NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2008

Quyết định

Về việc ban hành Quy định về quản lý

xây dựng công trình trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam

_____________________

Tổng giám đốc ngân hàng phát triển Việt Nam

Căn cứ Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội;

Căn cứ Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội;

Căn cứ Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;

Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008 của Chính phủ Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng; Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 03/2008/NĐ-CP ngày 07/1/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;

Căn cứ Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam;

Xét đề nghị của Trưởng ban Quản lý tài sản và Xây dựng cơ bản nội ngành,

Quyết định:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về quản lý xây dựng công trình trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Điều 2.Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 561/QĐ-NHPT ngày 30/10/2007 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc Ngân hàng Phát triển Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

Quy định

Về quản lý đầu tư xây dựng công trình

trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt nam

(Ban hành kèm theo Quyết định số 775/QĐ-NHPT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam)

______________________

Chương I

Quy định chung

Điều 1. Đối tượng áp dụng

Các dự án đầu tư xây dựng công trình (sửa chữa, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới) thuộc hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt nam (NHPT) sử dụng vốn ngân sách Nhà nước (NSNN), vốn đầu tư phát triển (ĐTPT) và các nguồn vốn khác của NHPT.

Điều 2. Nguyên tắc cơ bản

- Quản lý thống nhất, tập trung, chặt chẽ và thực hiện đúng trình tự đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng.

- Thực hiện đầu tư xây dựng đúng mục đích, phù hợp quy hoạch phát triển ngành đã được phê duyệt; sử dụng các nguồn vốn đầu tư theo đúng quy định của Nhà nước, nâng cao hiệu quả đầu tư, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các cấp, các đơn vị liên quan và chủ đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng.

- Những vấn đề không đề cập tại Quy định này thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Điều 3. Phân cấp trong quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1. Tất cả các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc hệ thống NHPT đều phải được Tổng Giám đốc phê duyệt chủ trương đầu tư.

2.Tổng Giám đốc (hoặc uỷ quyền cho Phó Tổng Giám đốc phụ trách lĩnh vực xây dựng cơ bản) phê duyệt Quyết định đầu tư và các bước tiếp theo đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có tổng mức đầu tư từ 100 triệu đồng trở lên thuộc hệ thống NHPT.

3. Thủ trưởng đơn vị cấp dưới (chủ đầu tư) phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình và các bước tiếp theo đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 100 triệu đồng.

4. Tổng Giám đốc có thể uỷ quyền cho Thủ trưởng đơn vị cấp dưới phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình và các bước tiếp theo đối với các dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp trụ sở có tổng mức đầu tư từ 100 triệu đồng đến 02 tỷ đồng, tuỳ theo trình độ và năng lực bộ máy chuyên môn của từng đơn vị.

5. Đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Tổng Giám đốc :

Giao chủ đầu tư phê duyệt nhiệm vụ khảo sát, dự toán khảo sát xây dựng công trình và phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng (sau khi được Tổng Giám đốc chấp thuận), phê duyệt hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu có giá gói thầu nhỏ hơn 2 tỷ đồng và ký kết các hợp đồng trong hoạt động xây dựng.

Đối với các dự án do NHPT làm chủ đầu tư, Tổng Giám đốc uỷ quyền ký kết hợp đồng trong hoạt động xây dựng đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 4. Trách nhiệm của các đơn vị thuộc NHPT

1. Ban Quản lý tài sản và Xây dựng cơ bản nội ngành (QLXD):

- Tham mưu, giúp Tổng Giám đốc trong việc giám sát, quản lý, đôn đốc chủ đầu tư tổ chức thực hiện dự án.

- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành của hệ thống NHPT trong từng thời kỳ báo cáo Tổng Giám đốc trình Hội đồng quản lý (HĐQL) phê duyệt.

- Tổng hợp, xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) hàng năm của toàn hệ thống; tổng hợp và lập báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB của toàn hệ thống theo định kỳ và hàng năm theo quy định, kiến nghị điều chỉnh kế hoạch trình Tổng Giám đốc xem xét, quyết định.

- Thông báo kế hoạch XDCB đã được phê duyệt cho các đơn vị và cá nhân có liên quan để tổ chức thực hiện.

