HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 76-HĐBT

Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 1986

QUYẾT ĐỊNH

CỦAHỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 76-HĐBT NGÀY 26-6-1986 VỀ VIỆC BAN HÀNH CÁCBẢN QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ CHỦ SẢN XUẤT, KINH DOANHCỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Để thực hiện Nghịquyết 306 (dự thảo) của Bộ Chính trị về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinhdoanh của các đơn vị kinh tế cơ sở;
Xét đề nghị của các Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Vật giá Nhà nước,Bộ trưởng các Bộ lao động, Vật tư, Tài chính, Nội thương, Ngoại thương, Tổnggiám đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều1. - Ban hành kèm theo Quyết định này chín (9) Bản qui định tạm thời về:

1. Quyền tự chủcủa các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực kế hoạch hoá.

2. Bảo đảm vậttư - kỹ thuật nhằm thực hiện quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vịkinh tế cơ sở.

3. Quyền tự chủcủa các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực lao động, tiền lương.

4. Quyền tự chủtài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở.

5. Cơ chế kinhdoanh xã hội chủ nghĩa và quản lý nhà nước của ngân hàng để bảo đảm quyền tự chủsản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở.

6. Quyền tựchủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực giá cả.

7. Quyền tự chủcủa các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ.

8. Quyền tự chủcủa các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và xuất nhậpkhẩu.

9. Quyền tự tựchủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.

Điều2. - Các bản quy định tạm thời nói ở điều 1 có hiệu lực thi hành kể từ ngày1-7-1986. Bãi bỏ các quy định trong các văn bản trước đây trái với nội dung cácbản quy định tạm thời nói trên.

Điều3. - Các Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Bộtrưởng các Bộ Lao động, Vật tư, Tài chính, Nội thương, Ngoại thương, Tổng giámđốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Trọng tài Kinh tế Nhà nước theo thẩm quyền củamình, hướng dẫn thi hành các qui định nói trên.

Điều 4.- Các Bộ Trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồngBộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộcTrung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Đỗ Mười

(Đã ký)

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ TRONGLĨNH VỰC KẾ HOẠCH HÓA(Ban hành kèm theo Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộtrưởng)

I. ĐỐIVỚI CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ QUỐC DOANH CƠ SỞ

(Gọi chung là xínghiệp)

Điều 1. - Nội dung kế hoạch

Mọi hoạt động sảnxuất - kinh doanh - xã hội của xí nghiệp, phải được phản ánh trong một kế hoạchsản xuất - kỹ thuật - tài chính - xã hội thống nhất theo kế hoạch 5 năm và kếhoạch hàng năm. Kế hoạch do xí nghiệp chủ động xây dựng lên theo phương hướng,mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước theo nguyên tắc hoạch toán kinh tế và kinhdoanh xã hội chủ nghĩa, nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và đem lạihiệu quả kinh tế cao.

Phải lấy các địnhmức kinh tế - kỹ thuật được cấp có thẩm quyền quy định làm căn cứ cho việc xâydựng kế hoạch và xét duyệt và hoàn thành kế hoạch. Xí nghiệp chủ động xây dựngcác loại định mức được phân cấp trình các cấp có thẩm quyền xét duyệt và banhành.

Kế hoạch toàn diệncủa xí nghiệp bao gồm các bộ phận kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; vậttư - kỹ thuật, vận tải; lao động, tiền lương; đầu tư xây dựng cơ bản; khoa học- kỹ thuật; giá thành; tài chính, tín dụng; đời sống xã hội v.v... và được thểhiện bằng hệ thống các chỉ tiêu hiện vật và giá trị.

Điều 2. - Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm.

a) Kế hoạch sản xuấtvà tiêu thụ sản phẩm do xí nghiệp chủ động xây dựng, căn cứ vào những mặt sauđây: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch Nhà nước do cơ quan quản lý cấptrên hướng dẫn; đề án sắp xếp, tổ chức lại sản xuất; các thông tin kinh tế - kỹthuật; kết quả điều tra nhu cầu thị trường các đơn vị đặt hàng; các hợp đồngkinh tế ký kết giữa xí nghiệp với các tổ chức kinh doanh vật tư, tiêu thụ sảnphẩm, vận tải, dịch vụ v.v...

b) Đối với những sảnphẩm chủ yếu quy định trong nhiệm vụ thiết kế (ban đầu và bổ sung) của xí nghiệpvà thuộc danh mục sản phẩm trọng yếu cho nhu cầu sản xuất, đời sống quốc phòngvà xuất khẩu, thì xí nghiệp phải đạt kế hoạch sản xuất theo yêu cầu của Nhà nước,Nhà nước giao nhiệm vụ sản xuất và chỉ định các tổ chức tiêu thụ, xí nghiệpcùng các tổ chức tiêu thụ được chỉ định chủ động ký hợp đồng kinh tế, xác địnhquy cách, chủng loại và cơ cấu mặt hàng cụ thể, thời hạn giao hàng. Trường hợptổ chức tiêu thụ được chỉ định không ký hợp đồng hoặc ký không hết số lượng đượcgiao thì xí nghiệp đề nghị cấp trên cho phép ký hợp đồng tiêu thụ với các tổ chứctiêu thụ quốc doanh khác. Khi có yêu cầu thay đổi mặt hàng, xí nghiệp sau khiđã bàn bạc thoả thuận với khách hàng, phải báo cáo và được sự đồng ý của cơquan quản lý cấp trên trực tiếp.

Sản phẩm trọng yếucủa nền kinh tế quốc dân được quy định trong doanh mục do Hội đồng Bộ trưởngban hành 5 năm một lần và có thể điều chỉnh hàng năm. Ngoài ra, các Bộ và Uỷban Nhân dân địa phương, tỉnh, thành phố, huyện, quận), tuỳ theo yêu cầu củamình, có thể cụ thể hoá và bổ sung vào doanh mục một số sản phẩm cần thiết khácđể giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc.

c) Ngoài các sảnphẩm chủ yếu thuộc chỉ tiêu pháp lệnh được giao và phải ưu tiên thực hiện,trong việc sắp xếp, tổ chức sản xuất, xí nghiệp được quyền bố trí sản xuất cácsản phẩm khác bằng các nguồn khả năng tự cân đối để tận dụng năng lực sản xuấtvà đáp ứng nhu cầu thị trường, nhưng phải đăng ký mặt hàng với ngành chủ quảnvà báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp. Sản phẩm do xí nghiệp bố trí sảnxuất thêm phải tiêu thụ thông qua hợp đồng kinh tế ký kết với tổ chức kinhdoanh vật tư hoặc thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, trước hết các tổ chức quốcdoanh. Trường hợp các tổ chức này không tiêu thụ, thì xí nghiệp được tổ chứctiêu thụ trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức kinh tế tập thể theo quy định củaNhà nước.

d) Xí nghiệp đượcquyền chủ động tổ chức hoặc tham gia các hình thức liên kết và hợp tác sản xuấtvới các tổ chức kinh tế khác, nhưng phải phản ánh vào kế hoạch của xí nghiệp vàbáo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.

Trong quá trình thựchiện nếu còn tiếp tục mở rộng khả năng hợp tác sản xuất, kinh doanh thì cũng phảibổ sung vào kế hoạch và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.

Điều 3. - Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản

Xí nghiệp chủ độngtrong việc bảo quản, duy trì và sử dụng có hiệu quả tài sản cố định được Nhà nướcgiao; được quyền xử lý những tài sản cố định không dùng đến theo qui định củaNhà nước; được mua sắm hoặc đổi mới tài sản cố định để đáp ứng yêu cầu của sảnxuất.

Đối với những xínghiệp đang sản xuất, việc đầu tư để duy trì năng lực sản xuất, thay đổi quytrình công nghệ, mở rộng sản xuất, đầu tư theo chiều sâu được thực hiện chủ yếubằng vốn tự có của xí nghiệp hoặc bằng vốn vay Ngân hàng; có thể vay vốn nướcngoài hoặc được Nhà nước cho phép và Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh.

Kế hoạch đầu tư vàdanh mục công trình (kể cả công trình sản xuất và công trình phúc lợi) bằng vốntự có và vốn vay (kể cả phần tự làm và phần giao thầu) do xí nghiệp chủ độngxây dựng trên cơ sở luận chứng kinh tế - kỹ thuật được duyệt và báo cáo lên cơquan quản lý cấp trên trực tiếp. Cơ quan này có trách nhiệm xem xét và tuỳ theokhả năng của mình, có thể cân đối một phần vật tư, thiết bị chủ yếu; phần còn lạido xí nghiệp tự cân đối theo các quy định về quản lý vật tư của Nhà nước.

Điều 4. - Kế hoạch khoa học - kỹ thuật.

Xí nghiệp chủ độnglập kế hoạch ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất như cải tiến và đổi mới quytrình công nghệ; hợp lý hoá sản xuất, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm;sản xuất thử sản phẩm mới; tiết kiệm vật tư, năng lượng; sử dụng nguyên liệutrong nước thay nguyên liệu nhập khẩu, tận dụng phế liệu, nguyên liệu táisinh... xem đây là những biện pháp cực kỳ quan trọng bảo đảm hoàn thành kế hoạchcủa xí nghiệp.

Xí nghiệp có kế hoạchnghiên cứu khoa học trên cơ sở tự tổ chức nghiên cứu, hoặc ký hợp đồng nghiên cứuvới các đơn vị khác, được quyền mua các sáng chế, bí quyết, kỹ thuật sở hữucông nghiệp trong nước và ngoài nước để áp dụng vào sản xuất theo quy định củaNhà nước. Xí nghiệp chủ động bố trí vốn, vật tư, thiết bị cho việc thực hiện kếhoạch nghiên cứu nhưng phải tính toán hiệu quả kinh tế và báo cáo lên cơ quanquản lý cấp trên trực tiếp.

Xí nghiệp đượcgiành phần lợi nhuận (hay số tiền tiết kiệm được) do kết quả ứng dụng kỹ thuậttiến bộ đem lại trong 2 năm đầu để đưa vào các quỹ xí nghiệp và dùng một phần đểthưởng cho tập thể hoặc cá nhân đã đóng góp theo hợp đồng khoa học vào ứng dụngkỹ thuật tiến bộ.

Điều 5. - Kế hoạch đời sống và xã hội.

Xí nghiệp chủ độngxây dựng kế hoạch đời sống và xã hội của công nhân, viên chức; đề ra các biệnpháp cải thiện về ăn, ở, đi lại, bảo vệ sức khoẻ và mở rộng các phúc lợi công cộngcho công nhân, viên chức. Đặc biệt chú trọng mở rộng sản xuất phụ và kinh tếgia đình; thu hút số lao động dôi thừa, lao động nhàn rỗi của gia đình cán bộ,công nhân, viên chức tham gia sản xuất để tăng thêm thu nhập. Sử dụng có hiệuquả quỹ phúc lợi để cải thiện nhà ở, nhà ăn, nhà trẻ mẫu giáo v.v...

Xí nghiệp phải báocáo kế hoạch đời sống, xã hội cho Uỷ ban Nhân dân địa phương (tỉnh, thành, huyện,quận) sở tại để địa phương tổng hợp và cân đối kế hoạch trên lãnh thổ.

Điều 6. - Các kế hoạch vật tư - kỹ thuật;lao động, tiền lương; giá thành; tài chính; tín dụng được xây dựng theo các quyđịnh của Hội đồng Bộ trưởng về bảo đảm vật tư - kỹ thuật, tổ chức lao động,ngân hàng, tài chính. Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cùng các cơ quan liên quan sẽ hướngdẫn cụ thể.

Điều 7. - Bảo vệ và nhận kế hoạch.

a) Xí nghiệp gửi dựán kế hoạch toàn diện lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trích gửi từngphần kế hoạch cho các cơ quan có liên quan (kế hoạch, tài chính, ngân hàng, vậttư, vật giá, lao động, nội thương, ngoại thương, thống kê, chính quyền địaphương (tỉnh, thành, huyện, quận) sở tại ...) trước khi bảo vệ kế hoạch ít nhấtlà 10 ngày. Nếu là xí nghiệp trọng điểm được Hội đồng Bộ trưởng (hoặc Uỷ banNhân dân tỉnh, thành phố) giao kế hoạch trực tiếp thì gửi dự án kế hoạch lên Bộchủ quản, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (hoặc sở chủ quản và Uỷ ban Kế hoạch tỉnh,thành phố) và trích gửi từng phần kế hoạch cho các cơ quan có liên quan.

b) Các xí nghiệptrọng điểm bảo vệ kế hoạch trước Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ chủ quản (nếulà xí nghiệp Trung ương), trước uỷ ban Kế hoạch tỉnh, thành phố và Sở chủ quản(nếu là xí nghiệp địa phương) để trình lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (hoặc Chủtịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố) giao kế hoạch trực tiếp cho các xí nghiệpnày, đồng thời giao cho Bộ (Sở) chủ quản để Bộ (Sở) điều hành thực hiện. Năm1986 đang thí điểm việc Hội đồng Bộ trưởng giao kế hoạch trực tiếp cho Liên hiệpcác xí nghiệp than Hòn Gai để rút kinh nghiệm, mở rộng ra cho các năm sau. Cácxí nghiệp khác bảo vệ và nhận kế hoạch trước thủ trưởng cơ quan quản lý cấptrên trực tiếp.

c) Cơ quan quản lýcấp trên trực tiếp của xí nghiệp phải có kết luận rõ ràng về những kiến nghị củaxí nghiệp và thông báo những vật tư, năng lượng, vận tải, dịch vụ cân đối choxí nghiệp; đồng thời thông báo cho cấp có thẩm quyền để giao chỉ tiêu pháp lệnhcho các tổ chức cung ứng vật tư, vận tải, dịch vụ được chỉ định. Trên cơ sở đó,xí nghiệp cùng các tổ chức này tiến hành ký kết các hợp đồng kinh tế để bảo đảmviệc thực hiện.

d) Thực hiện việcgiao kế hoạch chính thức cho các xí nghiệp từ tháng 12 năm trước để xí nghiệp kịpthời chuẩn bị và triển khai sản xuất ngay từ đầu năm kế hoạch. Đối với những xínghiệp sản xuất theo thời vụ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cùng các bộ chủ quản quyđịnh thời hạn giao kế hoạch cho phù hợp.

Điều 8. - Đối với xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh: Tuỳ theo tình hình sản xuất, kinh doanh cụ thể của từng loại xí nghiệpvà từng mặt hàng, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp có thể giao cho xí nghiệptừ 1 đến 3 chỉ tiêu pháp lệnh; cụ thể như sau:

a) Đối với xí nghiệpsản xuất các sản phẩm trọng yếu phục vụ sản xuất, đời sống, quốc phòng và xuấtkhẩu theo yêu cầu của Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm cân đối các điều kiện vậtchất chủ yếu thì giao 3 chỉ tiêu pháp lệnh:

- Giá trị sản lượnghàng hoá thực hiện (trong đó ghi rõ kim ngạch xuất khẩu, nếu có).

- Số lượng sản phẩmchủ yếu với quy cách và chất lượng quy định, tiêu thụ theo kế hoạch và hợp đồng(trong đó ghi rõ phần cho quốc phòng và cho xuất khẩu, nếu có).

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

b) Đối với các xínghiệp sản xuất các sản phẩm không thuộc danh mục sản phẩm trọng yếu của Nhà nước,các xí nghiệp dịch vụ, sữa chữa được Nhà nước cân đối một phần vật tư, xí nghiệptự cân đối một phần thì được giao 2 chỉ tiêu pháp lệnh:

- Giá trị sản lượnghàng hoá thực hiện (trong đó ghi rõ kim ngạch xuất khẩu nếu có).

- Các khoản nộp ngânsách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

c) Đối với các xínghiệp sản xuất, xí nghiệp dịch vụ, sửa chữa, sản xuất chủ yếu bằng vật tư doxí nghiệp tự cân đối, thì giao 1 chỉ tiêu pháp lệnh:

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

Điều 9. - Theo hướng trên đây, đối với cácxí nghiệp thuộc các ngành khác, giao từ 1 đến 3 chỉ tiêu pháp lệnh sau:

a) Đối với xí nghiệpxây lắp:

- Giá trị sản lượngxây lắp thực hiện đã được nghiệm thu.

- Danh mục côngtrình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao.

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

b) Đối với xí nghiệpvận tải:

- Khối lượng vậnchuyển và luân chuyển hàng hoá, hành khách.

- Khối lượng vậnchuyển những mặt hàng chủ yếu theo kế hoạch và hợp đồng.

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

c) Đối với xí nghiệpthương nghiệp quốc doanh:

- Doanh số muavào, bán ra (hoặc kim ngạch xuất, nhập khẩu).

- Khối lượng mặthàng chủ yếu mua vào, bán ra theo kế hoạch và hợp đồng (hoặc khối lượng mặthàng chủ yếu xuất, nhập khẩu).

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác) (trong đó ngoại tệ nộp ngânsách, nếu có).

d) Đối với tổ chứckinh doanh vật tư:

- Doanh số muavào, bán ra (trong đó kim ngạch xuất, nhập khẩu, nếu có).

- Khối lượng mặthàng chủ yếu mua vào, bán ra theo kế hoạch và hợp đồng (trong đó khối lượng mặthàng chủ yếu xuất, nhập khẩu, nếu có).

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

đ) Đối với ngânhàng kinh doanh:

- Bội thu hoặc bộichi tiền mặt.

- Dư nợ tín dụng vốnlưu động, doanh số cho vay và thu nợ vốn cố định.

- Các khoản nộpngân sách (gồm lợi nhuận và các khoản thu khác).

Điều 10. - Ngoài các chỉ tiêu pháp lệnhnói trên, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao cho xí nghiệp một số chỉ tiêuhướng dẫn như giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện, sản phẩm chủ yếu (đối vớinhững xí nghiệp mà các chỉ tiêu này không là chỉ tiêu pháp lệnh), tiến bộ kỹthuật; giảm định mức tiêu hao một số loại vật tư chủ yếu, lao động, tiền lương;giá thành...

