu dân cư tập trung, khu vui chơi giảitrí, du lịch, bệnh viện, bến xe, ...

-Xây dựng chương trình tổng thể triển khai các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môitrường trong các ngành sản xuất như sử dụng các công nghệ tiên tiến thân thiệnvới môi trường, xử lý chất thải, giám sát chất lượng nước, xử lý nước thải; bảovệ rừng và nâng cao chất lượng độ che phủ rừng, bảo tồn các hệ sinh vật, rạngsan hô ven biển.

-Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao ý thức người dân trong bảo vệ môitrường và chống biến đổi khí hậu.

-Đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng sạch, khuyến khích các cơ sở sản xuấtđổi mới công nghệ thân thiện với môi trường.

5. Nâng cao hiệuquả, hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước:

a)Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, tiếp tục phân cấp toàn diệncho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và cơ sở nhằm phát huy mạnh mẽ tínhnăng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địaphương các cấp trên cơ sở phân định rõ, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệmcủa từng cấp trong bộ máy chính quyền Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc hiệu quả,việc nào, cấp nào sát thực tế hơn, giải quyết kịp thời và phục vụ tốt hơn cácyêu cầu của tổ chức và nhân dân thì giao cho cấp đó thực hiện; phân cấp phải rõviệc, rõ địa chỉ, rõ trách nhiệm, gắn với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp; phâncấp phải bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lựctài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; đồng thời tăngcường kỷ luật, kỷ cương hành chính, trách nhiệm của người đứng đầu để nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước.

b) Tăngcường năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức ở các cơ quan hành chính Nhà nướccó đủ khả năng và mang tính chuyên nghiệp cao để cụ thể hoá các chủ trương củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế củatỉnh của từng thời kỳ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới đòi hỏi.

c)Tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước theo hướng tinhgọn phù hợp với chức năng nhiệm vụ theo quy định của Chính phủ, tránh chồngchéo hoặc bỏ sót chức năng nhiệm vụ; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơquan hành chính Nhà nước để giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp và người dângắn với các chế tài cụ thể.

d)Tăng cường hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạmpháp luật thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh,nhất là các cơ chế chính sách để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,đặc biệt là các chính sách phát triển một số lĩnh vực then chốt: chính sáchphát triển các khu vực động lực về kinh tế, phát triển dịch vụ, du lịch, tàichính, đào tạo nhân lực v.v.

6.Mở rộng hợp tác liên kết phát triển vùng, cả nước và hội nhập quốc tế:

a)Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức,doanh nghiệp và người dân trong tỉnh về kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, về hội nhập kinh tế quốc tế; cập nhật kiến thức về hội nhập kinh tếquốc tế liên quan đến các hiệp định kinh tế - thương mại - đầu tư mà Việt Namđã ký kết, các khó khăn đối với doanh nghiệp khi tham gia Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) cho đội ngũ cán bộ, công chức và quản lý doanh nghiệp.

b)Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, nâng cao hoạt động kinh tế đối ngoại và hợp tác đầutư với một số thành phố lớn của một số nước phát triển có tiềm năng về thịtrường và trình độ khoa học công nghệ phát triển nhằm tăng cường quảng bá hìnhảnh của Ninh Thuận, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật giỏi, chuyểngiao khoa học kỹ thuật tiên tiến phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đạihoá và tăng cường xúc tiến thương mại và đầu tư.

c)Mở rộng hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực giữa Ninh Thuận với các tỉnh trongkhu vực Nam Trung bộ và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cácthành phố lớn trong cả nước:

- Tập trung phối hợp khai thác và phát triển các thế mạnhvà đặc thù của vùng và lợi thế so sánh của từng địa phương; ưu tiên hợp tácliên kết phát triển du lịch, thương mại, sản xuất, khai thác và chế biến, tiêuthụ các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, chú trọng các sản phẩmtruyền thống là thế mạnh của từng địa phương; phối hợp thực hiện tốt công tácquản lý khai thác rừng, biển, khai thác xa bờ; liên kết, tổ chức các hoạt độnggiao lưu văn hoá, lễ hội truyền thống; phối hợp trong việc bảo vệ an ninh quốcphòng vùng biển, vùng giáp ranh.

-Hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và dạynghề.

7.Tổ chức thực hiện: tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh giai đoạn 2011 - 2015 là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành từ tỉnhđến cơ sở, cộng đồng doanh nghiệp, cán bộ và nhân dân trong tỉnh. Đây là khâucó ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm vàphấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể phát triển kinhtế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lầnthứ XII.

a)Nhiệm vụ của Sở Kế hoạch và Đầu tư

- Căn cứ Quyết định phê duyệt Kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội 5 năm (2011 - 2015) của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch vàĐầu tư cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch 5 năm bằng kế hoạch cụthể hàng năm.