- Chủ trì, phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin (đối với các dự án có đầu tư hạng mục mạng máy tính) tổ chức thẩm tra, thẩm định các nội dung cơ bản của quá trình chuẩn bị, thực hiện và kết thúc đầu tư của dự án. Đề xuất biện pháp tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện dự án.

- Chủ trì, phối hợp với Ban Kiểm tra nội bộ (KTNB) và Ban Tài chính kế toán và kho quỹ (TCKT) trong công tác kiểm tra các dự án XDCB nội ngành tại các đơn vị thuộc NHPT.

- Chủ trì, báo cáo các nội dung có liên quan đến công tác XDCB nội ngành với các cơ quan quản lý nhà nước khi có yêu cầu.

2. Ban Tài chính Kế toán và kho quỹ (TCKT):

- Tham gia lập kế hoạch đầu tư XDCB hàng năm và theo giai đoạn của toàn hệ thống NHPT.

- Tham gia chủ trương đầu tư xây dựng, chuyển nhượng trụ sở, quyền sử dụng đất... của Hội sở chính và các Đơn vị thành viên.

- Tham gia thẩm tra quyết toán vốn đầu tư các công trình, hạng mục công trình xây dựng hoàn thành đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Tổng Giám đốc.

- Cân đối nguồn vốn đầu tư của toàn hệ thống để xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm và theo giai đoạn của toàn hệ thống NHPT.

- Cấp tạm ứng và cấp vốn thanh toán cho Chủ đầu tư trong quá trình đầu tư xây dựng của dự án.

- Tham gia công tác kiểm tra các dự án XDCB nội ngành tại các đơn vị thuộc NHPT.

3. Trung tâm Công nghệ thông tin (CNTT):

- Tổ chức thẩm định thiết kế, dự toán hạng mục mạng máy tính (đối với các dự án có đầu tư hạng mục mạng máy tính) trình Tổng Giám đốc phê duyệt; giám sát, hướng dẫn chủ đầu tư trong quá trình quản lý thi công mạng máy tính.

- Tham gia nghiệm thu hệ thống mạng máy tính trước khi đưa vào sử dụng.

- Tham gia thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành (đối với các nội dung có liên quan đến mạng máy tính).

4. Ban Kiểm tra nội bộ:

- Chủ trì, phối hợp với Ban QLXD trình Tổng Giám đốc phê duyệt kế hoạch kiểm tra công tác XDCB hàng năm của hệ thống NHPT.

- Tham gia công tác kiểm tra các dự án XDCB nội ngành tại các đơn vị thuộc NHPT.

- Thực hiện công tác kiểm tra đột xuất theo yêu cầu của Tổng Giám đốc.

Điều 5. Chủ đầu tư

Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình của Hội sở chính, NHPT là chủ đầu tư. Ban Đầu tư các dự án thuộc Hội sở chính là đơn vị được Tổng Giám đốc giao thực hiện nhiệm vụ của chủ đầu tư.

Đối với các dự án khác thực hiện tại địa bàn tỉnh, thành phố nào thì đơn vị được giao quản lý sử dụng công trình đóng tại địa bàn đó làm chủ đầu tư. Trường hợp đặc biệt do Tổng Giám đốc xem xét, quyết định.

Điều 6. Trách nhiệm và quyền hạn của Chủ đầu tư

Chủ đầu tư có trách nhiệm quản lý dự án, kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng đảm bảo tính hiệu quả và tuân thủ các quy định của pháp luật. Cụ thể như sau :

1. Quản lý và thực hiện dự án theo đúng nội dung đã được phê duyệt trong quyết định đầu tư và các quyết định khác trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình.

2. Thực hiện trách nhiệm và quyền hạn của Chủ đầu tư theo quy định tại Quy định này và các quy định của Nhà nước về Quản lý đầu tư xây dựng công trình.

3. Phê duyệt các bước trong quá trình đầu tư dự án theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc (nếu có).

4. Báo cáo đầy đủ quá trình thực hiện dự án với Tổng Giám đốc NHPT và các cơ quan chức năng trên địa bàn

5. Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc NHPT về kết quả triển khai thực hiện các công việc được phân công có liên quan đến công tác XDCB; Bồi thường thiệt hại do sử dụng tư vấn không phù hợp với điều kiện năng lực lập dự án đầu tư xây dựng công trình; Thực hiện công tác thẩm định, nghiệm thu không theo đúng quy định gây thiệt hại đến chất lượng và tiến độ công trình.