Với việc đổi mớiphương pháp kế hoạch hoá theo hướng xây dựng kế hoạch từ đơn vị kinh tế cơ sở,thu gọn hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh, giao các chỉ tiêu hướng dẫn, định mức, địnhchuẩn, phải tăng cường vai trò của hợp đồng kinh tế, các chính sách đòn bẩykinh tế như thuế, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, lợi nhuận, tài chính, tín dụng...để chỉ đạo việc xây dựng, điều hành kế hoạch và hướng toàn bộ các hoạt độngkinh tế - xã hội vào việc thực hiện các mục tiêu của kế hoạch Nhà nước.

Điều 11. - Điều hành thực hiện kế hoạch.

a) Kế hoạch năm củaxí nghiệp phải được phân bố thành các kế hoạch từng quý (hoặc thời vụ sản xuất),từng tháng; nhiệm vụ kế hoạch được giao cho từng phân xưởng, tổ đội sản xuất.Hàng tháng, hàng quý và cuối năm xí nghiệp phải phân tích hoạt động kinh tế,đánh giá việc thực hiện kế hoạch, thực hiện các hợp đồng kinh tế để báo cáo lêncấp trên trực tiếp, đồng thời có các biện pháp kịp thời để điều hành thực hiệnkế hoạch.

b) Trong quá trìnhthực hiện kế hoạch, xí nghiệp có thể đề nghị bổ sung thêm kế hoạch. Nếu vì lýdo khách quan (không cân đối được các điều kiện vật chất, thiên tai, sự cố lớn...)mà không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao thì xí nghiệp đề nghị cấptrên trực tiếp xem xét và điều chỉnh kế hoạch. Chỉ có cơ quan giao kế hoạch choxí nghiệp mới có quyền cho điều chỉnh kế hoạch.

c) Kế hoạch của xínghiệp phải được tập thể công nhân, viên chức tham gia xây dựng. Công đoàn xínghiệp phối hợp với giám đốc tổ chức để công nhân, viên chức tham gia xây dựngvà bàn biện pháp thực hiện kế hoạch. Đại diện công đoàn cơ sở có quyền tham dựviệc bảo vệ kế hoạch và xét duyệt hoàn thành kế hoạch của xí nghiệp.

Điều 12. - Cơ quan nào giao kế hoạch choxí nghiệp thì cơ quan đó xét duyệt kết quả hoàn thành kế hoạch của xí nghiệp.

Kết thúc năm kế hoạch,Giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch củaxí nghiệp lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp, đồng gửi các cơ quan có liênquan (kế hoạch, thống kê, tài chính, ngân hàng, vật tư, vật giá, lao động, nộithương, ngoại thương, trọng tài kinh tế, Uỷ ban Nhân dân địa phương sở tại,v.v...).

Giám đốc xí nghiệphoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo.

Cơ quan giao kế hoạchcăn cứ vào tài liệu báo cáo của xí nghiệp và ý kiến của các cơ quan có liênquan về từng lĩnh vực và chính quyền địa phương để xét duyệt và công nhận kếtquả thực hiện kế hoạch năm. Trường hợp cần thiết, cơ quan giao kế hoạch có thểtổ chức kiểm tra tại chỗ.

II. ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KINH TẾ TẬP THỂ (GỌI CHUNG LÀ HỢP TÁC XÃ),KINH TẾ GIA ĐÌNH VÀ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ CÁ THỂ, TƯ NHÂN TRONG SẢNXUẤT TIỂU CÔNG NGHIỆP, THỦ CÔNG NGHIỆP

Điều 13. - Dựa vào quy hoạch và sự hướng dẫncủa cấp tỉnh (thành) hoặc cấp huyện (quận), và nhu cầu thị trường, hợp tác xãchủ động xây dựng kế hoạch toàn diện của mình.

Nhà nước thông quaviệc đăng ký kinh doanh, sử dụng công cụ thuế, giá cả, tín dụng và hợp đồngkinh tế bán vật tư, mua sản phẩm hoặc gia công đặt hàng để hướng sản xuất củakinh tế tập thể phát triển theo yêu cầu của kế hoạch Nhà nước và nắm những sảnphẩm quan trọng. Sau khi nộp đủ thuế và giao đủ sản phẩm cho các đơn vị kinh tếquốc doanh và các đơn vị kinh tế khác theo hợp đồng thì hợp tác xã được tổ chứctiêu thụ sản phẩm còn lại theo quy định của nhà nước, nếu các tổ chức kinh tếquốc doanh mua số sản phẩm còn lại thì cũng mua theo giá thoả thuận.

Điều 14. - Các đơn vị kinh tế quốc doanhcó nguyên liệu gia công ở các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp thuộc địaphương nào thì phải chịu sự quản lý của chính quyền địa phương đó (tỉnh, thành,huyện, quận).

Điều 15. - Hợp tác xã chủ động xây dựng kếhoạch đầu tư của mình bằng các nguồn vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn huy độngxã viên đóng thêm cổ phần, vốn vay của xã viên với lãi suất thích hợp theo sựhướng dẫn của Ngân hàng.

Điều 16. - Các cơ sở sản xuất tư nhân, cáthể, kinh tế gia đình có sản xuất hàng hoá đều phải đăng ký sản xuất, kinhdoanh theo chế độ Nhà nước quy định, và thực hiện sản xuất, kinh doanh theođúng chính sách và pháp luật của Nhà nước.

a) Đối với kinh tếgia đình của công nhân, viên chức và xã viên hợp tác xã nông nghiệp thì thôngqua các tổ chức liên kết, kinh tế giữa quốc doanh, tập thể, gia đình và các tổchức gia công nhằm tăng thu nhập của người lao động.

b) Các tiểu chủ vàngười sản xuất cá thể được phép sản xuất mặt hàng tiêu dùng và dịch vụ cần thiếttheo quy hoạch và chính sách của Nhà nước; phải chấp hành đúng pháp luật và chịusự kiểm soát của Nhà nước.

Thông qua tổ chứcliên kết kinh tế với quốc doanh và hợp tác xã, thông qua hợp đồng kinh tế vàcác chính sách thuế, giá cả, tín dụng... Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ các thànhphần kinh tế này phát triển sản xuất đúng hướng. Phần sản phẩm ngoài hợp đồngkinh tế và không thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý thì khuyến khích họ báncho các tổ chức quốc doanh và hợp tác xã theo giá thoả thuận.

Điều 17. - Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cótrách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của đơn vị cơsở theo bản quy định này.

QUY ĐỊNH TẠMTHỜI

VỀ BẢO ĐẢM VẬT TƯ - KỸ THUẬT NHẰM THỰC HIỆNQUYỀN TỰ CHỦ SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 76 - HĐBT ngày26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

I. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. - Kế hoạch vật tư được lập từ cơ sởvà phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của sản xuất; kinh doanh; tổng hợp dần lênUỷ ban Kế hoạch Nhà nước theo hai tuyến tiêu dùng vật tư và kinh doanh vật tư.

Cáccơ sở tiêu dùng và các tổ chức kinh doanh vật tư thiết lập mối quan hệ ngang,bình đẳng, trực tiếp hợp tác từ khâu cân đối giữa nhu cầu và nguồn vật tư, ký kếthợp đồng kinh tế, cho đến quyết toán hợp đồng, quyết toán vật tư.

Điều 2. - Trên cơ sở tính toán cân đối,Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh về cung ứng vật tư cho ngành kinh doanh vậttư; đồng thời thông báo cho ngành sử dụng biết; trong đó, ghi rõ khối lượng, sốlượng vật tư bảo đảm cung ứng cho sản xuất các sản phẩm trọng yếu, các xí nghiệptrọng điểm.

Điều 3. - Việc bảo đảm vật tư cho sản xuấtđược thực hiện trên cơ sở mua bán theo hợp đồng kinh tế. Đối với các loại vậttư có nguồn nhập khẩu và sản xuất trong nước tương đối ổn định như điện, xăng,dầu, than, xi măng, cao su, gỗ, vật liệu xây dựng, vật tư nông sản, lâm sảnkhác v. v..., trong hợp đồng hai bên cần cam kết tới mức cao nhất có thể thựchiện được theo tinh thần 5 đúng. Các tổ chức kinh doanh vật tư phải thực hiệnnghiêm chỉnh các cam kết đã được ghi trong hợp đồng kinh tế. Nếu vì khó khănkhách quan không giao được hàng đúng địa điểm ghi trong hợp đồng và nếu kháchhàng có khả năng đi nhận xa, thì bên bán phải thanh toán chi phí vận chuyển hợplý cho khách hàng theo thoả thuận trong hợp đồng.

Điều 4. - Việc ký kết hợp đồng mua vật tưtheo các điều kiện như sau:

a) Đối với các xínghiệp quốc doanh hợp đồng mua vật tư được ký theo kế hoạch sản xuất và định mứctiêu dùng vật tư được cấp có thẩm quyền xét duyệt.

b) Đối với các đơnvị kinh tế tập thể (hợp tác xã, tổ sản xuất), kinh tế gia đình, các tiểu chủ,kinh tế cá thể, v.v... có đăng ký kinh doanh, hợp đồng mua vật tư gắn liền vớihợp đồng bán sản phẩm, gia công chế biến cho Nhà nước và căn cứ vào định mứctiêu dùng vật tư được cấp có thẩm quyền xét duyệt.

c) Đối với những vậttư thứ yếu, nhu cầu nhỏ lẻ thì không nhất thiết phải đăng ký hợp đồng mà cácđơn vị tiêu dùng có thể mua tại các cửa hàng kinh doanh vật tư.

Điều 5. - Việc xuất, nhập, giao, nhận vậttư phải được cân, đo, đong, đếm... chính xác. Bên bán không được giao hàng chobên mua khi chưa qua kiểm nhận. Trường hợp khó khăn về phương tiện cân, đo, cầnđược thoả thuận giữa bên mua và bên bán về phương pháp cân, đo được ghi rõtrong hợp đồng kinh tế.

Điều 6. - Thực hành triệt để tiết kiệm vậttư. Nếu sử dụng vật tư dưới định mức quy định hoặc sử dụng vật tư trong nướcthay thế vật tư nhập khẩu, xí nghiệp được thưởng thích đáng về vật chất.

Trường hợp sử dụngvật tư quá định mức mà do nguyên nhân khách quan thì xí nghiệp báo cho cơ quangiao kế hoạch xem xét và xử lý; nếu vì lý do chủ quan thì xí nghiệp phải tự lovật tư để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch pháp lệnh đã giao.

II. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH VẬT TƯ

Điều 7. - Trách nhiệm:

a) Các tổ chứckinh doanh vật tư có trách nhiệm bán vật tư cho các đơn vị tiêu dùng khi cácđơn vị đã có đủ điều kiện quy định ở điều 4.

b) Hợp đồng muabán vật tư phải bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ của kế hoạch Nhà nước, được ký theonăm, quý, hoặc thời vụ.

c) Giữa các tổ chứckinh doanh vật tư với nhau cũng mua bán (bán buôn) theo hợp đồng kinh tế, vàcác bên đều phải chịu trách nhiệm vật chất về nội dung hợp đồng đã ký.

d) Tổ chức kinhdoanh vật tư từng thời gian phải thông báo kịp thời khả năng vật tư cho đơn vịtiêu dùng như đã thoả thuận trong hợp đồng, để bên mua có đủ thời gian chủ độngbố trí kế hoạch sản xuất.

đ) Tổ chức kinh doanhvật tư chịu trách nhiệm đến cùng trong việc bảo đảm vật tư đã ký trong hợp đồng.Không được dựa vào lý do khách quan để bắt khách hàng đi lại nhiều cửa, nhiềunơi. Thủ tục mua, bán, giao nhận cần đơn giản, dễ dàng, thuận lợi. áp dụngphương thức thanh toán thuận tiện nhất cho người mua. Với khách hàng mua lớn,có tín nhiệm, có thể trả tiền sau khi nhận hàng theo thoả thuận trong hợp đồng.

e) Mọi cá nhân hoặctổ chức có hành vi lợi dụng, móc ngoặc, hối lộ, cửa quyền gây khó khăn chokhách hàng phải chịu các hình thức kỷ luật hoặc bị truy tố trước pháp luật, vàphải bồi thường thiệt hại đã gây nên cho khách hàng.

Điều 8. - Quyền hạn:

a) Ngoài quỹ vậttư được Nhà nước phân phối, tổ chức kinh doanh vật tư được phép tạo thêm nguồnhàng bằng cách:

- Liên kết với cácxí nghiệp để sản xuất, vay ngoại tệ để nhập vật tư, giá mua bán vật tư này có sựhướng dẫn của cơ quan Vật giá Nhà nước.

b) Các tổ chứckinh doanh vật tư được phép tạm ngừng bán vật tư cho đơn vị tiêu dùng, đồng thờibáo cáo lên cấp trên trực tiếp của hai bên để giải quyết, nếu đã nhắc nhở màbên mua cứ tiếp tục sai phạm như:

- Dùng vật tư saimục đích ghi trong kế hoạch sản xuất đã được duyệt.

- Đem bán lại vậttư được phân phối theo kế hoạch và mua của Nhà nước cho tư thương hay cho đơn vịkinh tế khác để kiếm lời.

- Không giao sảnphẩm đúng số lượng và chất lượng theo hợp đồng tiêu thụ đã ký mà không có lý dochính đáng.

Nếu việc tạm ngừngđó không có căn cứ chính xác thì tổ chức kinh doanh vật tư đó phải đền bù thiệthại cho bên mua vật tư.

c) Được yêu cầu cơquan thanh tra các cấp tiến hành thanh tra các đơn vị tiêu dùng vật tư khi thấycó những biểu hiện vi phạm chế độ, chính sách sử dụng vật tư do Nhà nước quy định.

d) Được nhận đạilý mua - bán các loại vật tư ngoài trách nhiệm ngành hàng được phân công.

đ) Được chủ động tổchức các loại dịch vụ cung ứng theo thoả thuận trong hợp đồng kinh tế, bao bì bổsung, bao kiện lại, pha, cắt, vận chuyển cho khách hàng.

Được tính thêm tiềndịch vụ đó theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.

e) Căn cứ vào sựphân cấp quản lý giá của Nhà nước, được tăng và giảm giá theo phẩm chất hànghoá trên cơ sở biên bản kiểm định của cấp có thẩm quyền và giá chỉ đạo hoặckhung giá của Nhà nước.

III. QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ DÙNG VẬT TƯ.

Điều 9. - Quyền hạn.

a) Tất cả các đơnvị kinh tế cơ sở có đủ điều kiện quy định ở điều 4 được mua vật tư của Nhà nước.

b) Đối với những sảnphẩm trọng yếu và xí nghiệp trọng điểm cấp Nhà nước, được ưu tiên cung ứng vậttư nhưng phải có trách nhiệm sử dụng vật tư tiết kiệm, có hiệu quả.

c) Yêu cầu tổ chứckinh doanh vật tư cho được nhận thẳng vật tư mà mình được cung ứng theo kế hoạchhoặc hợp đồng tại xí nghiệp sản xuất vật tư (nếu có khối lượng lớn và được bênbán chấp thuận).

d) Chọn tổ chức vậttư thuận lợi nhất về địa điểm, về vận chuyển, về phương thức phục vụ... khôngnhất thiết theo địa giới hành chính, để mua vật tư bảo đảm sản xuất, kinh doanhcó hiệu quả kinh tế.

Nếu muốn thay đổinơi mua vật tư mà mình đã chọn, đơn vị mua cần:

- Báo trước chobên bán theo thời gian quy ước giữa hai bên.

- Đền bù chi phícho bên bán nếu phải làm các công việc chuẩn bị chân hàng riêng biệt cho bênmua (có thoả thuận trước trong hợp đồng).

Khi đến ký hợp đồngvới tổ chức kinh doanh vật tư khác để mua vật tư thuộc diện Nhà nước quản lý, cầnchứng minh có đủ điều kiện được mua và thông báo số vật tư đã mua,... (có xácnhận của tổ chức kinh doanh vật tư trước đó).

đ) Trích quỹ khenthưởng của xí nghiệp để thưởng cho tổ chức kinh doanh vật tư nếu tổ chức đó thựchiện tốt hợp đồng bán vật tư cho đơn vị.

e) Bán lại những vậttư mua của Nhà nước nhưng không cần dùng đến cho tổ chức kinh doanh vật tư theogiá chỉ đạo hoặc khung giá cộng thêm chi phí hợp lý về thu mua, vận chuyển bảoquản, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.

- Bán phế liệukhông dùng đến (theo sự phân cấp quản lý vật tư của Nhà nước quy định) cho cácđơn vị kinh doanh vật tư theo giá thoả thuận. Nếu đơn vị kinh doanh vật tưkhông mua thì bán cho đơn vị kinh tế hợp pháp khác và báo cáo cơ quan quản lý cấptrên trực tiếp.

g) Yêu cầu cơ quanthanh tra các cấp tiến hành thanh tra tổ chức kinh doanh vật tư khi thấy có nhữngbiểu hiện tiêu cực trong việc mua bán vật tư.

Điều 10. - Trách nhiệm:

a) Sử dụng vật tưđúng mục đích, đúng định mức được duyệt. Nghiêm cấm đem bán vật tư được mua củaNhà nước để kiếm lời.

b) Quyết toán vậttư theo qui định. Vật tư đã mua mà chưa dùng đến, có thể thoả thuận với tổ chứckinh doanh vật tư để giữ lại xí nghiệp, trừ vào kế hoạch hoặc hợp đồng của nămsau.

IV. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN ĐỐI VỚI VIỆC BẢOĐẢM VẬT TƯ CHO CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ

Điều 11. - Cơ quan kế hoạch các cấp khixây dựng và trình kế hoạch sản xuất, kinh doanh phải phối hợp, tính toán, traođổi thống nhất với các tổ chức kinh doanh vật tư, bảo đảm kế hoạch phù hợp vớikhả năng đáp ứng vật tư và chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu đó.

Điều 12. - Các tổ chức ngoại thương kịp thờithông báo tình hình hàng hoá nhập khẩu, nghiêm chỉnh thực hiện các điều cam kếtghi trong hợp đồng đã ký với tổ chức kinh doanh vật tư.

a) Hai bên chịutrách nhiệm vật chất về nội dung hợp đồng đã ký.

b) Việc giao nhậnvà thanh toán tiền vật tư nhập khẩu sẽ có quy định riêng; trước mắt tạm thờitheo những quy định trong Nghị định số 200-CP ngày 31 tháng 12 năm 1973.

c) Phải quyết toánđầy đủ, kịp thời các hợp đồng nhập khẩu và giao vật tư.