- Trên cơ sở Kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, tham mưu Ủyban nhân dân tỉnh ban hành khung theo dõi đánh giá thực hiện Kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm theo kết quả đầu ra; tổ chức đánh giá giữa kỳ tìnhhình thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 và có báo cáo đánh giá giữa kỳ, từ đóđề xuất các giải pháp phù hợp để hoàn thành thắng lợi Kế hoạch 5 năm 2011 -2015.

- Trên cơ sở khả năng vốn ngân sách địa phương cânđối hàng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp Sở Tài chính tham mưu xácđịnh danh mục công trình sử dụng vốn ngân sách địa phương theo thứ tự ưu tiên;tìm các giải pháp tích cực và hữu hiệu huy động cao nhất các nguồn lực để pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển đạt mục tiêu đề ra.

b)Nhiệm vụ của các sở, ban, ngành thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thànhphố:

-Tập trung hoàn thành công tác rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triểncác ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu của tỉnh giai đoạn 2011 - 2020; quy hoạchsử dụng đất đai giai đoạn 2011 - 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 -2015, đẩy mạnh công tác quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinhtế địa phương trong giai đoạn tới.

- Trên cơ sở Kế hoạch này, các sở, ban, ngành và Ủyban nhân dân các huyện, thành phố hoàn thiện kế hoạch 5 năm của ngành, địaphương mình và cụ thể hoá vào kế hoạch hàng năm nhằm thực hiện tốt các mụctiêu, nhiệm vụ đề ra.

- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai xây dựngvà ban hành một số chương trình, đề án trọng tâm để tổ chức triển khai thựchiện thắng lợi kế hoạch này.

- Chủ động triển khai các biện pháp huy động cácnguồn lực để thực hiện các dự án ưu tiên giai đoạn 2011 - 2015 trong kế hoạch,các dự án đầu tư trọng điểm của ngành và địa phương mình.

- Hàng năm, các sở, ngành và địa phương tổ chức đánhgiá, kiểm điểm kết quả thực hiện thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành và địaphương mình được phân công; giữa kỳ có tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thựchiện nhiệm vụ phục vụ công tác đánh giá chung của tỉnh./.

FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN

Quyết định 70/2011/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2011 - 2015) do tỉnh Ninh Thuận ban hành



[1]Năm 2010: Chỉ tiêu tỷ lệ hộnông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh và hộ gia đình nông thôn có côngtrình hợp vệ sinh được rà soát, điều tra và công bố tại Quyết định số 1343/QĐ-UBND ngày 16/6/2011 của UBND tỉnh

[2] Tốc độ tăng GDP qua các năm: năm 2006 là 14,1%; năm2007 là 11,4%, năm 2008 là 8,4%, năm 2009 là 7,3% và năm 2010 là 11,8%.

[3] Tỷ trọng GDP khu vực Nhà nước giảm từ 26,95% năm2005, xuống còn 14,5% năm 2010; tỷ trọng GDP khu vực kinh tế ngoài Nhà nướctăng từ 72,1% năm 2005 lên 83,4% năm 2010 (trong đó khu vực kinh tế tư nhântăng từ 10,2% năm 2005 lên 17,8% năm 2010), khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài tăng từ 0,86% năm 2005 lên 2,1% năm 2010.

[4] 04 hồ hoàn thành: hồ Sông Sắt, hồ Tà Ranh, hồ NướcNgọt, hồ Bầu Ngứ; 9 hồ đang thi công: 5 hồ chứa hệ thống thủy lợi nhỏ và vừa,hồ Bà Râu, hồ Lanh Ra, hồ Sông Biêu, hồ Núi Một.

[5] Câyneem đã phát triển được trên 2.000 ha rừng trồng tậptrung tại Ninh Phước, Ninh Hải và Thuận Bắc.

[6] Diện tích cây mía 1.600 ha (mục tiêu là3.000 ha), mì 1.902 ha (mục tiêu là 2.500 ha), cây nho 1.160 ha (mục tiêu 3.000ha), thuốc lá 1.210 ha (mục tiêu 2.000 ha).

[7] Năm 2010 đạt 7,6 triệu USD, bằng 24% mụctiêu kế hoạch (30 triệu USD).

[8] Vốn ngân sách Nhà nước171,2 tỷ đồng, vốn ODA 96 tỷ đồng, vốn huy động đóng góp của nhân dân 12,2 tỷđồng.