Chương II

Quy định cụ thể

Điều 7. Quản lý quy hoạch

Các dự án đầu tư xây dựng mới thuộc hệ thống NHPT phải phù hợp với Quy hoạch xây dựng của địa phương và Quy hoạch phát triển ngành của NHPT.

Trường hợp phát sinh dự án chưa có trong quy hoạch được duyệt thì trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình, Ban QLXD báo cáo Tổng Giám đốc trình HĐQL phê duyệt bổ sung dự án đó vào quy hoạch.

Điều 8. Điều kiện bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm

Hàng năm vào tháng 10, các đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT có nhu cầu XDCB lập kế hoạch đầu tư XDCB của năm sau gửi về Hội sở chính.

Đối với các dự án ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với Quy hoạch xây dựng và Quy hoạch phát triển ngành của NHPT; phải có văn bản cho phép tiến hành lập dự án của Tổng Giám đốc NHPT; có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt.

Đối với các dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư: phải có quyết định đầu tư từ thời điểm trước 31 tháng 10 của năm trước năm kế hoạch, có thiết kế, dự toán và tổng dự toán được duyệt.

Điều 9. Lập và tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư hàng năm

1. Giai đoạn xây dựng và đăng ký kế hoạch:

- Căn cứ vào các điều kiện ghi kế hoạch, các đơn vị lập kế hoạch vốn đầu tư cho năm sau của đơn vị mình, gửi Hội sở chính NHPT.

- Thời hạn đăng ký kế hoạch vốn đầu tư hàng năm chậm nhất là ngày 01 tháng 10 hàng năm, đăng ký kế hoạch vốn đầu tư là một phần của kế hoạch tài chính hàng năm của các đơn vị.

- Nội dung đăng ký kế hoạch gồm:

+ Danh mục các dự án chuẩn bị đầu tư và dự án đang xây dựng (ghi rõ nội dung đầu tư và dự kiến mức vốn đầu tư trong năm của từng dự án).

+ Tiến độ triển khai chuẩn bị và thực hiện dự án.

(Đăng ký kế hoạch vốn đầu tư theo Mẫu: II.BCN kèm theo quy định này).

2. Tổng hợp, cân đối kế hoạch vốn đầu tư:

Ban QLXD chủ trì, phối hợp với Ban TCKT tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư xây dựng của các đơn vị, cân đối và lập kế hoạch vốn đầu tư cho toàn hệ thống báo cáo Tổng Giám đốc trình HĐQL phê duyệt.

Kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của toàn hệ thống phải hoàn thành trong tháng 11 của năm trước năm kế hoạch để Tổng Giám đốc trình HĐQL phê duyệt.

3. Thông báo kế hoạch vốn đầu tư:

Căn cứ kế hoạch vốn đầu tư được HĐQL phê duyệt, Ban QLXD soạn thảo thông báo kế hoạch vốn đầu tư cho từng đơn vị thành viên trình Tổng Giám đốc phê duyệt. Bao gồm các chỉ tiêu:

- Danh mục dự án đầu tư được ghi kế hoạch vốn đầu tư.

- Nội dung đầu tư và mức vốn đầu tư trong năm kế hoạch của dự án.

- Nguồn vốn đầu tư trong năm kế hoạch. 

Điều 10. Điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư

1. Trường hợp có phát sinh dự án đầu tư ngoài kế hoạch, hoặc cần phải điều chỉnh nội dung, quy mô đối với các dự án đã được ghi kế hoạch, chủ đầu tư phải làm thủ tục trình Tổng Giám đốc xem xét, phê duyệt trước khi triển khai và thực hiện đầu tư. Kế hoạch vốn đầu tư sau khi điều chỉnh, bổ sung không được vượt kế hoạch vốn đầu tư trong năm đã được HĐQL phê duyệt.

2. Chủ đầu tư không được tự ý điều chỉnh hay bổ sung nội dung đầu tư hoặc danh mục dự án đầu tư trong kế hoạch vốn đầu tư của năm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Trường hợp đột xuất, Tổng Giám đốc chỉ bổ sung kế hoạch 01 lần vào tháng 9 của năm thực hiện; việc ghi kế hoạch vốn đầu tư cho các dự án chuyển tiếp căn cứ vào tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu vốn đầu tư của dự án trong năm kế hoạch.