Điều 13. - Các đơn vị sản xuất vật tưtrong nước thực hiện nghiêm chỉnh hợp đồng đã ký với tổ chức kinh doanh vật tưvà cùng chịu trách nhiệm vật chất về nội dung hợp đồng đã ký.

a) Đối với các sảnphẩm trọng yếu như thép, than... Nhà nước sẽ giao chỉ tiêu pháp lệnh cho cácđơn vị sản xuất theo số lượng, quy cách và chất lượng quy định.

b) Đối với các loạivật tư khác, sẽ sản xuất theo đơn đặt hàng của tổ chức kinh doanh vật tư qua hợpđồng kinh tế.

Điều 14. - Đối với các tổ chức giao thôngvận tải:

a) Nhà nước giaochỉ tiêu pháp lệnh về vận chuyển vật tư.

b) Hợp đồng vậnchuyển được ký kết giữa tổ chức vận tải và tổ chức kinh doanh vật tư. Hai bênchịu trách nhiệm vật chất về nội dung hợp đồng đã ký.

Điều 15. - Trọng tài kinh tế Nhà nước cáccấp hướng dẫn ký kết, đăng ký hợp đồng, kiểm tra thực hiện hợp đồng mua, bán vậttư và xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc vi phạm hợp đồng kinh tế.

Điều 16. - Các ngành Tài chính, Ngân hàngtạo điều kiện cho hai bên có đủ vốn hoạt động, bảo đảm sản xuất, kinh doanh, bùđắp được chi phí và nộp tích luỹ cho nhà nước.

Điều 17. - Uỷ ban vật giá các cấp có tráchnhiệm giúp đỡ hai bên tính toán giá thành và chiết khấu vật tư hợp lý, để ổn địnhgiá bán buôn vật tư và giá thành sản phẩm.

Điều 18. - Uỷ ban Thanh tra Nhà nước cùngvới Bộ Vật tư tổ chức hệ thống thanh tra vật tư Nhà nước, nhằm kiểm tra việc quảnlý vật tư theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước, từ khâu tạo nguồn đến cáckhâu phân phối, lưu thông và sử dụng.

Điều 19. - Bộ trưởng Bộ Vật tư hướng dẫn,đôn đốc, kiểm tra việc thi hành bản quy định này.

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀ QUYỀNTỰ CHỦ CỦA ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986của Hội đồng Bộ trưởng)

Điều 1. - Xí nghiệp căn cứ vào nhiệm vụ kếhoạch sản xuất, kinh doanh, vào các định mức lao động, tiêu chuẩn định biên chếđộ thời gian làm việc... để xây dựng kế hoạch lao động trong kế hoạch sản xuất- kỹ thuật - tài chính - xã hội của xí nghiệp.

Điều 2. - Căn cứ vào kế hoạch lao động, xínghiệp được quyền tuyển chọn lao động với số lượng, cơ cấu và trình độ, kỹ thuật,chuyên môn, nghiệp vụ, sức khoẻ theo tiêu chuẩn và yêu cầu của sản xuất, kinhdoanh. Theo sự hướng dẫn của cơ quan lao động về địa bàn và nguồn tuyển, xínghiệp thông báo yêu cầu và trực tiếp tuyển chọn lao động rồi báo cáo kết quảcho cơ quan lao động biết, hoặc đề nghị cơ quan lao động tuyển chọn theo yêu cầucủa xí nghiệp. Xí nghiệp có quyền từ chối không nhận những người do cấp trên hoặcnơi khác giới thiệu đến mà xí nghiệp không có nhu cầu. Thực hiện chính sách ưutiên của Nhà nước đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng,thương binh, bộ đội đã hoàn thành nghĩa vụ... khuyến khích con công nhân viêncác nghề truyền thống, nghề có kỹ thuật vào làm việc tại xí nghiệp để tạo ra độingũ công nhân kỹ thuật nhiều đời. Tuyển người lao động phi nông nghiệp ở địaphương sở tại; trường hợp địa phương (tỉnh, thành phố) không đáp ứng đủ yêu cầuvề số lượng và tiêu chuẩn lao động cần thiết thì xí nghiệp được tuyển từ nơikhác đến và địa phương có trách nhiệm giải quyết kịp thời việc đăng ký hộ khẩuvà các quyền lợi khác cho bản thân và gia đình người được tuyển.

Xí nghiệp phảicùng với Uỷ ban nhân dân sở tại chăm lo bảo đảm nơi ăn, ở cho người lao động, đặcbiệt chú ý đối với những người mới tuyển từ địa phương khác đến. Đối với nhữngxí nghiệp Trung ương có quy mô lớn, đòi hỏi vốn xây dựng nhà ở nhiều thì có thểđược Trung ương xem xét hỗ trợ thêm.

Cấm sử dụng vịthành niên và lao động nữ vào các nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại.

Điều 3. - Dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Hộiđồng Bộ trưởng, Bộ lao động xây dựng đề án và cùng với các ngành liên quan hướngdẫn áp dụng thử chế độ tuyển lao động theo hợp đồng và sử dụng sổ lao động.

Điều 4. - Xí nghiệp có quyền quyết địnhhình thức và phương pháp tổ chức sản xuất, tổ chức lao động; lựa chọn phươngpháp lao động thích hợp, chuẩn bị tốt chỗ làm việc cho người lao động, phâncông và hiệp tác lao động một cách khoa học trong nội bộ xí nghiệp, tổ chức vàbiên chế hợp lý các tổ, đội, phân xưởng, tinh giảm tổ chức và biên chế các bộmôn chức năng, bảo đảm năng xuất lao động của từng người, từng bộ phận và toànxí nghiệp ngày một tiến bộ, phấn đấu đạt tốc độ tăng năng xuất lao động bìnhquân cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.

Điều 5. - Qua sắp xếp tổ chức lại sản xuấtvà lao động, xí nghiệp phải chủ động khai thác các nguồn tiềm năng để bảo đảm đủviệc làm cho số người lao động hiện có. Thực hiện đúng đắn chế độ nghỉ hưu vànghỉ mất sức lao động đối với những người có đủ điều kiện, đồng thời tranh thủsự chỉ đạo của cấp trên trực tiếp, sự giúp đỡ của các cơ quan lao động và củachính quyền địa phương để có quy hoạch, kế hoạch điều chỉnh, phân bố lại lao độngvề lâu dài.

Điều 6. - Xí nghiệp có trách nhiệm xây dựngvà thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và thường xuyên nâng cao trình độ nghềnghiệp trong sản xuất cho đội ngũ công nhân, viên chức của xí nghiệp, bảo đảmtrình độ của người lao động phù hợp với yêu cầu sản xuất. Căn cứ vào tiêu chuẩncấp bậc kỹ thuật công nhân, kiểm tra tay nghề để nâng bậc cho công nhân phù hợpvới cấp bậc công việc.

Điều 7. - Xí nghiệp có trách nhiệm góp phầnxây dựng và tổ chức thực hiện đúng đắn các tiêu chuẩn và định mức lao động củaNhà nước, của ngành. Xí nghiệp phải chủ động xây dựng định mức lao động để quảnlý lao động, làm căn cứ để tổ chức lao động và trả thù lao lao động, để kế hoạchhoá và hạch toán tiền lương trong giá thành sản phẩm, phấn đấu đạt và vượt năngsuất lao động của đơn vị của ngành và của xã hội. Trên cơ sở các định mứcnguyên công, xí nghiệp xây dựng các định mức tổng hợp về chi phí lao động và tiềnlương trong đơn vị sản phẩm hoặc định mức biên chế của toàn xí nghiệp và trìnhcơ quan có thẩm quyền duyệt và ban hành theo sự phân cấp của Nhà nước.

Điều 8. - Căn cứ vào các chính sách và chếđộ tiền lương thống nhất của Nhà nước và các định mức lao động, cấp bậc công việccác sản phẩm, định biên của bộ máy quản lý và mức chi phí tiền lương của sản phẩm,xí nghiệp xây dựng quỹ lương kế hoạch trong kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tàichính - xã hội của xí nghiệp.

Điều 9. - Bộ chủ quản (Hoặc Uỷ ban Nhândân địa phương đối với xí nghiệp địa phương) có trách nhiệm kiểm tra, xét duyệtđịnh mức lao động, mức chi phí tiền lương trong sản phẩm và định mức biên chế củacác xí nghiệp thuộc quyền. Bộ lao động cùng với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước kiểmtra, xét duyệt định mức lao động, mức chi phí tiền lương của một số sản phẩm trọngyếu nhất của nền kinh tế quốc dân và kiểm tra việc xây dựng quỹ lương kế hoạchcủa xí nghiệp; cùng với các ngành có liên quan phân tích, kiểm tra quỹ lương kếhoạch của Bộ chủ quản và các địa phương. Quỹ lương thực hiện của xí nghiệp phảigắn liền với hiệu quả sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp, với mức độ hoàn thànhkế hoạch được giao. Ngân hàng Nhà nước tổ chức việc ứng lương, thanh toán, quyếttoán quỹ lương và kiểm tra chặt chẽ chi tiêu quỹ lương của các xí nghiệp.

Điều 10. - Giám đốc xí nghiệp có quyền lựachọn hình thức trả lương thích hợp, coi trọng áp dụng đúng đắn hình thức lươngkhoán, lương sản phẩm tập thể theo kết quả cuối cùng; quyết định việc xếp bậclương cho cán bộ, công nhân, viên chức thuộc quyền quản lý của mình theo tiêuchuẩn cấp bậc kỹ thuật, tiêu chuẩn nghiệp vụ của Nhà nước; quyết định và kiểmtra việc phân phối tiền lương, các loại tiền thưởng và tiêu chuẩn định lượng nhữngmặt hàng thiết yếu theo chính sách cho công nhân, viên chức theo số lượng và chấtlượng lao động của từng người và của từng tập thể lao động đóng góp vào kết quảsản xuất cuối cùng của xí nghiệp; bảo đảm trả đủ lương và đúng kỳ cho người laođộng.

Điều 11. - Cơ quan lương thực, thương nghiệpbảo đảm bán đủ và kịp thời những mặt hàng thiết yếu cho công nhân, viên chức xínghiệp theo chính sách của Đảng và Nhà nước.

Điều 12. - Giám đốc xí nghiệp chấp hành chếđộ kế toán và thống kê, báo cáo của Nhà nước về lao động và tiền lương, tổ chứchạch toán và phân tích tình hình sử dụng và quản lý lao động tiền lương trongcác tổ, đội, phân xưởng và toàn xí nghiệp. Cùng với công đoàn xí nghiệp, quảnlý quỹ bảo hiểm xã hội, trích đủ và đúng hạn, đồng thời quản lý các sự nghiệp bảohiểm xã hội của người lao động trong đơn vị.

Điều 13. - Xí nghiệp có nghĩa vụ tuân thủtriệt để các quy phạm kỹ thuật an toàn, các quy định về điều kiện lao động và bảohộ lao động. Thường xuyên chăm lo cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm cáctiêu chuẩn an toàn và vệ sinh, đặc biệt là đối với những loại lao động nặng nhọc,độc hại và đối với lao động nữ, vị thành niên. Giáo dục cho công nhân, viên chứchiểu biết và tuân thủ triệt để các quy định pháp luật và kỹ thuật an toàn, bảohộ lao động, vệ sinh công nghiệp và bảo vệ môi trường. Các trường hợp vi phạmphải được xử lý theo pháp luật hiện hành.

Điều 14.- Xí nghiệp phải củng cố và tăngcường kỷ luật lao động, sử dụng đầy đủ và hợp lý quỹ thời gian lao động, xây dựngvà thực hiện nghiêm chỉnh các nội quy, có hình thức khen thưởng kịp thời đối vớinhững biểu hiện tích cực, xử lý nghiêm minh đối với những hiện tượng vi phạm. Đốivới những người chây lười, vô kỷ luật, ăn cắp tài sản Nhà nước nếu đã giáo dụcmà không sửa chữa thì giám đốc xí nghiệp tham khảo ý kiến của hội đồng kỷ luật,có thể xử lý đến mức cho thôi việc hoặc truy tố trước pháp luật. Đối với nhữngngười được phân công và điều động hợp lý, có ý kiến tham gia của công đoàn màkhông phục tùng lệnh đó thì xử lý kỷ luật.

Điều 15. - Xí nghiệp phải xây dựng mụctiêu, chỉ tiêu thi đua, hình thức khen thưởng cụ thể để đẩy mạnh phong trào thiđua sản xuất và tiết kiệm, động viên thiết thực những người lao động luôn pháthuy sáng kiến, cải tiến tổ chức lao động, cải tiến kỹ thuật, giữ gìn và sử dụngtốt máy móc thiết bị, tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, nâng cao chất lượng sảnphẩm. Coi trọng phát hiện, phân tích, giới thiệu các điển hình tiên tiến, cáckinh nghiệm của chiến sỹ thi đua, anh hùng lao động trong và ngoài xí nghiệp đểnhân rộng áp dụng trong toàn đơn vị.

Điều 16. - Tập thể công nhân viên chứctrong từng tổ, đội, phân xưởng, phòng, ban và toàn xí nghiệp có quyền và nghĩavụ tham gia tích cực vào việc xây dựng những quyết định của người lãnh đạo cóliên quan đến hoạt động của tập thể mình, nhằm cộng đồng trách nhiệm quản lý tốtsở hữu xã hội chủ nghĩa, hình thành những tập thể lành mạnh, đoàn kết dưới mụctiêu chung vì lợi ích cao nhất của Nhà nước, vì lợi ích của tập thể và lợi íchcủa người lao động, tạo ra khí thế thi đua làm việc năng động, sáng tạo, có kỷluật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.

Điều 17. - Thông qua hội nghị toàn thể (hoặchội nghị đại biểu) công nhân viên chức, hội đồng xí nghiệp và ban chấp hànhcông đoàn, tập thể lao động có quyền và nghĩa vụ:

a) Tham gia xây dựngkế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính - xã hội của xí nghiệp, phát hiện nhữngnguồn tiềm năng để phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, bảo đảm mọi ngườiđều có đủ việc làm, sử dụng hết tổng quỹ thời gian lao động, tận dụng công suấtmáy móc thiết bị, nguyên vật liệu, năng lượng...

b) Góp ý kiến vàocác việc tuyển chọn, bố trí sử dụng hợp lý cán bộ và công nhân, viên chức; áp dụngkịp thời chế độ khen thưởng, trách nhiệm kỷ luật; sắp xếp hợp lý số lao độngdôi ra qua cải tiến tổ chức, kỹ thuật; tiến hành thường xuyên tự phê bình vàphê bình, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực, thái độ vôtrách nhiệm, chây lười, vô kỷ luật, xâm phạm hoặc lãng phí tài sản xã hội chủnghĩa. ở tổ, đội sản xuất, tập thể lao động có quyền lựa chọn thành viên và ngườilãnh đạo của đơn vị mình.

c) Thảo luận vàtham gia quyết định những biện pháp cải tiến tổ chức và quản lý, ứng dụng khoahọc - kỹ thuật tiến bộ và kinh nghiệm tiên tiến, soát xét và điều chỉnh cáctiêu chuẩn và định mức kinh tế - kỹ thuật theo hướng phấn đấu tăng năng xuấtlao động, hạ giá thành sản phẩm, hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.

d) Thảo luận vàtham gia quyết định việc phân phối tiền lương, tiền thưởng, phân biệt theo mứcđóng góp thực tế của từng người, từng bộ phận; quyết định việc sử dụng hợp lýquỹ phúc lợi của xí nghiệp phù hợp với nhu cầu thực tế và với mức đóng góp vàoviệc trích lập quỹ.

đ) Kiểm tra, giám sátcác hoạt động sản xuất, kinh doanh và việc thực hiện các chính sách, chế độ quảnlý kinh tế - tài chính, xã hội của giám đốc xí nghiệp.

e) Thảo luận vàquyết định nội quy xí nghiệp phù hợp với pháp luật của Nhà nước.

Điều 18. - Giám đốc xí nghiệp có trách nhiệmtạo mọi điều kiện thuận lợi để các tập thể lao động thực hiện được những quyềnvà nghĩa vụ nói trên.

Thư ký công đoànthay mặt tập thể lao động ký hợp đồng tập thể với giám đốc xí nghiệp, trong đóghi rõ quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên đối với việc bảo đảm quá trìnhsản xuất, kinh doanh được tiến hành có hiệu quả.

Điều 19. - Bộ trưởng Bộ lao động có tráchnhiệm quy định những điều cụ thể thi hành bản quy định này; đôn đốc, kiểm traviệc thực hiện các chính sách, chế độ về lao động và tiền lương trong cácngành, các cấp; cùng với các ngành có liên quan hướng dẫn việc vận dụng thích hợpbản quy định này trong khu vực kinh tế tập thể.

QUY ĐỊNH TẠMTHỜI

VỀ QUYỀN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊKINH TẾ CƠ SỞ(Ban hành kem theo Quyết định số 76 - HĐBT ngày26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

I. VỀ VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA XÍ NGHIỆP

Điều 1. - Ngoài phần vốn Nhà nước cấp banđầu, các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh (dưới đây gọi chung là xí nghiệp) đượcquyền và có trách nhiệm tự tạo và mở rộng vốn tự có để mở rộng sản xuất, kinhdoanh.

Điều 2. - Vốn tự có về đầu tư xây dựng cơbản của xí nghiệp bao gồm các nguồn tiền trích khấu hao cơ bản để lại cho xínghiệp, một phần quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, và một phần quỹ phúc lợi.

Liên hiệp các xínghiệp hoặc Tổng công ty được điều hoà theo kế hoạch vốn tự có về đầu tư xây dựngcơ bản của các xí nghiệp thành viên từ nơi thừa đến nơi thiếu trong nội bộ Liênhiệp hoặc Tổng công ty, với sự thoả thuận của xí nghiệp; khi xí nghiệp yêu cầuthì liên hiệp hoặc Tổng công ty phải điều trả lại vốn cho xí nghiệp.

Xí nghiếp sử dụngvốn tự có để đầu tư bổ sung thay thế, đổi mới tài sản cố định, duy trì và nângcao năng lực sản xuất của mình. Trường hợp nguồn vốn tự có không đủ bảo đảm đầutư theo kế hoạch thì được vay vốn ngân hàng.