[9]) GDP ngành du lịch năm 2005 chiếm 2%, năm2010 chiếm 3,2% trên tổng GDP tỉnh, tốc độ tăng bình quân hàng năm 15%/năm.

[10] Năm 2008: Mật độ giao thông của tỉnh là 0,28Km đường/ Km2 , cả nước là 0,68 km/km2 .

[11]) Năm 2009: Giá trị xuất khẩu đạt 40,75 triệuUSD, chỉ bằng 62,3% giá trị xuất khẩu năm 2008.

[12] Gồm: 3 ngân hàng thương mại Nhà nước; 6chi nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng thương mại cổ phần; 3 Quỹ tín dụng nhân dân và 2 ngân hàng chính sách: Ngân hàng Chính sách xã hội và Chi nhánh Ngân hàng phát triển.

[13] Dư nợ ngắn hạn 2.850 tỷ đồng chiếm 49,1%,tăng bình quân 22,7%/năm; dư nợ trung và dài hạn 2.950 tỷ đồng, chiếm 50,9%,tăng bình quân 25,8%/năm.

[14] Năm 2005: 13,2%, năm 2006: 15,9%, năm 2007: 16,65%,năm 2008: 18,35%, năm 2009: 20,9%.

[15] Tiểu học: giảm từ 1,8% năm 2006 và còn 0,8% năm2010; THCS: giảm từ 5,5% năm 2006 xuống còn dưới 3,3% năm 2010; THPT: giảm từ3,2% năm 2006 xuống còn dưới 2,3% năm 2010.

[16] Đến năm 2010, toàn tỉnh có 165 cơ sở ngoài cônglập chiếm 39,6% trong tổng số cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, trong đó bậcmầm non có 87/108 trường, chiếm 80,55%, bậc trung học phổ thông có 01/17 trườngchiếm 5,9%, khối chuyên nghiệp có 01/5 trường chiếm 20%, cơ sở ngoại ngữ - tinhọc 11/11 chiếm 100%;

[17]Giáo viên mầm non đạt chuẩn93,72%, trên chuẩn là 20,3%; giáo viên tiểu học đạt chuẩn 96,6%, trên chuẩn73,88%, giáo viên THCS đạt chuẩn 98,6%, trên chuẩn 41,88%, giáo viên THPT đạtchuẩn 100%, trên chuẩn 4,23%

[18] Đến nay trên địa bàn tỉnh mớicó 1 Trường phổ thông tư thục (mục tiêu có từ 2-3 trường); Số học sinh ngoàicông lập ở bậc học mầm non mới đạt 28,9% (mục tiêu là 60%); trung học phổ thông31,4% (mục tiêu là 40%) và dạy nghề đạt 3% (mục tiêu là từ 50-60%);

[19] Đến cuối năm 2009, chỉ tínhriêng khối hành chính sự nghiệp, toàn tỉnh có: 15 tiến sĩ; 105 thạc sĩ; 4.589đại học và cao đẳng. Các tổ chức KH&CN có tăng về số lượng, chất lượng vàhiệu quả hoạt động. Đến nay toàn tỉnh có 11 tổ chức KH&CN, trong đó có 01tổ chức KH&CN tư nhân; đã cấp giấp phéphoạt động KH&CN cho 10 tổ chức.

[20]  Đất nông nghiệp: 62.842 ha/96.409hộ; đất ở : 3.519,18 ha/111.721 hộ.

[21] Bệnh viện Lao và bệnh phổi, bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng, Trung tâm phòng chốngHIV/AISD, nâng cấp mở rộng trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, triển khai đầutư mới bệnh viện đa khoa tỉnh quy mô 500 giường

[22] Trong 5năm đã đào tạo 96 bác sĩ; trong đó: Y học cổ truyền 08 bác sĩ, dược sĩ đại học07, chuyên khoa I là 40, thạc sĩ 12 và chuyên khoa II là 01 bác sĩ.Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế đã tự đàotạo và liên kết đào tạo được 24 lớp/993 học viên trình độ sơ cấp và trung cấp ytế

[23] Năm 2005 có 52% trạm y tế xã phườngcó bác sĩ, năm 2009 tỷ lệ này còn 44%, đặc biệt các xã miền núi đạt thấp, năm2005 đạt 27% và năm 2009 đạt 26%.

[24] Năm 2009, đạt tỷ lệ 5 bác sĩ trên 1 vạndân, tức là chỉ có 1 bác sĩ phục vụ cho 2.000 người dân tỉnh Ninh Thuận, trongkhi đó trung bình cả nước là 1 bác sĩ phục vụ 1.400 dân; tỷ lệ giường bệnh: đạt526 người dân được 1 gường bệnh, trong khi bình quân cả nước là 400 dân được 1giường bệnh.