4. Chủ đầu tư rà soát tiến độ thực hiện dự án trong năm để lập kế hoạch điều chỉnh. Thời hạn điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư hàng năm kết thúc chậm nhất là 31/12 năm kế hoạch (Biểu mẫu điều chỉnh tại Phụ lục số 02, Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước).

Điều 11. Hình thức quản lý dự án

Các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất thuộc hệ thống NHPT phải lựa chọn hình thức thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án. Tuy nhiên, khi áp dụng hình thức này, Chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án.

Đối với dự án quy mô nhỏ, đơn giản, có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 01 tỷ đồng thì Chủ đầu tư có thể sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý điều hành hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án.

Chủ đầu tư tổ chức lập dự toán chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn quản lý dự án và trình duyệt trước khi triển khai dự án. (Dự toán chi phí quản lý dự án tối đa không lớn hơn định mức chi phí của công tác tương ứng đã được phê duyệt trong dự toán công trình).

Điều 12. Lựa chọn địa điểm xây dựng

Chủ đầu tư có trách nhiệm khảo sát, lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng (đối với các dự án có yêu cầu về địa điểm xây dựng) báo cáo Tổng Giám đốc xem xét, quyết định.

Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh chấp thuận.

Điều 13. Phương án thiết kế kiến trúc công trình xây dựng

Tuỳ theo quy mô, mục đích sử dụng của các công trình xây dựng mới thuộc hệ thống NHPT, Tổng Giám đốc sẽ quyết định việc thi tuyển thiết kế kiến trúc.

- Đối với các công trình xây dựng phải thi tuyển thiết kế kiến trúc, Chủ đầu tư có trách nhiệm lập nhiệm vụ thiết kế trình Tổng Giám đốc phê duyệt; tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc công trình, lựa chọn phương án thiết kế kiến trúc tối ưu trình Tổng Giám đốc phê duyệt. Trình tự tổ chức công tác thi tuyển thực hiện theo quy định tại Thông tư số 05/2005/TT-BXD ngày 12/4/2005 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn thi tuyển thiết kế kiến trúc công trình xây dựng và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

- Đối với các công trình xây dựng không phải thi tuyển thiết kế kiến trúc, chủ đầu tư vẫn phải tổ chức lập phương án thiết kế kiến trúc trình Tổng Giám đốc phê duyệt trước khi triển khai lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

Điều 14. Khảo sát xây dựng công trình

Các dự án đầu tư xây mới phải được thực hiện khảo sát xây dựng tại địa điểm xây dựng công trình; Các dự án cải tạo nâng cấp có ảnh hưởng đến kết cấu, chất lượng công trình phải được kiểm định đánh giá hiện trạng chất lượng công trình trước khi lập dự án.

Nhiệm vụ khảo sát xây dựng (do tổ chức tư vấn thiết kế hoặc nhà thầu khảo sát xây dựng lập) và phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng (do nhà thầu khảo sát xây dựng lập) phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Khi cần thiết, có thể thuê tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực về khảo sát xây dựng thẩm tra nhiệm vụ khảo sát xây dựng, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng làm cơ sở cho việc phê duyệt.

Khối lượng, nội dung, yêu cầu kỹ thuật đối với khảo sát xây dựng phải phù hợp với nhiệm vụ khảo sát, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Báo cáo kết quả khảo sát phải được chủ đầu tư kiểm tra, nghiệm thu, lập thành biên bản và là cơ sở pháp lý để thực hiện các bước thiết kế xây dựng công trình.

Nội dung nhiệm vụ khảo sát, nội dung báo cáo kết quả khảo sát, giám sát công tác khảo sát thực hiện theo quy định tại Chương III, Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Điều 15. Lập dự án đầu tư

Tất cả các công trình đầu tư xây dựng mới, các dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp các dự án đã đầu tư xây dựng thuộc hệ thống NHPT đều phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình hoặc Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án). Riêng công tác bảo trì công trình theo cấp duy tu bảo dưỡng thì chỉ cần lập dự toán phù hợp với nguồn kinh phí bảo trì được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Chủ đầu tư phải lựa chọn tổ chức tư vấn có tư cách pháp nhân, đủ điều kiện năng lực để lập dự án; chịu trách nhiệm về quyết định của mình đối với các nội dung yêu cầu trong dự án. Đối với các dự án có tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc, tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn được thực hiện lập dự án.