Điều 3. - Ngân sách Nhà nước (bao gồm ngânsách Trung ương và ngân sách địa phương) chỉ cấp vốn theo kế hoạch đầu tư đượcduyệt cho những công trình thuộc đối tượng ngân sách cấp phát.

Những công trìnhkhác thì đầu tư bằng vốn tự có của xí nghiệp, vốn vay Ngân hàng và các nguồn vốnkhác mà xí nghiệp có thể huy động theo đúng chính sách của Nhà nước.

Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể chế độ vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Điều 4. - Xí nghiệp xác định lại nguyêngiá tài sản cố định hiện có, giá trị hao mòn thực tế và giá trị còn lại (vốn cốđịnh) của tài sản cố định căn cứ vào kết quả tổng kiểm kê và đánh giá lại tài sảncố định 0 giờ ngày 1 tháng 10 năm 1985 theo giá khôi phục do Hội đồng Bộ trưởngquy định.

Điều 5. - Tỷ lệ khấu hao cơ bản phải phảnánh đúng mức độ hao mòn thực tế tài sản cố định trong điều kiện sản xuất bìnhthường.

Tỷ lệ khấu hao sửachữa lớn phải phản ánh đúng chi phí thực tế hợp lý về sửa chữa lớn tài sản cố địnhtheo định kỳ đối với mỗi loại tài sản cố định.

Bộ Tài chính quy địnhtỷ lệ khấu hao thống nhất cho những tài sản cố định sử dụng phổ biến ở cácngành kinh tế - kỹ thuật.

Bộ chủ quản, saukhi thoả thuận với Bộ Tài chính, quy định tỷ lệ khấu hao cho những tài sản cố địnhcòn lại trong ngành mình.

Đối với những tàisản cố định được đầu tư bằng vốn cấp phát của ngân sách thì tuỳ theo trạng tháitài sản cố định, nhu cầu và điều kiện thực hiện tái tạo tài sản cố định của từngxí nghiệp, Bộ Tài chính quy định để lại cho xí nghiệp một phần hay toàn bộ sốtiền trích khấu hao cơ bản để dùng vào việc đầu tư, đổi mới kỹ thuật, mở rộng sảnxuất, kinh doanh (khi xí nghiệp chưa dùng đến phải gửi tại Ngân hàng).

Riêng đối với cácxí nghiệp lớn mới xây dựng với vốn đầu tư lớn của Nhà nước, Nhà nước cần thu hồimột phần vốn khấu hao cơ bản để đầu tư cho việc xây dựng các công trình khác. Đốivới những tài sản cố định đầu tư bằng vốn tự có của xí nghiệp hoặc vốn vay thìtiền trích khấu hao cơ bản để lại toàn bộ cho xí nghiệp để xí nghiệp trả nợNgân hàng và sử dụng theo yêu cầu đầu tư của mình.

Điều 6. - Tất cả tài sản cố định hiện có củaxí nghiệp đều phải trích khấu hao.

Đối với những xínghiệp mà giá thành còn cao hơn giá bán do Nhà nước quy định thì được tạm thờiáp dụng chế độ khấu hao theo mức độ thực tế sử dụng thiết bị; cụ thể là:

- Những tài sản cốđịnh hoàn toàn không dùng đến trong năm kế hoạch được cơ quan quản lý cấp trêntrực tiếp cho phép niêm cất thì không phải tính khấu hao. Chi phí bảo bảo quảncác tài sản cố định này được cộng thêm vào giá trị của chúng.

- Những tài sản cốđịnh được đưa vào sử dụng trong năm kế hoạch nhưng do nguyên nhân khách quan màkhông phát huy hết công suất thiết kế thì xí nghiệp được tính khấu hao vào giáthành sản phẩm theo mức kế hoạch sản xuất được giao hàng năm so với công suấtthiết kế. Cách xác định mức khấu hao do Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể.

Tài sản cố định đãkhấu hao hết nhưng còn sử dụng được thì được đánh giá lại và tiếp tục trích khấuhao và hạch toán vào giá thành sản phẩm, số tiền trích khấu hao cơ bản này đượcđưa vào quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của xí nghiệp.

Tài sản cố địnhchưa khấu hao hết mà bị hư hỏng do nguyên nhân chủ quan, xí nghiệp phải làm thủtục thanh lý và phải dùng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của mình để bù đắpphần thiệt hại về giá trị tài sản cố định.

Điều 7. - Khi cần thiết, vì lợi ích chung,Nhà nước điều động tài sản cố định của xí nghiệp đi nơi khác hoặc từ nơi khác đếnxí nghiệp, sau khi đã hỏi ý kiến của xí nghiệp.

Về việc nhượng bántài sản cố định đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước cấp phát, xí nghiệp phải báocáo và được sự đồng ý của Bộ chủ quản (hoặc Uỷ ban Nhân dân địa phương nếu làxí nghiệp địa phương). Nếu nhượng bán tài sản cố định ra ngoài khu vực kinh tếquốc doanh thì phải có ý kiến tham gia của các cơ quan kế hoạch và tài chínhcùng cấp. Tiền thu về nhượng bán tài sản cố định này phải nộp vào ngân sách. Nếuxí nghiệp muốn giữ lại một phần hay toàn bộ số tiền đó để mua sắm tài sản cố địnhthay thế, thì phải được sự đồng ý của cơ quan đã cho phép nhượng bán và cơ quantài chính cùng cấp.

Về việc thanh lýtài sản cố định đầu tư bằng vốn ngân sách cấp phát, xí nghiệp lập phương án đềnghị lên cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp. Giao cho Bộ Tài chính hướng dẫn cụthể những quy định trong các điều 4, 5, 6, 7 trên đây.

Điều 8. - Nguồn vốn lưu động của xí nghiệpbao gồm:

- Vốn cấp phát banđầu của ngân sách Nhà nước khi xí nghiệp mới bước vào sản xuất,

- Vốn xí nghiệp tựbổ sung hàng năm bằng quỹ khuyến khích phát triển sản xuất,

- Vốn vay Ngânhàng,

- Các khoản nợ địnhmức và các nguồn vốn khác nếu có.

Khi bước vào sảnxuất, xí nghiệp phải xây dựng định mức vốn lưu động, trình cơ quan chủ quảncùng với tài chính và ngân hàng cùng cấp xét duyệt. Ngân sách cấp một phần địnhmức vốn đó tuỳ theo từng ngành. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, xí nghiệpgiải quyết nhu cầu vốn tăng thêm bằng các nguồn vốn tự có hoặc vay Ngân hàngtrên cơ sở kế hoạch và hợp đồng tín dụng với Ngân hàng.

Điều 9. - Xí nghiệp tự lo liệu vốn đểtrang trải vật tư ứ đọng mới phát sinh. Khi cần thanh lý vật tư, hàng hoá hư hỏng,mất phẩm chất thuộc tài sản lưu động, xí nghiệp đề nghị lên cơ quan quản lý cấptrên trực tiếp. Cơ quan này báo cho cơ quan tài chính và ngân hàng cùng cấp biếtđể tham gia ý kiến xử lý nguồn vốn liên quan đến việc thanh lý nói trên.

Điều 10. - Khoản chênh lệch giá tăng (hoặcgiảm) về vật tư, hàng hoá tồn kho thuộc tài sản lưu động phát sinh do giá cảthay đổi (do cấp có thẩm quyền quy định) phải được hạch toán vào vốn lưu động củaxí nghiệp.

II- HẠCH TOÁN GIÁ THÀNH

Điều 11. - Vật tư do Nhà nước cung ứng thìhạch toán vào giá thành sản phẩm chi phí thực thế theo giá Nhà nước quy định.

Vật tư trong nướcdo xí nghiệp tự cân đối thì hạch toán theo giá thực mua trong khung giá Nhà nướcquy định. Nếu là vật tư nhập khẩu thì hạch toán theo giá quy định trong nước.Trường hợp không có giá trong nước thì theo giá nhập, tỷ giá quy định cho từngnhóm hàng và chính sách thu bù chênh lệch ngoại thương.

Bộ Tài chính hướngdẫn chế độ hạch toán giá thành thực hiện của xí nghiệp bảo đảm phản ánh đầy đủ,trung thực các khoản chi phí sản xuất - kinh doanh thực tế đã phát sinh, cóphân tích những sự chênh lệch so với các định mức kinh tế - kỹ thuật đã đượccác cơ quan có thẩm quyền quy định và so với giá thành kế hoạch; trên cơ sở đóxác định các khoản mà xí nghiệp phải nộp ngân sách, đồng thời đề ra những biệnpháp phấn đấu hạ giá thành.

Điều 12. - Đối với các khoản chi trước đâythuộc chế độ chi ngoài giá thành, nay quy định như sau:

a) Chi phí cho các lớp bồi dưỡng tay nghề tập trung của xí nghiệp đượchạch toán vào giá thành sản phẩm; ngoài ra nếu xí nghiệp có nhu cầu mở lớp đàotạo bên cạnh xí nghiệp thì chi phí do quỹ khuyến khích phát triển sản xuất củaxí nghiệp đài thọ.

Các chi phí bệnh xá, trạm xá của xí nghiệp được hạch toán vào giá thànhsản phẩm, có sự hỗ trợ một phần của quỹ phúc lợi xí nghiệp.

Ngân sách chỉ cấp kinh phí cho các trường đào tạo và bệnh viện, viện điềudưỡng trực thuộc Bộ chủ quản. Trường hợp một số Liên hiệp xí nghiệp, Tổng côngty, đơn vị kinh tế cơ sở xa các trung tâm văn hoá xã hội, cần tổ chức các trườngđào tạo, bệnh viện, viện điều dưỡng nhưng chưa có khả năng tự bảo đảm được kinhphí thì Bộ Tài chính xem xét và cấp phát bằng nguồn vốn ngân sách.

b) Chi phí phục vụ nhà ăn tập thể, nhà ăn bồi dưỡng ca 3 và bồi dưỡng độchại được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Xí nghiệp được sử dụng quỹ phúc lợiđể hỗ trợ một phần nhu cầu trang thiết bị cho nhà ăn tập thể.

c) Chi phí luyện tập quân sự được hạch toán vào giá thành sản phẩm.Công nhân viên nghỉ làm việc để luyện tập quân sự vẫn được hưởng lương, tiềnlương này được hạch toán vào giá thành. Chi phí bồi dưỡng thêm (nếu có) thì lấytừ quỹ phúc lợi. Trường hợp huy động lực lượng tự vệ của xí nghiệp do yêu cầu củachiến tranh thì xử lý theo quyết định riêng.

III. CÁC KHOẢN PHẢI NỘP NGÂN SÁCH VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN.

Điều 13. - Bộ tài chính cùng các ngành cóliên quan tiến hành nghiên cứu xây dựng phương án thay thu quốc doanh bằng hìnhthức thuế thích hợp; tổ chức làm thử, rút kinh nghiệm hoàn chỉnh phương ántrình Hội đồng Bộ trưởng xem xét.

Trong khi chờ đợicó chế độ thu mới, vẫn phải tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thu quốcdoanh hiện hành được quy định trong thông tư số 47-CT/TQD ngày 27-12-1985 của BộTài chính.

Điều 14. - Lợi nhuận thực hiện của xí nghiệpđược xác định trên cơ sở tổng doanh thu thực hiện tính theo giá bán buôn côngnghiệp (sau khi đã trừ các khoản chênh lệch giá nếu có) trừ đi giá thành thựchiện và thu quốc doanh (hoặc thuế) phải nộp.

Tổng số lợi nhuậnthực hiện của tất cả các loại sản phẩm do xí nghiệp sản xuất và tiêu thụ trongnăm được phân phối như sau:

- Lợi nhuận trong kế hoạch:

50% dành lại cho xí nghiệp,

50% nộp ngân sách Nhà nước.

- Lợi nhuận vượt mức kế hoạch:tuỳ theo điều kiện thực hiện kế hoạch của từng ngành hoặc từng nhóm xí nghiệp,Bộ Tài chính quy định mức cụ thể trong khoảng từ 60 đến 80% dành lại cho xínghiệp; từ 20% đến 40% nộp ngân sách Nhà nước.

Trên cơ sở lợinhuận kế hoạch được duyệt, xí nghiệp lập kế hoạch phân phối lợi nhuận, và hàngquý (nếu cần) được tạm trích các quỹ xí nghiệp sau khi đã nộp đủ lợi nhuận vàongân sách Nhà nước theo kế hoạch quý.

Riêng lợi nhuận sản xuất phụ bằngphế liệu, phế phẩm không phân biệt trong mức kế hoạch và vượt mức kế hoạch, đượcphân phối như sau:

- 70% dành lại cho xí nghiệp,30% nộp ngân sách Nhà nước, nếu xí nghiệp hoàn thành kế hoạch lợi nhuận của sảnxuất chính;

- 50% dành lại cho xí nghiệp,50% nộp ngân sách Nhà nước nếu xí nghiệp không hoàn thành kế hoạch lợi nhuận củasản xuất chính.

Điều15

Lợi nhuận thực hiện sau khi nộpcác khoản vào ngân sách Nhà nước nói trên, còn lại là phần lợi nhuận để lại xínghiệp. Nếu xí nghiệp không hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh thì bị giảm trừtheo chế độ hiện hành.

Lợi nhuận để lại cho xí nghiệpđược sử dụng như sau:

Thanh toán các khoản nộp phạtnhư phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, phạt vi phạm kỷ luật tiền mặt, tín dụng,thanh toán... số còn lại (coi như 100%) được phân phối cho các quỹ theo nguyêntắc sau đây:

- Trích cho quỹ khuyến khích pháttriển sản xuất từ 35 đến 50% tuỳ theo ngành sản xuất và không hạn chế mức tốiđa, trong đó dành từ 1 đến 3% để lập quỹ dự trữ tài chính tập trung của Bộ hoặcLiên hiệp các xí nghiệp, Tổng công ty.

- Số còn lại sau khi đã dành 1%để lập quỹ Bộ trưởng (và Tổng giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp, Tổng công ty, nếucó, là những đơn vị không thuộc đối tượng trích lập 3 quỹ xí nghiệp) được dùngđể lập quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng, theo tỷ lệ quỹ phúc lợi bằng khoảng 1/3và quỹ khen thưởng bằng khoảng 2/3. Tỷ lệ cụ thể do Giám đốc xí nghiệp quyết địnhvới sự tham gia ý kiến của công đoàn cơ sở.

Trong khi chưa thực hiện thuếthu nhập đối với người lao động, nếu tổng số quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi củađơn vị cơ sở vượt quá 50% quỹ lương cơ bản thực hiện cả năm của công nhân viênxí nghiệp, thì Nhà nước thu một khoản điều tiết theo tỷ lệ luỹ tiến do Bộ Tàichính quy định.

Điều16. - Xí nghiệp có quỹ ngoại tệ phải có kế hoạch thu chi ngoại tệ và chấphành nghĩa vụ thu nộp đối với Nhà nước về kinh doanh xuất nhập khẩu.

IV.ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ TẬP THỂ.

(gọi chung là hợptác xã)

Điều 17. - Hợp tác xã được quyền tự tạo vàmở rộng vốn tự có để mở rộng sản xuất, kinh doanh trên cơ sở:

- Thực hiện cáchình thức liên kết kinh tế (tham gia đầu tư, hợp tác sản xuất, kinh doanh,...)với các tổ chức kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã khác, với kinh tế gia đình,cá thể và tư nhân theo chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước, thông quakế hoạch của hợp tác xã, các hợp đồng kinh tế được ký kết giữa hợp tác xã vớicác đơn vị và hộ kinh tế khác.

- Vay vốn của Ngânhàng trên cơ sở kế hoạch và hợp đồng tín dụng với ngân hàng.

- Huy động xã viênđóng cổ phần (không hạn chế), vay vốn của xã viên với lãi suất thích hợp theo sựhướng dẫn của Ngân hàng.

Sử dụng các quỹ củahợp tác xã gửi ở Ngân hàng theo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh và bảođảm đời sống của xã viên.

Điều 18. - Trên cơ sở vốn tự có hoặc vốntín dụng, hợp tác xã được đề nghị Nhà nước bán cho thiết bị sản xuất trong nướchoặc nhập khẩu để mở rộng, đổi mới tài sản cố định.

Hợp tác xã đượcmua lại thiết bị của các cơ sở quốc doanh, mua thiết bị của hợp tác xã khác, củagia đình, cá thể, tư nhân theo chính sách và pháp luật của Nhà nước, mở rộng tựtrang tự chế để đầu tư theo chiều sâu, tăng cường và đổi mới năng lực sản xuất.Khuyến khích hợp tác xã tận dụng khả năng thu hút nguồn vốn, vật tư, thiết bị từnước ngoài để phát triển sản xuất theo chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Dựa trên nhữngnguyên tắc và nội dung đánh giá lại tài sản cố định trong khu vực kinh tế quốcdoanh, Bộ Tài chính hướng dẫn đánh giá lại tài sản cố định của hợp tác xã và hướngdẫn chế độ khấu hao tài sản cố định nhằm bảo đảm cho hợp tác xã thu hồi đủ giátrị tài sản cố định và bảo đảm nhu cầu sửa chữa lớn tài sản cố định. Toàn bộ tiềntrích khấu hao kể cả phần trích tăng lên theo giá mới phải được gửi vào Ngânhàng để dùng vào việc sửa chữa lớn, bổ sung và đổi mới tài sản cố định của hợptác xã.

Điều 19. - Chế độ phân phối thu nhập của hợptác xã kết hợp hài hoà 3 lợi ích, bảo đảm nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước quy định,không ngừng tăng vốn tích luỹ và quỹ không chia của hợp tác xã, và bảo đảm phânphối thu nhập cho xã viên công bằng, phù hợp với kết quả sản xuất, kinh doanh củahợp tác xã. Mở rộng và hoàn thiện phương pháp khoán sản phẩm, vận dụng các hìnhthức trả công cho xã viên theo nguyên tắc phân phối theo lao động

Điều 20. - Hợp tác xã phải chấp hànhnghiêm chỉnh chế độ tài vụ và kế toán Nhà nước, Đặc biệt là chế độ hạch toángiá thành sản phẩm, dịch vụ của hợp tác. Bộ Tài chính cùng Tổng cục Thống kê cầnhoàn thiện chế độ tài vụ và kế toán của hợp tác xã cho phù hợp với cơ chế quảnlý mới, sát hợp với đặc điểm và trình độ quản lý cụ thể của từng loại hợp tácxã, bảo đảm phản ánh trung thực, chính xác kết quả sản xuất, kinh doanh và phânphối thu nhập của hợp tác xã.