Điều 16. Thẩm định dự án đầu

Các dự án đầu tư xây dựng của NHPT đều phải được thẩm định trước khi quyết định đầu tư. Đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Tổng Giám đốc, Ban QLXD là đơn vị chủ trì thẩm định dự án, có sự tham gia của một số đơn vị tại Hội sở chính theo yêu cầu của Tổng Giám đốc. Trường hợp cần thiết được Tổng Giám đốc cho phép, có thể mời hoặc thuê chuyên gia về lĩnh vực kiến trúc, xây dựng...tham gia tư vấn.

Nội dung thẩm định dự án phải tuân thủ đúng các quy định của nhà nước về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

Lưu ý:

- Giải pháp phòng, chống cháy nổ trong thiết kế cơ sở của dự án phải được cơ quan Công an Phòng cháy chữa cháy trên địa bàn chấp thuận bằng văn bản.

- Thiết kế cơ sở của dự án phải được Tổng Giám đốc chấp thuận trước khi chủ đầu tư trình cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền để lấy ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở.

Điều 17. Giải phóng mặt bằng xây dựng công trình

Việc giải phóng mặt bằng xây dựng phải được lập thành phương án. Phương án giải phóng mặt bằng xây dựng được thể hiện trong dự án đầu tư xây dựng công trình và được phê duyệt đồng thời với phê duyệt dự án.

Đối với dự án có nhu cầu tái định cư thì phải lập phương án hoặc dự án tái định cư và phải thực hiện trước khi giải phóng mặt bằng xây dựng.

Sau khi phương án đền bù, kế hoạch giải phóng mặt bằng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ đầu tư có văn bản gửi NHPT để chuyển kinh phí giải phóng mặt bằng cho Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng để tổ chức thực hiện việc giải phóng mặt bằng xây dựng theo tiến độ và bàn giao mặt bằng xây dựng cho nhà thầu xây dựng. Kinh phí giải phóng mặt bằng được lấy trực tiếp từ dự án đầu tư xây dựng công trình.

Điều 18. Phá dỡ công trình xây dựng

Việc phá dỡ công trình hiện có để giải phóng mặt bằng xây dựng công trình mới phải được lập thành phương án. Phương án phá dỡ được thể hiện trong dự án đầu tư xây dựng công trình, khi phá dỡ phải đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường và được phê duyệt đồng thời với dự án.

Điều 19. Lập, thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng công trình:

Tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn thông qua thi tuyển sẽ được thực hiện lập thiết kế, dự toán công trình. Nếu không đủ điều kiện năng lực thì có thể liên danh với các tổ chức tư vấn thiết kế có đủ điều kiện năng lực để thực hiện. Trường hợp không tổ chức thi tuyển hoặc tác giả được lựa chọn từ chối thực hiện các bước thiết kế tiếp theo thì chủ đầu tư sẽ tiến hành lựa chọn nhà thầu tư vấn thiết kế khác trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật Đấu thầu.

Nội dung lập, thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng công trình thực hiện theo các quy định hiện hành của nhà nước.

Chủ đầu tư thuê tư vấn có đủ điều kiện năng lực phù hợp với loại, cấp công trình để thực hiện thẩm tra thiết kế, dự toán công trình và phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm tra. Trường hợp thiết kế không bảo đảm yêu cầu theo hợp đồng thì chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu thiết kế phải thiết kế lại và chịu mọi chi phí, kể cả chi phí thẩm tra thiết kế.

Đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của Tổng Giám đốc, Ban QLXD là đơn vị chủ trì thẩm định thiết kế, dự toán công trình.

Lưu ý:

- Thiết kế, dự toán của hạng mục phòng cháy chữa cháy của dự án phải được cơ quan Công an PCCC trên địa bàn thẩm duyệt.

- Thiết kế, dự toán hạng mục Trạm biến áp (nếu có) của dự án phải được cơ quan quản lý điện trên địa bàn thẩm định.

- Thiết kế, dự toán của hạng mục mạng máy tính (nếu có) phải được Trung tâm CNTT thẩm định trình Tổng giám đốc phê duyệt và tuân thủ các nội dung của Quyết định số 76/QĐ-NHPT ngày 06/3/2007 của Tổng giám đốc NHPT về việc ban hành Quy định quản lý hoạt động công nghệ thông tin trong hệ thống NHPT.

(Chi phí thẩm định, thẩm tra thiết kế, dự toán xây dựng công trình do Bộ Xây dựng hướng dẫn và được tính vào tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình).

Điều 20. Thay đổi thiết kế xây dựng công trình

Trong quá trình thi công xây dựng công trình, nếu phát hiện thấy những yếu tố bất hợp lý, ảnh hưởng đến chất lượng công trình, tiến độ thi công xây dựng, biện pháp thi công và hiệu quả đầu tư của dự án, chủ đầu tư phải có văn bản trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc thay đổi thiết kế xây dựng công trình.

Trường hợp trong quá trình thiết kế phát sinh thêm công việc hoặc hạng mục so với dự án được duyệt hoặc giá trị dự toán công trình đề nghị phê duyệt vượt giá trị tổng mức đầu tư được duyệt, chủ đầu tư phải có văn bản nêu rõ nguyên nhân trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét ra quyết định phê duyệt (hoặc chấp thuận) điều chỉnh dự án.

Trường hợp thay đổi thiết kế bản vẽ thi công mà không làm thay đổi thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế cơ sở được duyệt thì chủ đầu tư được quyết định việc sửa đổi thiết kế và chịu trách nhiệm về việc sửa đổi của mình. 

Điều 21. Xin cấp phép xây dựng công trình

Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, kể cả công trình đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, trừ các công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình.

Điều 22. Lựa chọn nhà thầu

Các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc hệ thống NHPT đều phải tuân thủ các quy định pháp luật về Đấu thầu.

Kế hoạch đấu thầu phải được phê duyệt sau khi có quyết định đầu tư hoặc phê duyệt đồng thời với quyết định đầu tư (trong trường hợp đủ điều kiện để làm cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu). Trường hợp gói thầu cần thực hiện trước khi quyết định đầu tư sẽ do người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét quyết định.

Chủ đầu tư lựa chọn tổ chức tư vấn, cá nhân có đủ năng lực, trình độ chuyên môn về gói thầu, am hiểu về đấu thầu lập hồ sơ mời thầu để đảm bảo chất lượng của hồ sơ mời thầu.

Trường hợp được người có thẩm quyền cho phép áp dụng hình thức chỉ định thầu đối với gói thầu được thực hiện trước khi có quyết định đầu tư thì đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án tiến hành việc lập và phê duyệt dự toán theo quy định tại khoản 3 Điều 20 của Luật Đấu thầu. Trong trường hợp này, dự toán là giá trị tương ứng với khối lượng công việc đã được người có thẩm quyền phê duyệt.

Hình thức lựa chọn nhà thầu và trình tự thực hiện đấu thầu tuân thủ các quy định của Luật Đấu thầu, Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008 của Chính phủ Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng và các văn bản pháp luật có liên quan

Điều 23. Hợp đồng, thanh lý hợp đồng xây dựng

Toàn bộ các công việc như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và các hoạt động xây dựng khác đều phải ký kết hợp đồng giữa chủ đầu tư và các nhà thầu.

Hợp đồng chỉ được thanh lý sau khi các bên đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng; thủ tục thanh lý hợp đồng phải được lập thành biên bản; chủ đầu tư phải yêu cầu bên thụ hưởng cung cấp đầy đủ hoá đơn, chứng từ cho các khoản chi phí đã thanh toán theo đúng quy định hiện hành.

Quy định về hồ sơ hợp đồng, một số nội dung chính của hợp đồng và mẫu hợp đồng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 06/2007/TT-BXD ngày 25 tháng 7 năm 2007 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn hợp đồng trong hoạt động xây dựng.

Điều 24. Điều kiện khởi công xây dựng công trình

Các công trình xây dựng thuộc NHPT chỉ được khởi công khi có đủ các điều kiện sau:

- Hoàn thành việc đền bù, giải phóng mặt bằng và bàn giao mặt bằng sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Có giấy phép xây dựng (đối với các dự án có yêu cầu GPXD).

- Có thiết kế bản vẽ thi công và dự toán được duyệt.

- Có hợp đồng xây dựng.

- Được bố trí kế hoạch vốn.

- Có biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng.

Điều 25. Giám sát chất lượng xây dựng công trình của chủ đầu tư

1. Chủ đầu tư tự tổ chức giám sát chất lượng thi công xây dựng công trình theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP khi có đủ điều kiện năng lực giám sát thi công xây dựng quy định tại Điều 62 của Nghị định 16/2005/NĐ-CP.

2. Trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực giám sát thi công xây dựng theo quy định thì chủ đầu tư giao cho Tổ chức tư vấn quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ giám sát thi công xây dựng công trình khi có đủ điều kiện năng lực quy định tại Điều 62 của Nghị định 16/2005/NĐ-CP.

3. Trường hợp Tổ chức tư vấn quản lý dự án không có đủ điều kiện năng lực giám sát thi công xây dựng thì chủ đầu tư phải thuê tư vấn giám sát thi công xây dựng.

4. Chủ đầu tư phải thường xuyên kiểm tra và đôn đốc công tác giám sát thi công xây dựng do Tổ chức tư vấn quản lý dự án và tư vấn giám sát thi công xây dựng thực hiện.

5. Chủ đầu tư phải thông báo quyết định về nhiệm vụ, quyền hạn của người giám sát thi công xây dựng công trình cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và tư vấn thiết kế xây dựng công trình biết để phối hợp thực hiện.

6. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và pháp luật khi nghiệm thu không bảo đảm chất lượng làm sai lệch kết quả nghiệm thu, nghiệm thu khối lượng không đúng, sai thiết kế và các hành vi vi phạm khác. Khi phát hiện các sai phạm về chất lượng công trình xây dựng của nhà thầu thi công xây dựng công trình thì phải buộc nhà thầu dừng thi công và yêu cầu khắc phục hậu quả.

Điều 26. Xử lý khối lượng phát sinh

Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt, chủ đầu tư phải có văn bản giải trình nguyên nhân cụ thể. Những khối lượng phát sinh vượt hoặc ngoài hợp đồng phải có văn bản phê duyệt (nếu khối lượng phát sinh được đấu thầu) hoặc dự toán bổ sung được duyệt (nếu khối lượng phát sinh được chỉ định thầu) của cấp có thẩm quyền. Nghiêm cấm tình trạng thực hiện trước, báo cáo sau.

Không chấp nhận việc thanh, quyết toán đối với các khối lượng công việc phát sinh đã thực hiện nhưng chưa có văn bản chấp thuận của người có thẩm quyền và quyết định phê duyệt điều chỉnh, bổ sung.

Điều 27. Nghiệm thu công trình xây dựng

1. Nhà thầu thi công xây dựng phải tự tổ chức nghiệm thu các công việc xây dựng, đặc biệt các công việc, bộ phận bị che khuất; bộ phận công trình; các hạng mục công trình và công trình, trước khi yêu cầu chủ đầu tư nghiệm thu. Đối với những công việc xây dựng đã được nghiệm thu nhưng chưa thi công ngay thì trước khi thi công xây dựng phải nghiệm thu lại. Đối với công việc, giai đoạn thi công xây dựng sau khi nghiệm thu được chuyển nhà thầu khác thực hiện tiếp thì phải được nhà thầu đó xác nhận, nghiệm thu.

2. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng kịp thời sau khi có phiếu yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu thi công xây dựng. Nghiệm thu công trình xây dựng được phân thành:

- Nghiệm thu từng công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng.

- Nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng.

- Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng để đưa vào sử dụng.

Khối lượng thi công xây dựng được tính toán xác nhận giữa Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt là cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng.

3. Các hạng mục công trình xây dựng hoàn thành và công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào sử dụng khi đã được nghiệm thu.

Biên bản nghiệm thu hoàn thành xây dựng công trình là căn cứ pháp lý để chủ đầu tư làm thủ tục bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, quyết toán vốn đầu tư và thực hiện đăng ký tài sản theo quy định của pháp luật.

4. Đối với những bộ phận, hạng mục công trình hoặc công trình có các yêu cầu phòng chống cháy nổ hoặc khi khai thác, sử dụng có tác động xấu đến môi trường và an toàn vận hành, khi nghiệm thu đưa vào sử dụng phải có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý chuyên ngành kỹ thuật của Nhà nước về các yêu cầu nêu trên.

5. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, tài liệu hoàn thành xây dựng công trình theo quy định của Nhà nước về lưu trữ hồ sơ, tài liệu.

(Căn cứ, trình tự và thành phần nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận công trình, giai đoạn thi công, hoàn thành hạng mục công trình và công trình đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định tại Điều 24, 25, 26, Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP).