Điều 21. - Bộ Tài chính hướng dẫn thi hànhquy định này cùng với các Bộ liên quan cụ thể hoá cho sát hợp với đặc điểm củatừng loại xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, vận tải, thương nghiệp,dịch vụ.

QUY ĐỊNH TẠMTHỜI

VỀ CƠ CHẾ KINH DOANH XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ QUẢNLÝ NHÀ NƯỚC CỦA NGÂN HÀNG ĐỂ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ CHỦ SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA CÁCĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ (Ban hành kèm theo Quyết định số76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

Điều 1. - Ngân hàng có nhiệm vụ huy độngvà tập trung mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa dùng đến trong nền kinh tế vàtrong dân cư để mở rộng cho vay.

Mọi nguồn vốn củacác xí nghiệp, tổ chức kinh tế và của dân cư gửi vào Ngân hàng được Ngân hàngtrả lãi theo chế độ lãi suất của Nhà nước và được chi trả theo yêu cầu của ngườigửi.

Các xí nghiệp quốcdoanh, các hợp tác xã, các hộ kinh doanh công thương nghiệp phải mở tài khoảntiền gửi tại Ngân hàng và gửi các loại vốn bằng tiền vào ngân hàng; được quyềnchọn một cơ sở ngân hàng (trong phạm vi tỉnh, thành phố) nơi thuận tiện nhấtcho hoạt động của mình để giao dịch (gửi tiền, lĩnh tiền, vay vốn, thanh toán).

Điều 2. - Ngân hàng tổ chức thu nhận kịpthời và thuận tiện các khoản tiền mặt do khách hàng gửi hay nộp vào quỹ ngânhàng; chi trả tiền mặt theo yêu cầu của khách hàng tại nơi mở tài khoản hay tạinơi khách hàng yêu cầu chuyển tiền đến để chi tiêu. Ngân hàng bồi thường nhữngthiệt hại do ngân hàng gây ra cho khách hàng trong việc nộp hoặc lĩnh tiền mặttheo chế độ quản lý tiền mặt của Nhà nước.

Hàng quý, các xínghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh (dưới đây gọi tắt là xí nghiệp), gửi đếnNgân hàng phục vụ mình kế hoạch thu chi tiền mặt, xuất phát từ kế hoạch sản xuất- kinh doanh - tài chính đã được cơ quan chủ quản duyệt; trong đó xác định sốtiền mặt nộp vào ngân hàng, số tiền mặt rút ra, số tiền mặt tồn quỹ cần thiếtsát hợp với thực tế sản xuất - kinh doanh.

Các xí nghiệp cóthu tiền mặt (do thu bán hàng, thu dịch vụ, ...) đều phải nộp số tiền mặt thuđược hàng ngày vào ngân hàng, chỉ được giữ lại trong quỹ của xí nghiệp số tiềnmặt cần thiết theo định mức đã thoả thuận với ngân hàng.

Trường hợp có nhucầu lĩnh tiền mặt vượt mức kế hoạch với số tiền lớn, các xí nghiệp bàn trước vớingân hàng ít nhất ba ngày làm việc, trừ các yêu cầu cấp bách của quốc phòng hoặcđể khắc phục hậu quả thiên tai.

Thực hiện nghiêmngặt việc quản lý tiền mặt. Hàng tháng, vào ngày cuối tháng, các xí nghiệp phảitự kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu, chi tiền mặt đã thoả thuận vớingân hàng, tình hình chấp hành chế độ quản lý tiền mặt, chế độ thanh toán khôngdùng tiền mặt và gửi báo cáo kết quả kiểm tra này cho ngân hàng phục vụ mìnhvào lần nhận tiền mặt đầu tiên của tháng sau, chậm nhất không quá ngày 5 thángkế tiếp. Ngân hàng phải kiểm tra tại chỗ theo định kỳ hoặc đột xuất, trước hếtđối với các xí nghiệp có hoạt động lớn về thu, chi tiền mặt, đôn đốc xí nghiệpgửi ngay vào quỹ ngân hàng số tiền mặt vượt định mức, tồn quỹ đã thoả thuận;phát hiện những sai phạm kỷ luật tiền mặt và kế hoạch thu, chi tiền mặt; đề xuấtnhững biện pháp khắc phục và theo dõi kết quả thực hiện.

Điều 3. - Các xí nghiệp đăng ký với ngânhàng kế hoạch tổng mức tiền lương năm và quý. Ngân hàng chi trả tiền lương từngtháng theo yêu cầu của xí nghiệp trong phạm vi chỉ tiêu tổng mức tiền lương đãđăng ký; cuối mỗi quý, ngân hàng cùng xí nghiệp thanh toán và cuối năm quyếttoán quỹ tiền lương theo mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất - kinh doanh.

Điều 4. - Ngân hàng có trách nhiệm cho vaybổ sung vốn lưu động cần thiết cho sản xuất - kinh doanh, xuất phát từ kế hoạchsản xuất, kinh doanh, tài chính của xí nghiệp được duyệt. Xí nghiệp có quyềnvay vốn của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của các hoạt động sản xuất kinh doanh;có trách nhiệm lập kế hoạch vay vốn, trả nợ và cùng với ngân hàng xác định mứcvốn lưu động cần thiết, khả năng vốn tự có và nhu cầu vốn vay để làm cơ sở chongân hàng xem xét và xác định hạn mức cho vay trong kế hoạch hàng quý và năm.Ngân hàng và xí nghiệp ký kết hợp đồng tín dụng và cùng có nghĩa vụ thi hànhđúng hợp đồng, bên nào vi phạm phải chịu phạt theo chế độ hợp đồng kinh tế củaNhà nước.

Các nhu cầu vốnlưu động vượt quá hạn mức cho vay trong kế hoạch được ngân hàng xem xét cho vaytrên mức kế hoạch, tuỳ theo hiệu quả của sản xuất - kinh doanh và khả năng nguồnvốn của ngân hàng. Nếu ngân hàng không đáp ứng nhu cầu vay vốn thì xí nghiệp cóquyền huy động vốn của công nhân, viên chức trong nội bộ xí nghiệp với mức lãisuất trong phạm vi khung lãi suất do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định.

Xí nghiệp có tráchnhiệm và có quyền sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, hoàn trả nợ vàlãi vay ngân hàng đúng hạn. Ngân hàng có trách nhiệm và có quyền kiểm tra việcsử dụng vốn vay của xí nghiệp.

Trường hợp xí nghiệpđể xảy ra nợ quá hạn, ngân hàng cùng xí nghiệp kiểm tra, phân tích nguyên nhânvà áp dụng các biện pháp tích cực giúp đỡ xí nghiệp khắc phục thiếu sót, đẩy mạnhsản xuất, tăng nguồn thu, nâng cao năng lực chi trả; nếu do thiên tai, địch hoạthì xí nghiệp làm các thủ tục cần thiết trình hội đồng xử lý nợ xem xét.

Ngân hàng được quyềntừ chối, hạn chế hoặc đình chỉ cho vay đối với các xí nghiệp kinh doanh thua lỗ(trừ trường hợp xí nghiệp có lỗ kế hoạch theo chính sách của Nhà nước) hoặc trảnợ ngân hàng không đúng hạn, và đối với các khoản vay không có hiệu quả kinh tế.Ngân hàng chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với quyết định cho vay hoặc không chovay của mình.

Điều 5. - Việc cấp phát và tín dụng đầu tưxây dựng cơ bản theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước được thực hiện như sau:

Đối với những côngtrình được ngân sách Nhà nước đầu tư theo kế hoạch, cơ quan tài chính các cấpphải chuyển vốn sang ngân hàng theo kế hoạch năm và quý; ngân hàng thay mặt tàichính cấp phát và thanh toán với các đơn vị theo tiến độ xây dựng theo và đúngquy chế Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản.

Đối với những côngtrình sản xuất - kinh doanh tính được hiệu quả kinh tế trực tiếp, thu hồi vốnnhanh và có khả năng trả nợ trong thời hạn Nhà nước quy định, ngân hàng cho vaybằng nguồn vốn tín dụng của mình và có phần bằng nguồn vốn của ngân sách.

Chủ đầu tư và ngânhàng đều có trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựngcơ bản tập trung của Nhà nước, chấp hành nghiêm túc các nguyên tắc và chế độ quảnlý xây dựng cơ bản.

Chủ đầu tư có trọnquyền sử dụng vốn cấp phát và tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản theo chỉ tiêu kếhoạch được duyệt để thực hiện mục tiêu đưa công trình, hạng mục công trình vàosản xuất, sử dụng đúng kế hoạch.

Ngân hàng cấp vốnkịp thời cho xí nghiệp theo tiến độ xây dựng trong phạm vi chỉ tiêu vốn đầu tưvà nguồn vốn ngân sách chuyển sang; đôn đốc các bên giao nhận thầu thực hiện kếhoạch khối lượng và chất lượng xây dựng, tôn trọng các quy chế về đầu tư xây dựngcơ bản của Nhà nước; có thể không cấp vốn và kiến nghị cơ quan có thẩm quyềnxem xét xử lý nếu chủ đầu tư vi phạm nghiêm trọng các quy định về đầu tư xây dựngcơ bản của Nhà nước.

Điều 6. - Đối với nhu cầu vốn đầu tư ngoàikế hoạch tập trung của Nhà nước (nhất là để đẩy mạnh khai thác tài nguyên, nângcao năng lực vận tải, thay đổi mặt hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm, pháttriển sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, v.v...), xí nghiệp lập và gửi đếnngân hàng cơ sở kế hoạch vay vốn, giải trình rõ nhu cầu vay, nguồn vật tư, thiếtbị, mức vốn cần thiết, khả năng vốn tự có, hiệu quả và thời hạn trả nợ, mức trảnợ; ngân hàng xem xét, cho vay bằng nguồn vốn của ngân hàng.

Các trường hợpngân hàng cho vay ngoài chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước không được sử dụng vật tưthiết bị cân đối theo kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước.

Điều 7. - Các xí nghiệp quốc doanh đượcvay vốn bằng ngoại tệ của Ngân hàng hoặc yêu cầu ngân hàng Ngoại thương bảolĩnh các khoản vay nợ nước ngoài để nhập khẩu thiết bị, vật tư, nguyên liệu đãđược cơ quan quản lý ngoại thương cho phép.

Xí nghiệp và ngânhàng tính toán lập kế hoạch vay vốn bằng ngoại tệ trên cơ sở lựa chọn phương ántối ưu về nhập khẩu và xuất khẩu, bảo đảm sử dụng vốn vay ngoại tệ có hiệu quảvà khả năng trả nợ bằng ngoại tệ cả vốn và lãi. Ngân hàng ưu tiên cho vay đối vớicác xí nghiệp trực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu, các nhu cầu mua nguyên vật liệucần cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu, sảnxuất hàng tiêu dùng, các loại máy móc thiết bị cần thiết để sử dụng nguyên vậtliệu trong nước thay thế nguyên vật liệu nhập khẩu. Đối với các xí nghiệp khôngtrực tiếp sản xuất hàng xuất khẩu, nhưng cần vay ngoại tệ, cũng có thể đượcngân hàng cho vay ngoại tệ, nếu sau quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinhdoanh, có nguồn thu bằng ngoại tệ đủ trả nợ Ngân hàng.

Ngân hàng từ chốicho vay hoặc không nhận bảo lĩnh nếu nhu cầu vay không phù hợp với chính sáchxuất nhập khẩu của Nhà nước, không bảo đảm được khả năng trả nợ bằng ngoại tệ;tính tiền phạt đối với số nợ quá hạn và số tiền bảo lĩnh của ngân hàng đã phảitrả nợ nước ngoài theo mức lãi suất nợ quá hạn trên thị trường quốc tế.

Các xí nghiệp cótrách nhiệm chấp hành đúng đắn điều lệ quản lý ngoại hối của Nhà nước; gửi hếtsố vốn ngoại tệ của mình (nếu có) vào ngân hàng ngoại thương, sử dụng ngoại tệtheo đúng chế độ, pháp luật của Nhà nước. Vốn ngoại tệ gửi vào ngân hàng đượcngân hàng trả lãi bằng ngoại tệ.

Điều 8. - Đối với khu vực tập thể (dướiđây gọi chung là hợp tác xã), ngân hàng cho vay ngắn hạn và dài hạn để giúp cáchợp tác xã có đủ vốn đáp ứng các nhu cầu vốn cần thiết của sản xuất, xây dựngvà trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở mang các ngành nghề. Các hợp tác xãhuy động mọi khả năng nguồn vốn tự có vào sản xuất, kinh doanh và xây dựng cơ bản;gửi các khoản vốn tiền tệ tạm thời chưa dùng đến vào ngân hàng; sử dụng vốn tiếtkiệm có hiệu quả; có quyền tạo vốn, kể cả việc tự huy động vốn của xã viên.

Điều 9. - Ngân hàng cho vay phát triểnkinh tế gia đình, kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể, đáp ứng các nhu cầu cầnthiết cho sản xuất và gia công cho Nhà nước, đẩy mạnh sản xuất và giao nộp sảnphẩm theo hợp đồng hai chiều hoặc hợp đồng liên kết sản xuất với kinh tế quốcdoanh và tập thể.

Người vay phải sửdụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả và trả nợ ngân hàng sòng phẳng, đúng hạn.Trường hợp sử dụng vốn vay không đúng mục đích, trái chính sách của Nhà nướcthì ngân hàng thu hồi nợ trước hạn, hoặc khởi tố trước pháp nếu vi phạm nghiêmtrọng.

Điều 10. - Ngân hàng quy định mức lãi suấtcụ thể trong phạm vi khung lãi suất của nhà nước đối với từng ngành, từng thànhphần kinh tế, từng vùng, từng loại vốn vay như vốn lưu động trong hạn mức kế hoạchvà vốn trên mức kế hoạch, vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn; lãi suất nợ quáhạn; thực hiện chính sách ưu đãi về tín dụng và lãi suất đối với các xí nghiệpsử dụng vốn tự có và vốn vay đạt hiệu quả kinh tế cao, tăng nhanh vòng quay vốn,hoàn thành tốt các chỉ tiêu pháp lệnh, trả nợ ngân hàng trước hạn.

Điều 11.- Ngân hàng có trách nhiệm tổ chứccông tác thanh toán nhanh chóng, chính xác, thuận lợi cho các xí nghiệp; trườnghợp thanh toán chậm do thiếu sót của ngân hàng thì ngân hàng phải chịu phạt bằngtiền theo chế độ thanh toán không dùng tiền mặt của Nhà nước.

Các xí nghiệp phảitheo dõi, kịp thời thu hồi các khoản tiền bán hàng, cung ứng dịch vụ và thanhtoán các khoản tiền mua hàng, cung ứng dịch vụ theo đúng quy định của Nhà nướcvề thanh toán bằng tiền mặt và bằng chuyển khoản; quản lý, bảo quản các quyểnséc không để bị lợi dụng; chịu phạt bồi thường bằng tiền cho bên bán (trong trườnghợp chậm trả) hoặc cho ngân hàng (trong trường hợp phát hành séc quá số dư tiềngửi hoặc quá hạn mức được vay ngân hàng).

Trong quan hệ muabán vật tư hàng hoá, các xí nghiệp tự lựa chọn thể thức thanh toán thích hợp;được quyền sử dụng séc để rút tiền mặt hoặc chi trả ở bất kỳ chi nhánh ngânhàng nào trong cả ngước.

Điều 12. - Ngân hàng thực hiện cấp phát,cho vay và thanh toán để chi trả tiền vật tư, hàng hoá, dịch vụ theo mức giá vàkhung giá do cơ quan có thẩm quyền quy định và theo chế độ phân cấp quản lý củaNhà nước.

Điều 13. - Xí nghiệp có trách nhiệm chấphành đúng đắn các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, tài chính, giá cả,thị trường, tiền mặt, tín dụng và thanh toán, và chịu trách nhiệm trước pháp luậtvề những vi phạm.

Ngân hàng thực hiệnviệc kiểm soát bằng đồng tiền chủ yếu thông qua phân tích hoạt động kinh tế -tài chính của xí nghiệp, phát hiện những vi phạm chính sách, pháp luật, chế độquản lý kinh tế - tài chính, quản lý tín dụng và chế độ tiền mặt của Nhà nước;trên cơ sở đó, một mặt thông báo cho cơ quan chủ quản của xí nghiệp biết và kiếnnghị biện pháp xử lý, mặt khác thực hiện chính sách ưu đãi hoặc áp dụng các biệnpháp chế tài về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và lãi suất để thúc đẩy xí nghiệpkhắc phục thiếu sót, hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất, kinh doanh.

Điều 14. - Các chi nhánh ngân hàng cơ sởcùng các xí nghiệp thống nhất kế hoạch thu chi tiền mặt, kế hoạch vay vốn, tổnghợp thành kế hoạch tiền mặt, kế hoạch tín dụng trên địa bàn lãnh thổ.

Ngân hàng cấp trêngiao chỉ tiêu số bội thu hoặc bội chi tiền mặt; chỉ tiêu dư nợ tín dụng theo từngcấp quản lý, (trung ương, tỉnh, huyện) và theo loại cho vay (cho vay vốn lưu độngtrong hạn mức kế hoạch, trên mức kế hoạch, doanh số cho vay và thu nợ vốn cố định).

Chỉ tiêu bội thuhoặc bội chi tiền mặt, chỉ tiêu dư nợ tín dụng vốn lưu động, doanh số cho vayvà thu nợ vốn cố định và chỉ tiêu các khoản nộp ngân sách (gồm lợi nhuận và cáckhoản thu khác) là chỉ tiêu pháp lệnh.

Trong phạm vi tổngmức kế hoạch tín dụng được giao, chi nhánh ngân hàng cơ sở có thể dành một phầnlàm vốn dự trữ để chủ động điều hoà vốn trong quá trình kinh doanh; quyết địnhcho vay và cung ứng vốn; cho gia hạn nợ theo quy định của chế độ tín dụng; quyếtđịnh mức thưởng, phạt về lãi suất tiền vay đối với các xí nghiệp hoạt động tốthoặc yếu kém và quyết định áp dụng các chế tài về tiền mặt, tín dụng, lãi suấtđối với các xí nghiệp vi phạm chế độ của Nhà nước theo quy định của Tổng giám đốcNgân hàng Nhà nước.

Chi nhánh Ngânhàng cơ sở chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, thựchiện hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo chế độ thống nhấttoàn ngành; xử lý nghiêm minh mọi hiện tượng tiêu cực trong ngành (cửa quyền,móc ngặc, hối lộ và tham ô, lợi dụng) theo đúng quy chế của ngành và pháp luậtcủa Nhà nước.

Chi nhánh Ngânhàng cơ sở thực hiện vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được giao, tăng nhanh vòngquay vốn và tiền mặt, được xét tăng thêm tiền thưởng.

Điều 15. - Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nướchướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành quy định này.

QUY ĐỊNH TẠMTHỜI

VỀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ TRONG LĨNH VỰC GIÁ CẢ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986của Hội đồng Bộ trưởng)

I- QUYỀN HẠN CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT QUỐC DOANH CÔNG-NÔNG-LÂM-NGƯ NGHIỆP...(SAU ĐÂY GỌI TẮT LÀ XÍ NGHIỆP) HẠCH TOÁN KINH TẾ ĐỘC LẬP.

Điều 1. - Đối với những mặt hàng thuộcdanh mục Nhà nước định giá.

Xí nghiệp có tráchnhiệm báo cáo đầy đủ, chính xác giá thành và kiến nghị mức giá bán của xí nghiệpđối với những sản phẩm do xí nghiệp sản xuất để trình cơ quan có thẩm quyền quyếtđịnh.

Xí nghiệp căn cứvào khung giá hoặc giá chuẩn do Trung ương định và sự hướng dẫn của Uỷ ban Vậtgiá Nhà nước về chính sách, nguyên tắc, phương pháp định giá, trao đổi với nhữngtổ chức tiêu thụ chủ yếu được chỉ định để xây dựng phương án giá bán và kiếnnghị lên cấp trên có thẩm quyền quyết định.

Đối với những mặthàng phân cấp cho cấp tỉnh, thành phố định giá, xí nghiệp báo cáo đầy đủ giáthành và kiến nghị mức giá bán của xí nghiệp để Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phốquyết định.

Điều 2. Đối với những mặt hàng ngoài danhmục Nhà nước định giá.

Xí nghiệp được địnhgiá tiêu thụ trong khung giá do Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố (hoặc cơ quanđược uỷ quyền) quy định. Những mặt hàng Uỷ ban Nhân dân tỉnh không quy định giáhoặc khung giá thì xí nghiệp được định giá trên cơ sở tính toán chặt chẽ, chínhxác giá thành và thoả thuận với khách hàng, với ý thức trách nhiệm đầy đủ tíchcực tham gia bình ổn giá cả thị trường xã hội, không chạy theo giá thị trường tựdo.

Điều 3. - Đối với những sản phẩm thuộc quyềnđịnh giá của cơ quan cấp trên nhưng được sản xuất bằng vật tư tự kiếm và bán chotổ chức tiêu thụ được chỉ định theo giá chỉ đạo, nếu xí nghiệp không bù đắp đượcchi phí sản xuất và có lãi định mức thì Nhà nước sẽ bù chênh lệch giá cho xínghiệp. Nếu cấp bù chậm, xí nghiệp được vay Ngân hàng để có vốn tiếp tục sản xuất.Lãi vay Ngân hàng được tính vào giá thành. Đối với những mặt hàng xí nghiệp đượcphép tự tiêu thụ thì bán theo giá kinh doanh thương nghiệp hoặc giá thoả thuậntrong khung giá do cấp có thẩm quyền quy định.

Điều 4. - Xí nghiệp được quyền quyết định:

- Giá bán sản phẩmsản xuất thử, sản xuất làm mẫu..., sản phẩm được Nhà nước cho phép bán giới thiệumặt hàng tại các hội chợ triển lãm hoặc tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm mới.

- Giá sản phẩm điềuđộng trong nội bộ xí nghiệp hoặc Liên hiệp các xí nghiệp để tiếp tục quá trìnhsản xuất, nhưng không được làm đội giá sản phẩm cuối cùng do cơ quan có thẩmquyền quyết định.

- Giá dịch vụ sửachữa theo sự hướng dẫn về chính sách, nguyên tắc và phương pháp tính giá của Uỷban Vật giá Nhà nước. Đối với những dịch vụ quan trọng (dịch vụ kỹ thuật, dịchvụ sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải...) thì phải theo mức giá,giá chuẩn hoặc khung giá của Nhà nước.

- Giá bán sản phẩmsản xuất đơn chiếc theo yêu cầu của khách hàng (trong hạn mức giá trị do Nhà nướcquy định), không thuộc nhiệm vụ thiết kế của dây chuyền sản xuất chính. Đối vớisản phẩm đơn chiếc có giá trị lớn, sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước nhưđóng tầu, trạm thuỷ điện nhỏ, dây chuyền chế biến đường, bánh kẹo... thì do Nhànước quyết định giá.

- Giá mua, giá báncác sáng chế, bí quyết kỹ thuật, sơ hữu công nghiệp, v.v... theo quy định củaNhà nước.

Điều 5. - Xí nghiệp được thoả thuận vớikhách hàng tính thêm vào giá bán sản phẩm chi phí làm bổ sung theo yêu cầu củakhách hàng mà chưa ghi trong hợp đồng hoặc trừ khỏi giá bán sản phẩm phần chiphí do không đáp ứng yêu cầu của khách hàng đã ghi trong hợp đồng vì nhữngnguyên nhân khách quan.

Điều 6. - Trong thời gian có hiệu lực củahợp đồng, nếu Nhà nước thay đổi giá bán vật tư., tiền lương, v.v... thì xí nghiệpkiến nghị với cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giá bán sản phẩm của xí nghiệpcho phù hợp.

II. QUYỀN HẠN CỦA CÁC CƠ SỞ KINH TẾ TẬP THỂ TIỂU CÔNG NGHIỆP,THỦ CÔNG NGHIỆP (SAU ĐÂY GỌI CHUNG LÀ HỢP TÁC XÃ)

Điều 7. - Hợp tác xã có trách nhiệm báocáo đầy đủ, chính xác giá thành và đề xuất mức giá thu mua hoặc giá gia công nhữngsản phẩm do hợp tác xã sản xuất để cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quy địnhgiá thu mua, giá gia công cho hợp lý.

Căn cứ vào giá chuẩnhoặc khung giá thu mua, giá gia công của Nhà nước (do cơ quan có thẩm quyền quyđịnh) hợp tác xã trao đổi với bên đặt hàng để kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyềnquyết định giá thu mua hoặc giá gia công sản phẩm cụ thể theo quy cách, phẩm chất,địa điểm và thời gian giao hàng như quy định trong Điều lệ quản lý giá của Nhànước. Hợp tác xã có trách nhiệm gửi hợp đồng cho cơ quan quyết định giá chuẩnhoặc khung giá để báo cáo.

Điều 8. - Đối với sản phẩm mà hợp tác xãđược tự tổ chức tiêu thụ thì cũng phải theo khung giá của Nhà nước, đồng thờiphải chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách thuế, quản lý thị trường. Nếu các tổchức kinh tế quốc doanh cần mua thì mua theo giá thoả thuận.

Điều 9. - Hợp tác xã thoả thuận với kháchhàng:

- Tính thêm vàogiá bán sản phẩm phần chi phí làm bổ sung theo yêu cầu của khách hàng mà chưaghi trong hợp đồng hoặc trừ khỏi giá gia công, giá thu mua phần chi phí dokhông đáp ứng được yêu cầu của khách hàng đã ghi trong hợp đồng vì những nguyênnhân khách quan.

- Giá mua, giá báncác sáng chế, bí quyết kỹ thuật, sở hữu công nghiệp, v.v... theo quy định củaNhà nước.

Điều 10. - Trong thời gian có hiệu lực củahợp đồng, nếu Nhà nước thay đổi giá bán vật tư, tiền công, v.v... thì hợp tácxã căn cứ vào sự hướng dẫn của Uỷ ban vật giá Nhà nước, trao đổi với cơ quan đặthàng rồi kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thay đổi giá gia công, giá thu mua chophù hợp.

III. QUYỀN HẠN CỦA CÁC CƠ SỞ LƯU THÔNG QUỐC DOANH (SAU ĐÂY GỌITẮT LÀ CÔNG TY) LÀ ĐƠN VỊ HẠCH TOÁN KINH TẾ ĐỘC LẬP

Điều 11. - Công ty có nhiệm vụ báo cáo đầyđủ chính xác giá mua vào, chi phí lưu thông và kiến nghị với cơ quan có thẩmquyền quyết định giá, mức giá bán buôn vật tư (đối với Công ty cung ứng vậttư), mức giá bán lẻ (đối với Công ty thương nghiệp) và mức chiết khấu (hoặc thặngsố) lưu thông vật tư, thương nghiệp.

Căn cứ vào khunggiá, giá chuẩn do cơ quan có thẩm quyền quyết định, và sự hướng dẫn của Uỷ banvật giá Nhà nước về chính sách, nguyên tắc, phương pháp xác định giá, công tykiến nghị cấp có thẩm quyền quyết định mức giá cụ thể theo quy cách, phẩm chất,địa điểm giao nhận hàng... như quy định trong Điều lệ quản lý giá của Nhà nước.Cơ quan này phải nộp văn bản quyết định giá của mình có kèm theo phương án giácủa công ty cho cơ quan quyết định giá chuẩn hoặc khung giá để báo cáo.

Điều 12. - Tổng công ty và Công ty Trungương căn cứ vào chiết khấu (hoặc thặng số) lưu thông vật tư, thương nghiệp theongành hàng hoặc nhóm hàng của Nhà nước để cụ thể hoá chiết khấu (hoặc thặng số)lưu thông cho các mặt hàng cụ thể hoặc theo cấp kinh doanh trực thuộc.

Điều 13. - Đối với những mặt hàng phân cấpcho địa phương quyết định giá, ngoài những mặt hàng do tỉnh đã quyết định mứcgiá cụ thể, thì công ty căn cứ vào khung giá, giá chuẩn do Uỷ ban Nhân dân tỉnhquy định và sự hướng dẫn của cơ quan giá địa phương để quyết định giá bán (hoặcthoả thuận giá mua). Công ty có trách nhiệm nộp phương án giá và văn bản quyếtđịnh giá cụ thể cho Uỷ ban Nhân dân tỉnh để báo cáo.

Trường hợp chưa cókhung giá chỉ đạo hoặc những mặt hàng tỉnh không chỉ đạo giá thì công ty quyếtđịnh giá căn cứ vào giá mua thoả thuận với cơ sở sản xuất, thặng số đã được xétduyệt và chính sách giá của Nhà nước và với ý thức trách nhiệm đầy đủ tích cựctham gia đẩy mạnh sản xuất, phục vụ đời sống, góp phần bình ổn giá cả thị trườngxã hội, không chạy theo giá thị trường tự do.

Điều 14. - Đối với những vật tư, hàng hoáthiết yếu do công ty tự tạo (do nhập khẩu bằng nguồn ngoại tệ tự có, do liên kếtkinh tế) đưa vào bán theo kế hoạch hợp đồng kinh tế thì phải theo theo giá chỉđạo của Nhà nước. Trường hợp công ty không có lãi định mức hoặc bị lỗ vốn thìNhà nước sẽ bù chênh lệch giá cho công ty.

Điều 15. - Công ty được quyền:

Quyết định giá bánhàng thực phẩm tươi sống tại địa phương (cá nước ngọt, gia cầm, trứng gà, trứngvịt...) theo các quy định chung về phân cấp quản lý, về nguyên tắc và phươngpháp xác định giá của Nhà nước. Đối với những mặt hàng tươi sống do Nhà nước chỉđạo giá chuẩn hoặc khung giá thì công ty được quyền căn cứ vào giá chuẩn hoặckhung giá của Nhà nước để cụ thể hoá giá bán.

Kiến nghị mức giábán hàng kém phẩm chất, hàng ứ đọng lâu ngày, hàng lạc hậu so với thị hiếu (đượccấp có thẩm quyền xác nhận) với cơ quan quyết định giá sản phẩm đó. Đối vớihàng thực phẩm tươi sống thì báo cáo lên cấp trên trực tiếp để giải quyết kịpthời.

Điều 16. - Đối với những dịch vụ sinh hoạtquan trọng như ăn uống công cộng, may đo, cắt tóc, sửa chữa nhà cửa, đồ dùnggia đình, phương tiện đi lại, giữ xe đạp v.v... mà Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặccơ quan được uỷ quyền) đã quyết định mức giá cụ thể thì công ty phải nghiêm chỉnhchấp hành. Nếu Uỷ ban Nhân dân tỉnh quy định giá chuẩn hoặc khung giá thì côngty được quyền quyết định mức giá cụ thể trong khung giá hoặc theo giá chuẩn củatỉnh đã quy định.

Công ty thoả thuậnvới khách hàng giá mua và giá bán hàng ký gửi theo những nguyên tắc Nhà nướcquy định về phí, lãi, thuế.

IV. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ.

Điều 17. - Xí nghiệp có trách nhiệm phấn đấugiảm giá thành và phí lưu thông để góp phần bình ổn giá cả thị trường xã hội,tăng tích luỹ, thực hiện tốt 3 lợi ích.

Chấp hành nghiêmchỉnh chính sách giá, nguyên tắc, phương pháp hình thành giá, chế độ quản lý,đăng ký, niêm yết giá của Nhà nước và mức giá chỉ đạo (bao gồm cả giá chuẩn vàkhung giá) do các cơ quan có thẩm quyền quy định.

Lập phương án giá cácsản phẩm do đơn vị sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định của Nhà nước; trìnhcơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá.

Điều 18. - Ký kết hợp đồng kinh tế, tiêuthụ sản phẩm và dịch vụ với giá được Nhà nước công bố (hoặc giá thoả thuận)theo đúng quy định của Nhà nước.

Trường hợp chưa cógiá chính thức của cấp có thẩm quyền quy định thì xí nghiệp (hoặc công ty) tạmthời được áp dụng giá tạm tính trong thời hạn tối đa là 30 ngày, khi có giáchính thức thì phải thanh toán lại theo giá chính thức.

Cung cấp đầy đủ,chính xác, kịp thời những tài liệu cần thiết (định mức tiêu hao vật tư, lao động;đơn giá vật tư, đơn giá tiền lương; khấu hao tài sản cố định...) do yêu cầu củacơ quan có thẩm quyền xét duyệt giá và kiểm tra, thanh tra giá.

V. TRÌNH TỰ LẬP, XÉT DUYỆT VÀ CÔNG BỐ GIÁ NHƯ SAU

Điều 19. - Phương án giá các sản phẩm thuộcthẩm quyền quyết định giá của Nhà nước phải do đơn vị sản xuất - kinh doanh xâydựng dựa trên cơ sở các định mức trung bình - tiên tiến về tiêu hao lao động, vậttư do cơ quan có thẩm quyền duyệt và theo sự hướng dẫn về chính sách, nguyên tắc,phương pháp tính giá thành, giá cả của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban Vậtgiá Nhà nước. Xí nghiệp (hoặc công ty) được quyền bảo vệ trước cơ quan duyệtgiá (có ý kiến của cơ quan chủ quản). Cơ quan duyệt giá quyết định giá sau khiđã trao đổi với đơn vị sản xuất, kinh doanh và phải duyệt giá kịp thời, chậm nhấtlà 20 ngày (nếu là sản phẩm, nguyên liệu có tính chất thời vụ thì 10 ngày) kể từkhi nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định; quá hạn đó đơnvị sản xuất, kinh doanh được quyền mua, bán theo giá đề nghị trong phương án.

Điều 20. - Hội đồng vật giá các cấp là cơquan tư vấn của các cấp có thẩm quyền quyết định giá; có thể thành lập hội đồngvật giá ở các Bộ, Tổng cục. Phương án giá sản phẩm quan trọng có liên quan đếncác ngành, địa phương, cơ quan quyết định giá cần đưa ra Hội đồng vật giá, thamkhảo ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về sản xuất và giá cả trước khiquyết định giá. Trường hợp cần thiết, Hội đồng có trách nhiệm phải thẩm traphương án giá tại cơ sở sản xuất hoặc cơ sở lưu thông sản phẩm đó.

Điều 21. - Các đơn vị cơ sở phải chấp hànhnghiêm chỉnh giá cả đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và đã được công bốrộng rãi, gắn liền với quy cách, chất lượng phương thức mua bán.

Các Bộ, Uỷ banNhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương gửi các văn bản quyết địnhgiá của mình cho Uỷ ban Vật giá Nhà nước; các đơn vị cơ sở gửi văn bản quyết địnhgiá của mình cho cơ quan quản lý giá cùng cấp.

Điều 22. - Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nướchướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành bản quy định này.

QUY ĐỊNH

TẠM THỜI VỀ QUYỀN TỰ CHỦ SẢN XUẤT, KINH DOANHCỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞ TRONG LĨNH VỰC TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ DỊCHVỤ(Ban hành kèm theo Quyết định số76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

I. VỀ QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG NGHIỆP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI CÁC XÍNGHIỆP CÔNG - NÔNG - LÂM - NGƯ NGHIỆP QUỐC DOANH (GỌI CHUNG LÀ XÍNGHIỆP).

Điều 1. - Thương nghiệp xã hội chủ nghĩacó trách nhiệm nắm nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng, đặt hàng và ký hợp đồng bảo đảmtiêu thụ sản phẩm hàng hoá của các xí nghiệp, bảo đảm cung ứng những hàng tiêudùng thiết yếu cho công nhân, viên chức theo đúng chính sách của Nhà nước, vớitổ chức và phương thức phân phối thuận tiện nhất, đến tay người tiêu dùng, đồngthời tích cực khai thác thêm nguyên liệu, vươn lên kinh doanh nhiều mặt hàng, mởmang dịch vụ sinh hoạt để đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống của cán bộ,công nhân viên các xí nghiệp.

Điều 2. - Các xí nghiệp thông qua thươngnghiệp xã hội chủ nghĩa được Nhà nước chỉ định để tiêu thụ sản phẩm hàng hoátheo kế hoạch Nhà nước và hợp đồng kinh tế.

Điều 3. - Nhằm hợp lý hoá sự vận động củahàng hoá thực hiện việc giao thẳng một số hàng hoá từ xí nghiệp sản xuất đến cơsở bán lẻ của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa.

a) Nếu là mặt hàngtrong danh mục Nhà nước thống nhất quản lý thì việc giao thẳng hàng bán từ nơisản xuất đến nơi bán lẻ phải theo kế hoạch phân phối bán buôn của ngành Nộithương và theo hợp đồng kinh tế ký kết giữa tổ chức thương nghiệp bán buôn vớixí nghiệp sản xuất. Chi phí vận chuyển thẳng mà xí nghiệp phải bỏ ra, thìthương nghiệp trích trong phí lưu thông bán buôn trả lại cho xí nghiệp sản xuất.Đối với những mặt hàng không thể giao thẳng từ nơi sản xuất đến nơi bán lẻ đượcmà phải qua khâu thương nghiệp bán buôn thì tổ chức thương nghiệp bán buôn phảigiảm bớt khâu trung gian để hàng hoá đi nhanh từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùngvà giảm bớt chi phí lưu thông.

b) Nếu là mặt hàngngoài danh mục Nhà nước thống nhất quản lý, song thuộc cân đối tiêu dùng trongkế hoạch lưu chuyển hàng hoá của ngành Nội thương thì trên cơ sở hợp đồng kinhtế mà xí nghiệp sản xuất đã thoả thuận ký với tổ chức thương nghiệp bán buôn,xí nghiệp sản xuất thực hiện việc giao thẳng hàng hoá cho cơ sở bán lẻ củathương nghiệp xã hội chủ nghĩa theo hợp đồng đó. Thương nghiệp cũng phải tríchtrong phí lưu thông bán buôn trả lại cho xí nghiệp sản xuất chi phí vận chuyểnthẳng mà xí nghiệp sản xuất phải bỏ ra. Đối với những mặt hàng mà ngành Nộithương không có kế hoạch phân phối bán buôn thì việc giao hàng thẳng từ xí nghiệpsản xuất đến cơ sở bán lẻ của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa là do hai bên thoảthuận. Nếu không có sự thoả thuận với nhau thì xí nghiệp sản xuất có thể tự tổchức tiêu thụ nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách giá và quản lýthị trường của Nhà nước.

Điều 4. - Các xí nghiệp có đủ điều kiệnnói ở điều 10 dưới đây được phép mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm mới hoặc để tựtiêu thụ những hàng hoá mà thương nghiệp xã hội chủ nghĩa không nhận tiêu thụnói ở điều 3, và mở các cơ sở dịch vụ để hướng dẫn sử dụng, bảo hành, sửa chữanhững hàng hoá do xí nghiệp sản xuất ra. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa cótrách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ các xí nghiệp đó về nghiệp vụ kinh doanh thươngnghiệp và dịch vụ nếu xí nghiệp yêu cầu.

II. VỀ QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG NGHIỆP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI CÁC HỢP TÁC XÃ SẢNXUẤT VÀ TẬP ĐOÀN SẢN XUẤT NÔNG - LÂM - NGƯ NGHIỆP VÀ TIỂU, THỦ CÔNG NGHIỆP (GỌICHUNG LÀ HỢP TÁC XÃ).

Điều 5. - Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa mởrộng quan hệ trực tiếp với các hợp tác xã. Thông qua hợp đồng kinh tế (đối vớihợp tác xã nông - lâm - ngư nghiệp) và hợp đồng đặt mua, hợp đồng bán nguyên liệuthu mua thành phẩm, hợp đồng gia công sản xuất (đối với hợp tác xã tiểu, thủcông nghiệp) mà phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển theo quy hoạch và kế hoạchNhà nước, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất,trên cơ sở đó bảo đảm cho Nhà nước nắm được tận gốc hầu hết lương thực hànghoá, tuyệt đại bộ phận nông sản, lâm sản, hải sản và sản phẩm tiểu, thủ côngnghiệp quan trọng, tăng cường mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với hợp tác xã,củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đối với những hàng hoá không mua bánqua hợp đồng thì thương nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng phải mua bằng phương thứcvà giá cả hợp lý để đưa được thật nhiều hàng hoá vào lưu thông có tổ chức và cólực lượng đấu tranh bình ổn vật giá trên thị trường xã hội.

Điều 6. - Đối với những hàng hoá còn lạisau khi hợp tác xã đã làm tròn nhiệm vụ đóng thuế và giao đủ sản phẩm cho các tổchức kinh tế Nhà nước theo hợp đồng đã ký thì hợp tác xã bán cho thương nghiệpxã hội chủ nghĩa theo giá do hai bên thoả thuận. Nếu hợp tác xã không thoả thuậnbán đứt cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa thì có thể uỷ thác cho thương nghiệpxã hội chủ nghĩa làm đại lý bán hộ hoặc tự tổ chức tiêu thụ theo những điều kiệnnói ở điều 10.

III. VỀ QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG NGHIỆP XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỚI KINHTẾ CÁ THỂ VÀ KINH TẾ GIA ĐÌNH (GỌI CHUNG LÀ NGƯỜI SẢN XUẤT)

Điều 7. - Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa dựavào hợp tác xã sản xuất hoặc hợp tác xã mua bán để ký hợp đồng kinh tế với ngườisản xuất hoặc dùng phương thức kinh doanh và giá cả thích hợp để mua các sản phẩmhàng hoá của họ, đồng thời tổ chức và quản lý tốt các chợ ở nông thông và thànhthị, qua đó mà mở rộng quan hệ mua bán trực tiếp với người sản xuất nhằm thúc đẩyphát triển kinh tế gia đình, làm tăng sản phẩm hàng hoá cho xã hội và đưa nguồnhàng này vào lưu thông có tổ chức.

Điều 8. - Người sản xuất nếu không thoảthuận bán đứt hàng của mình cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa hoặc không muốnuỷ thác cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa bán hộ thì được tự tổ chức tiêu thụtheo những điều kiện nói ở điều 10.

IV. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 9. - Cấm tư nhân kinh doanh buôn bánlương thực, vật tư chiến lược, những hàng công nghiệp tiêu dùng và những nông -lâm - hải sản Nhà nước thống nhất quản lý và độc quyền kinh doanh. Ngành nộithương sẽ quy định danh mục mặt hàng cụ thể, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố cóthể tuỳ tình hình cụ thể của địa phương mà bổ sung thêm những mặt hàng xét thấycần thiết. Không cho phép thương nhân được vào mua nông sản, thực phẩm ở nhữngvùng mà Nhà nước thống nhất quản lý, trực tiếp đầu tư vào sản xuất và mua sảnphẩm hàng hoá theo hợp đồng kinh tế. Bộ chủ quản kết hợp với Uỷ ban Nhân dân tỉnhquy định các vùng đó. Tư nhân đang buôn bán những hàng hoá kể trên được thươngnghiệp xã hội chủ nghĩa lựa chọn sử dụng dưới các hình thức thích hợp hoặc giúpđỡ chuyển sang sản xuất, dịch vụ hay chuyển sang kinh doanh những mặt hàng Nhànước cho phép.

Trên cơ sở khôngngừng mở rộng và cải tiến kinh doanh của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, chophép tư nhân kinh doanh một số mặt hàng thứ yếu mà thương nghiệp xã hội chủnghĩa chưa thể đảm nhiệm hết để phục vụ tốt cho sản xuất và đời sống nhân dântheo những điều kiện nói ở điều 10.

Điều 10. - Các tổ chức và cá nhân kinhdoanh thương nghiệp và dịch vụ ở thị trường trong trong nước và tuân thủ nhữngquy định sau đây:

a) Phải đăng kýkinh doanh và được cơ quan quản lý Nhà nước về thương nghiệp cấp giấy phép kinhdoanh. Riêng các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa có chức năng kinh doanhthương nghiệp và dịch vụ đã được cơ quan quản lý cấp trên của tổ chức ấy chophép thành lập và hoạt động bằng một quyết định hợp thức thì gửi cho cơ quan quảnlý Nhà nước về thương nghiệp bản sao quyết định ấy thay thủ tục đăng ký kinhdoanh. Người sản xuất sau khi đã làm tròn nghĩa vụ theo kế hoạch và hợp đồng màbán sản phẩm còn lại theo từng chuyến thì phải nộp thuế và phải chấp hành chínhsách thương nghiệp nội địa của nhà nước; nếu mở cửa hàng, quầy hàng bán hàngthường xuyên thì phải đăng ký xin cấp giấy phép kinh doanh như những người kinhdoanh buôn bán khác.

b) Phải chấp hànhnghiêm chỉnh các quy định về lưu thông hàng hoá của Nhà nước. Nghiêm cấm tất cảcác hành vi mua đi bán lại đẩy giá lên cao để kiếm lời bất chính làm thiệt hạiđến sản xuất, cho người tiêu dùng và cho Nhà nước.

c) Hàng đưa vàolưu thông phải có nhãn hiệu được đăng ký.

d) Phải chấp hànhnghiêm chỉnh chính sách giá của Nhà nước.

đ) Phải cân, đong,đo bằng các dụng cụ đo lường hợp pháp.

e) Phải tuân thủcác thể lệ về kiểm dịch thực phẩm, về vệ sinh ăn uống công cộng, về trật tự antoàn xã hội và quy tắc phục vụ khách hàng đã được cơ quan quản lý Nhà nước vềthương nghiệp ban hành.

g) Phải chấp hànhnghiêm chỉnh Pháp lệnh về thuế công thương nghiệp của Nhà nước.

Tổ chức hay cánhân nào vi phạm sẽ tuỳ theo lỗi mà bị xử phạt về hành chính, kinh tế hoặc vềhình sự theo luật lệ hiện hành của Nhà nước.

Điều 11. - Bộ trưởng Bộ Nội thương cótrách nhiệm hướng dẫn thi hành bản Quy định này.

QUY ĐỊNH

TẠM THỜI VỀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾCƠ SỞ TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU VÀ XUẤT NHẬP KHẨU(Ban hành kèm theo quyết định số 76-HĐBT ngày26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

I. ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SẢN XUẤT HÀNG XUẤT KHẨU

Điều 1. - Các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩuđược cân đối vật tư, hàng hoá theo chế độ ưu tiên và theo định mức kinh tế kỹthuật và giá cả do Nhà nước ban hành để bảo đảm sản xuất hàng xuất khẩu theo chỉtiêu kế hoạch được giao.

Giá hàng xuất khẩubảo đảm bù đắp được các chi phí vật chất và lao động theo định mức kinh tế - kỹthuật để sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn quy định. Giá mua hàng xuất khẩucao hơn giá mua hàng cùng loại để tiêu dùng trong nước.

Điều 2. - Các đơn vị sản xuất quốc doanhtrung ương, địa phương hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước về sản xuất vàgiao hàng xuất khẩu, thực hiện đầy đủ hợp đồng giao hàng xuất khẩu cho trungương thì được thưởng quyền sử dụng 10% ngoại tệ thực thu (tức là số ngoại tệthu được do xuất khẩu trừ đi các chi phí bằng ngoại tệ về nhập khẩu vật tư,nguyên liệu để sản xuất ra hàng xuất khẩu).

Các đơn vị sản xuấttập thể (hợp tác xã, tổ hợp, tập đoàn sản xuất) hoàn thành toàn diện các chỉtiêu kế hoạch của Nhà nước về sản xuất và giao hàng xuất khẩu được thưởng bằngtiền Việt Nam theo giá trị hợp đồng (sau khi trừ đi giá trị vật tư Nhà nước đãcân đối cho sản xuất). Bộ ngoại thương kiến nghị Hội đồng Bộ trưởng quyết địnhmức thưởng cụ thể.

Điều 3. - Trong phạm vi chính sách và phápluật của Nhà nước, các đơn vị sản xuất được quyền chủ động khai thác năng lực sảnxuất tại chỗ, hoặc liên kết với các đơn vị sản xuất khác (cùng góp vốn, vật tư,thiết bị, lao động, kỹ thuật theo hợp đồng kinh tế để sản xuất và chia sản phẩm,lợi nhuận) để sản xuất thêm hàng xuất khẩu.

Đối với sản phẩmxuất khẩu sản xuất thêm được (sản xuất vượt chỉ tiêu pháp lệnh hoặc ngoài chỉtiêu pháp lệnh), đơn vị sản xuất được xuất khẩu (nếu được phép) hoặc uỷ thác xuấtkhẩu thông qua các đơn vị xuất nhập khẩu đầu mối, những hoạt động kinh doanh xuấtkhẩu của xí nghiệp phải được sự lãnh đạo của Bộ, ngành sản xuất (nếu là đơn vịdo Trung ương quản lý) hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu là đơn vị do địa phươngquản lý) và sự quản lý về mặt Nhà nước của Bộ Ngoại thương và được hưởng quyềnsử dụng từ 70 đến 90% số ngoại tệ thu được.

Các xí nghiệp đượcvay vốn ngoại tệ của ngân hàng hoặc của nước ngoài để tổ chức sản xuất hàng xuấtkhẩu theo đề án được duyệt và được quyền sử dụng từ 70 đến 90% số ngoại tệ thuđược sau khi đã hoàn trả đủ vốn vay và lãi.

Cácđơn vị sản xuất sản phẩm thay thế hàng từ trước đến nay phải nhập khẩu được thưởngquyền sử dụng 10% ngoại tệ tiết kiệm được do dùng sản phẩm thay thế trong 2 nămđầu.

Điều 4. - Bộ Ngoại thương và các Bộ, ngành(hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chủ quản tạo điều kiện thuận lợi, trước hết,cho các đơn vị chuyên sản xuất hàng xuất khẩu hoặc phần lớn hàng hoá của đơn vịsản xuất ra là để xuất khẩu và đạt được trị giá xuất khẩu hàng năm tương đốikhá được cử người và gửi hàng (theo sự sắp xếp của Bộ chủ quản hoặc Uỷ ban nhândân cấp tỉnh) tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế, tham dự các buổi đàm phánký kết hợp đồng mua bán với nước ngoài, tham gia các đoàn khảo sát thị trườngnước ngoài theo quy định của Nhà nước.

Mọi chi phí (bằngtiền Việt Nam và bằng ngoại tệ) liên quan đến các hoạt động kể trên được hạchtoán vào giá thành sản phẩm và trong hạn mức được duyệt.

Điều 5. Những liên hiệp xí nghiệp hoặc xínghiệp lớn có đủ các điều kiện sau đây thì được Nhà nước cho phép trực tiếp xuấtnhập khẩu:

a) Có trình độchuyên môn hoá cao, quy mô sản xuất tương đối lớn, sản phẩm sản xuất ra chuyênđể xuất khẩu hoặc chủ yếu để xuất khẩu, trị giá hàng xuất khẩu tương đối lớn.

b) Có kế hoạch sảnxuất mặt hàng xuất khẩu và có kế hoạch xuất khẩu dài hạn.

c) Có cán bộ nắm vữngđường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về quan hệ kinh tế vớinước ngoài, có phẩm chất đạo đức tốt và có trình độ chuyên môn về ngoại thương.

Điều 6.- Các đơn vị sản xuất hàng xuất khẩucó nghĩa vụ sản xuất và giao sản phẩm xuất khẩu theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước,bảo đảm giao đủ số lượng, đúng chất lượng và thời gian theo hợp đồng đã ký vớiđơn vị xuất nhập khẩu.

Các đơn vị sản xuấtđược hưởng quyền sử dụng ngoại tệ ghi ở các điều 2 và 3 phải mở tài khoản tạiNgân hàng, được dùng số ngoại tệ này để nhập khẩu thiết bị, phụ tùng, nguyên,nhiên liệu, vật tư cần thiết cho việc mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượnghàng xuất khẩu. Nếu Nhà nước có các loại hàng mà đơn vị có nhu cầu, Nhà nước sẽbán và thu lại quyền sử dụng ngoại tệ. Việc chuyển nhượng cho nhau quyền sử dụngngoại tệ phải tiến hành thông qua Ngân hàng và theo đúng thủ tục của Ngân hàngquy định.

Điều 7. - Các liên hiệp xí nghiệp hoặc xínghiệp lớn có đủ các điều kiện nêu trên và được Nhà nước cho phép trực tiếp xuấtnhập khẩu phải tổ chức công ty xuất nhập khẩu theo Điều lệ của Nhà nước banhành để xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu những nguyên liệu, vật tư, thiết bị, phụtùng chuyên dùng phục vụ sản xuất theo quy định của Nhà nước.

II. ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ TRỰC TIẾP KINH DOANH SẢN XUẤT NHẬP KHẨU

Điều 8. - Được cân đối vật tư, hàng hoátheo chính sách và định mức của Nhà nước để bảo đảm mua hàng xuất khẩu theo chỉtiêu pháp lệnh được giao.

Điều 9. - Được quyền liên kết với các đơnvị kinh tế khác trong nước hoặc với nước ngoài (nếu được phép và có đề án đượcduyệt) để tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu ngoài chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước giaovà được hưởng quyền sử dụng ngoại tệ thu được để nhập khẩu thiết bị, phụ tùng,nguyên liệu, vật tư cần thiết cho việc mở rộng xuất khẩu.

Được vay vốn ngoạitệ của Ngân hàng hoặc được Ngân hàng bảo lĩnh để vay vốn của nước ngoài để nhậpthêm vật tư, thiết bị, nguyên liệu... liên kết với các đơn vị sản xuất để tạothêm nguồn hàng xuất khẩu ngoài chỉ tiêu pháp lệnh. Xí nghiệp phải bảo đảm trảnợ cả vốn và lãi bằng ngoại tệ.

Được nhận uỷ thácxuất, nhập khẩu và thu phí uỷ thác một phần bằng tiền Việt Nam và một phần bằngngoại tệ theo quy định của Nhà nước.

Điều 10. - Được thuê tầu của nước ngoàikhi các đơn vị vận tải biển quốc tế của nước ta không bảo đảm bố trí tầu chuyênchở hàng theo kế hoạch pháp lệnh và bảo đảm các điều kiện đã cam kết với nướcngoài hoặc đòi giá cước vận tải cao hơn nước ngoài.

Điều 11. - Trường hợp xuất khẩu hàng hoátrong chỉ tiêu pháp lệnh bị lỗ, được bù lỗ theo chính sách và định mức của Nhànước.

Được phân phối lợinhuận theo chế độ của Nhà nước.

Điều 12. - Được mở tài khoản tiền gửi ngoạitệ hoặc tài khoản quyền sử dụng ngoại tệ tại Ngân hàng theo thủ tục của Ngânhàng quy định.

Điều 13. - Có trách nhiệm phối hợp, kết hợpvới các tổ chức cung ứng vật tư và nội thương để các tổ chức đó cung ứng vật tưhàng hoá theo đúng kế hoạch mua hàng xuất khẩu. Có trách nhiệm nhận sản phẩm xuấtkhẩu theo hợp đồng kinh tế đã ký với đơn vị sản xuất.

Điều 14. - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ củangười nhận uỷ thác nhằm bảo đảm lợi ích chung của Nhà nước và lợi ích của ngườiuỷ thác trong xuất khẩu, nhập khẩu.

Điều 15. - Bộ trưởng các Bộ Tài chính, Ngoạithương, Ngân hàng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Vật giá Nhà nướccó trách nhiệm hướng dẫn cụ thể thi hành bản Quy định tạm thời này.

QUY ĐỊNHTẠM THỜI

VỀ QUYỀN TỰ CHỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ CƠ SỞTRONG VIỆC KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KINH TẾ(Ban hành kèm theo Quyết định số 76-HĐBT ngày26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng)

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ

Điều 1. - Hợp đồng kinh tế là một căn cứ để xây dựng và thực hiện kế hoạch, làphương tiện quan trọng để kế hoạch hoá với sử dụng quan hệ thị trường và phảitrở thành nếp quan hệ thường xuyên giữa các đơn vị kinh tế cơ sở.

Mọi hoạt động kinhtế có liên quan giữa các đơn vị kinh tế với nhau hoặc giữa đơn vị kinh tế và cơquan Nhà nước, các đơn vị vũ trang, các đoàn thể và tổ chức xã hội đều phải kýkết hợp đồng. Mọi hoạt động liên doanh, liên kết kinh tế đều phải thể hiệntrong kế hoạch của đơn vị cơ sở và phải thông qua ký kết và thực hiện hợp đồng.

Các chủ thể ký hợpđồng phải có tư cách pháp nhân và đều bình đẳng trước pháp luật.

Các cơ sở kinh tếquốc doanh được ký kết hợp đồng với các hộ tư nhân được phép kinh doanh và cótài khoản ở Ngân hàng. Khi ký kết hợp đồng với đơn vị kinh tế quốc doanh, các hộtư nhân phải có thế chấp tài sản tương ứng với giá trị hợp đồng được ký.

Điều 2. - Việc ký kết và thực hiện hợp đồngkinh tế phải theo đúng quy định của pháp luật. Các bên có thể thoả thuận ghivào hợp đồng một khoản tiền để thưởng cho bên nào thực hiện tốt hợp đồng.

Các trường hợp từchối, trì hoãn ký hợp đồng mà không có lý do chính đáng hoặc vi phạm những điềukhoản đã cam kết trong hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu phạt và bồi thườngthiệt hại theo quy định của Nhà nước.

Điều 3. - Sau khi ký kết hợp đồng, các bênphải gửi hợp đồng đến đăng ký tại Trọng tài kinh tế có thẩm quyền để theo dõivà phải trả lệ phí đăng ký, trước mắt phải tập trung làm cho tốt đối với nhữngmặt hàng quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Lệ phí đăng ký hợp đồng nộp vàotài khoản của Trọng tài kinh tế.

Trọng tài kinh tếNhà nước sẽ hướng dẫn cụ thể việc đăng ký hợp đồng này.

Điều 4. - Nếu hợp đồng bị vi phạm, bên viphạm phải chịu phạt và bồi thường thiệt hại gây ra. Đối với các vụ từ chối, trìhoãn ký kết hợp đồng mà không có lý do chính đáng dẫn đến vi phạm thời hạn ký kếthợp đồng do Nhà nước quy định thì bị phạt tiền từ 500 đồng đến 2.500 đồng. Đốivới các vi phạm hợp đồng đã ký kết thì bên vi phạm bị phạt từ 1 đến 5% của giátrị bị vi phạm trong hợp đồng nhưng không được dưới 500 đồng, và bồi thường thiệthại gây ra. Tiền phạt vi phạm hợp đồng nộp vào ngân sách Nhà nước, tiền bồi thườngthiệt hại trả cho bên bị vi phạm.

Điều 5. - Tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiềnbồi thường thiệt hại được giải quyết như sau:

a) Đối với đơn vịhạch toán kinh tế: tiền phạt vi phạm hợp đồng được trích từ lợi nhuận để lại củađơn vị; tiền bồi thường thiệt hại được trích từ tổng số lợi nhuận thực hiện củađơn vị.

b) Đối với đơn vịdự toán: tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại được trừ vào hạng mục kinh phíngân sách được cấp.

Điều 6. - Quá thời hạn 1 tháng mà bên viphạm không chấp hành đầy đủ quyết định xét xử của Trọng tài kinh tế thì Ngânhàng Nhà nước căn cứ vào quyết định đó tự động trích tài khoản của bên vi phạmđể trả cho bên được nhận, đồng thời bắt phạt chậm trả theo tỷ lệ 0,08% một ngàytrên số tiền chậm nộp.

Trường hợp tài khoảncủa bên vi phạm có tiền mà Ngân hàng Nhà nước không trích nộp thì Trọng tàikinh tế mới ra quyết định được quyền phạt ngân hàng chậm thanh toán cũng theo tỷlệ 0,08% một ngày và nộp vào ngân sách.

II. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG KINH TẾ THÍCH ỨNG VỚI CÁC THÀNH PHẦNKINH TẾ VÀ VỚI TỪNG LOẠI HỢP ĐỒNG ĐỐI VỚI CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

Điều 7. - Đối với các đơn vị kinh tế quốcdoanh.

Việc ký kết và thựchiện hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh (gọi chung là xí nghiệp)phải gắn với trình tự công tác kế hoạch hoá theo 4 bước, cụ thể là:

Bước 1: Ký kết hợpđồng kinh tế trên cơ sở số hướng dẫn để xây dựng kế hoạch và bảo vệ kế hoạchtrước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.

Bước 2: Sau khi đượccơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao chỉ tiêu kế hoạch chính thức, thì xínghiệp điều chỉnh lại hợp đồng đã ký hoặc ký những hợp đồng mới cho phù hợp vớichỉ tiêu kế hoạch đó.

Bước 3: Trong quátrình thực hiện kế hoạch và hợp đồng, xí nghiệp có thể điều chỉnh hợp đồng đãký hoặc ký những hợp đồng mới nếu cơ quan cấp trên có thẩm quyền cho phép điềuchỉnh kế hoạch.

Bước 4: Thanh lývà quyết toán thực hiện hợp đồng phải gắn liền với quyết toán thực hiện kế hoạch.

Điều 8. - Đối với các cơ sở sản xuất tiểucông nghiệp, thủ công nghiệp.

Trong quan hệ hợpđồng với các cơ sở sản xuất tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, cần tôn trọngnguyên tắc tự nguyện cùng có lợi, và bình đẳng trước pháp luật của các bên ký kết;chống thái độ cửa quyền, gò ép hay ban ơn của bên đơn vị quốc doanh đối với đơnvị tập thể. Bên quốc doanh có trách nhiệm cung ứng vật tư, nguyên liệu; nhận sảnphẩm và thanh toán sòng phẳng cho bên sản xuất theo hợp đồng đã ký. Bên sản xuấtcó trách nhiệm tiếp nhận và sử dụng đúng mục đích vật tư, nguyên liệu được Nhànước cung ứng; giao nộp đủ sản phẩm đúng quy cách, chất lượng, thời gian theo hợpđồng đã ký.

ĐỐIVỚI CÁC CHỦNG LOẠI HỢP ĐỒNG

Điều 9. - Hợp đồng cung ứng vật tư.

a) Các tổ chức kinhdoanh vật tư được chỉ định (kể cả tổ chức nhập khẩu vật tư) phải bảo đảm cung ứngvật tư cho xí nghiệp theo đúng kế hoạch và theo điều khoản về số lượng, chất lượng,thời gian, địa điểm, giá cả đã ghi trong hợp đồng.

b) Nếu tổ chứckinh doanh vật tư (gồm cả các tổ chức nhập khẩu vật tư) vi phạm hợp đồng màkhông vì nguyên nhân khách quan thì chịu trách nhiệm vật chất theo pháp luật vềhợp đồng kinh tế.

c) Đối với vật tưđược Nhà nước cung ứng thì khi ký kết và thực hiện hợp đồng, các bên phải theogiá chỉ đạo của Nhà nước. Đối với vật tư xí nghiệp tự cân đối thì giá ghi tronghợp đồng cũng phải theo giá hoặc khung giá do cơ quan vật giá có thẩm quyền hướngdẫn thích hợp với từng loại vật tư.

Điều 10. - Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.

a) Mọi sản phẩm (sảnphẩm trọng yếu, sản phẩm quan trọng khác hoặc sản phẩm phụ) do xí nghiệp làm rabằng mọi nguồn cân đối vật tư đều phải tiêu thụ trước hết qua tổ chức thươngnghiệp quốc doanh và tổ chức kinh doanh vật tư Nhà nước.

Xí nghiệp ký kết hợpđồng tiêu thụ sản phẩm với các tổ chức thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, các tổchức kinh doanh vật tư, các hộ tiêu thụ được chỉ định và phải giao nộp đủ sảnphẩm theo kế hoạch và hợp đồng.

b) Các tổ chứctiêu thụ được chỉ định phải nhận sản phẩm theo kế hoạch và hợp đồng. Nếu tổ chứctiêu thụ không thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm mà không có lý do chínhđáng thì xí nghiệp phải báo cáo các cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và cơquan Trọng tài kinh tế có thẩm quyền để xử lý.

c) Nếu cơ quan duyệtgiá, kể từ ngày nhận được phương án giá đúng thể thức và nội dung quy định, đãđể quá thời hạn duyệt giá do Nhà nước quy định mà đến thời hạn ký hợp đồng thìxí nghiệp được ký hợp đồng và được ghi theo giá đã đề nghị trong phương án giá.

Điều 11. - Hợp đồng vận chuyển vật tư,hàng hoá.

Các tổ chức vận tảiđược chỉ định (đường biển, đường sông, đường bộ, đường sắt..) có nhiệm vụ ký kếthợp đồng vận chuyển vật tư, hàng hoá cho xí nghiệp theo đúng chỉ tiêu kế hoạchNhà nước giao.

Nội dung hợp đồngcần ghi rõ các điều khoản về giao nhận, cân, đo đong, đếm, tỷ lệ hao hụt chophép, thời gian và địa điểm giao nhận, cước phí, trách nhiệm vật chất khi vi phạmhợp đồng.

Điều 12. - Hợp đồng khoa học và kỹ thuật.

Xí nghiệp được quyềnký kết và thực hiện hợp đồng khoa học và kỹ thuật để phục vụ các mục tiêu nângcao chất lượng và đổi mới sản phẩm, đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất,đổi mới tổ chức và quản lý xí nghiệp.

Xí nghiệp có thểký kết hợp đồng khoa học và kỹ thuật với các xí nghiệp khác, với các cơ quannghiên cứu và ứng dụng (viện, trung tâm, trường đại học, các cơ sở đào đạo, cáchội khoa học và kỹ thuật...).

Điều 13. - Hợp đồng tín dụng.

Căn cứ vào kế hoạchsản xuất - kinh doanh xã hội và phương án đầu tư của xí nghiệp đã được cấp cóthẩm quyền duyệt với sự tham gia của ngân hàng cùng cấp, xí nghiệp lập kế hoạchvay vốn, ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng cơ sở trên nguyên tắc bình đẳngtrong quan hệ, sòng phẳng về trách nhiệm và nghĩa vụ giữa đôi bên. Xí nghiệp làbên vay có trách nhiệm sử dụng vốn vay đúng mục đích, đạt hiệu quả kinh tế caovà trả cả vốn lẫn lãi đúng hạn. Ngân hàng là bên cho vay có trách nhiệm đáp ứngyêu cầu vốn vay theo kế hoạch và hợp đồng, thu hồi cả vốn lẫn lãi đúng hạn quyđịnh trong hợp đồng.

III. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TRỌNG TÀI KINH TẾ.

Điều 14. - Các cơ quan trọng tài kinh tếphải thực hiện đúng đắn chức năng quản lý chế độ hợp đồng kinh tế và xét xử cáctranh chấp và vi phạm hợp đồng giữa các đơn vị, tổ chức kể cả hộ kinh doanh tưnhân có quan hệ hợp đồng với tổ chức quốc doanh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các bên ký hợp đồng; tiến hành thanh tra, kiểm tra hợp đồng kinh tế ởcác đơn vị, tổ chức và hộ kinh doanh tư nhân nói trên.

Khi xảy ra tranhchấp về vi phạm hợp đồng, các bên liên quan phải chủ động gặp nhau bàn bạc giảiquyết. Nếu các bên đã hiệp thương, bàn bạc nhưng không tự giải quyết được thìkhiếu nại đến cơ quan Trọng tài kinh tế có thẩm quyền để xét xử theo pháp luậtvề hợp đồng kinh tế. Nếu vụ vi phạm hợp đồng có liên quan đến hình sự, thì saukhi xét xử xong phần hợp đồng kinh tế, Trọng tài kinh tế chuyển ngay hồ sơ sangcơ quan pháp luật có thẩm quyền để xem xét, xử lý về mặt hình sự.

Mọi vụ tranh chấpvà vi phạm hợp đồng được phát hiện theo đơn khiếu nại, theo các nguồn thông tinkhác gửi đến hoặc qua thanh tra, kiểm tra hợp đồng kinh tế đều phải được xemxét, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.

Điều 15. - Khi xét xử, ngoài việc phải chịuphạt và bồi thường, bên vi phạm hợp đồng còn phải trả lệ phí trọng tài là 50 đồngnếu là vụ từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng, hoặc là từ 50 đồng đến 500 đồng tuỳtheo giá trị hợp đồng, nếu là vụ tranh chấp và vi phạm hợp đồng đã ký kết. Đồngthời Trọng tài kinh tế được trích 10% số tiền phạt vi phạm hợp đồng, và 1% sốtiền bồi thường đối với vụ vi phạm hợp đồng mà bên bị vi phạm không chịu khiếunại hoặc đối với hợp đồng ký trái với pháp luật.

Các khoản thu về lệphí đăng ký hợp đồng, lệ phí trọng tài, trích tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiềnbồi thường trên đây đều nộp vào tài khoản của Trọng tài kinh tế nơi xét xử theosự hướng dẫn của Bộ Tài chính và Trọng tài kinh tế Nhà nước, để chi cho côngtác xét xử, tuyên truyền phòng ngừa và thưởng cho tập thể và cá nhân có côngphát hiện vụ vi phạm hợp đồng, đóng góp vào việc xét xử đạt kết quả tốt, bảo vệđược tài sản xã hội chủ nghĩa.

Điều 16. - Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhànước, Chủ tịch Trọng tài kinh tế các Bộ, Tổng cục, Chủ tịch Trọng tài kinh tế cấptỉnh, Chủ tịch Trọng tài kinh tế cấp huyện, giám sát tính đúng đắn, hợp phápcác quyết định xét xử của Trọng tài viên cấp mình. Riêng Chủ tịch Trọng tàikinh tế Nhà nước còn có trách nhiệm giám sát tính đúng đắn, hợp pháp các quyếtđịnh xét xử của Trọng tài kinh tế các Bộ, Tổng cục, các tỉnh, thành phố; Chủ tịchTrọng tài kinh tế các tỉnh, thành phố còn có trách nhiệm giám sát tính đúng đắn,hợp pháp các quyết định xét xử của Trọng tài kinh tế huyện, quận.

Điều 17. - Nếu không tán thành quyết địnhxét xử của Trọng tài kinh tế, các bên đương sự có quyền kháng cáo. Trong khi chờđợi xét xử kháng cáo, các bên vẫn phải chấp hành quyết định xét xử đó.

Chủ tịch Trọng tàikinh tế Nhà nước, Chủ tịch Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục, Chủ tịch Trọng tàikinh tế tỉnh, thành phố xét xử kháng cáo các quyết định xét xử của trọng tàiviên cấp mình đối với những vụ, việc thuộc thẩm quyền xét xử của mình. Chủ tịchUỷ ban Nhân dân huyện, quận xét xử kháng cáo các quyết định xét xử của Trọngtài kinh tế huyện, quận.

Đối với những vụ,việc do Trọng tài kinh tế cấp trên uỷ quyền xét xử, thì Chủ tịch Trọng tài kinhtế cấp trên uỷ quyền đó xét xử kháng cáo.

Nếu không tánthành quyết định xét xử kháng cáo của Chủ tịch Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục,các bên đương sự có quyền kháng cáo đến Bộ trưởng, Tổng cục trưởng. Nếu khôngtán thành quyết định xét xử kháng cáo của Chủ tịch Trọng tài kinh tế tỉnh,thành phố, các bên đương sự có quyền kháng cáo đến Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh,thành phố. Nếu không tán thành quyết định xét xử kháng cáo của Chủ tịch Uỷ banNhân dân huyện, các bên đương sự có quyền kháng cáo đến Chủ tịch Uỷ ban Nhândân tỉnh, thành phố.

Quyết định xét xửkháng cáo của Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước, của Bộ trưởng, Tổng cục trưởng,Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố có giá trị cuối cùng.

Điều 18. - Bản quy định này có hiệu lựcthi hành kể từ ngày 1-7-1986. Bãi bỏ Nghị định số 65-CP ngày 15-5-1963 của Hộiđồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về việc xử lý các vụ vi phạm chế độ hợpđồng mua bán hàng hoá trong nước; Quyết định số 63-HĐBT ngày 17-4-1984 của Hộiđồng Bộ trưởng về thẩm quyền xét xử của Trọng tài kinh tế đối với các tranh chấpvà vi phạm hợp đồng kinh tế; các điều 17, 19, 21 của Điều lệ về chế độ hợp đồngkinh tế ban hành theo Nghị định số 54-CP ngày 10-3- 1975 của Hội đồng Chính phủvà những quy định trước đây trái với bản Quy định này.

Trọng tài kinh tếNhà nước cùng các ngành có liên quan có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và đônđốc thực hiện bản quy định này.