Điều 28. Bản vẽ hoàn công

Bản vẽ hoàn công là bản vẽ bộ phận công trình, công trình xây dựng hoàn thành, trong đó thể hiện kích thước thực tế so với kích thước thiết kế, được lập trên cơ sở bản vẽ thiết kế thi công đã được phê duyệt. Mọi sửa đổi so với thiết kế được duyệt phải được thể hiện trên bản vẽ hoàn công.

Trong trường hợp các kích thước, thông số thực tế thi công của bộ phận công trình xây dựng, công trình xây dựng đúng với các kích thước, thông số của thiết kế bản vẽ thi công thì bản vẽ thiết kế đó là bản vẽ hoàn công.

Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm lập bản vẽ hoàn công bộ phận công trình xây dựng và công trình xây dựng. Trong bản vẽ hoàn công phải ghi rõ họ tên, chữ ký của người lập bản vẽ hoàn công. Người đại diện theo pháp luật của nhà thầu thi công xây dựng phải ký tên và đóng dấu. Bản vẽ hoàn công là cơ sở để thực hiện bảo hành và bảo trì.

Bản vẽ hoàn công được người giám sát thi công xây dựng của chủ đầu tư ký tên xác nhận.

Điều 29. Chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng

Các công trình xây dựng trụ sở mới thuộc hệ thống NHPT từ cấp II trở lên đều phải được cấp chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực trước khi đưa vào sử dụng.

Các công trình xây dựng trụ sở mới thuộc hệ thống NHPT không phân biệt loại và cấp phải thực hiện chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng khi có yêu cầu của NHPT hoặc cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng ở địa phương.

Chủ đầu tư lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức tư vấn có chức năng hành nghề đáp ứng các yêu cầu quy định tại Thông tư số 16/2008/TT-BXD ngày 11/9/2008 của Bộ Xây dựng để thực hiện việc kiểm tra và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng.

Trình tự, nội dung kiểm tra đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ; Thông tư số 16/2008/TT-BXD ngày 11/9/2008 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn kiểm tra và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng và các văn bản pháp luật có liên quan.

Điều 30. Bảo hành công trình

Các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc hệ thống NHPT, sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng phải thực hiện chế độ bảo hành công trình. Thời hạn bảo hành được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng đã hoàn thành để đưa vào sử dụng.

Nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị công trình chỉ được hoàn trả tiền bảo hành công trình sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành.

Nhà thầu thi công xây dựng công trình và chủ đầu tư có thể thỏa thuận việc thay thế tiền bảo hành công trình xây dựng bằng thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị tương đương.

(Thời hạn bảo hành và mức tiền bảo hành quy định tại Điều 29, Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng).

Điều 31. Bảo trì công trình

Công trình sau khi được nghiệm thu đưa vào sử dụng phải được bảo trì để vận hành, khai thác lâu dài.

Thời hạn bảo trì công trình được tính từ ngày nghiệm thu đưa công trình xây dựng vào sử dụng cho đến khi hết niên hạn sử dụng theo quy định của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình.

Đối với công trình xây dựng mới, nhà thầu thiết kế, nhà sản xuất thiết bị công trình lập quy trình bảo trì công trình xây dựng phù hợp với loại và cấp công trình xây dựng. Đối với các công trình xây dựng đang sử dụng nhưng chưa có quy trình bảo trì thì chủ sở hữu, chủ quản lý sử dụng công trình xây dựng phải thuê tổ chức tư vấn kiểm định lại chất lượng công trình xây dựng và lập quy trình bảo trì công trình xây dựng.

Chủ sở hữu, người quản lý sử dụng công trình xây dựng trong việc bảo trì công trình xây dựng có trách nhiệm sau đây:

- Tổ chức thực hiện bảo trì công trình xây dựng theo quy trình bảo trì công trình xây dựng.

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chất lượng công trình xây dựng bị xuống cấp do không thực hiện quy trình bảo trì công trình xây dựng theo quy định.

Nội dung, phương pháp bảo trì công trình xây dựng của các cấp bảo trì và quy trình bảo trì thực hiện theo quy định tại Thông tư số 08/2006/TT-BXD ngày 24/11/2006 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn công tác bảo trì công trình xây dựng.

Điều 32. Bảo hiểm công trình

Các công trình xây dựng mới trụ sở thuộc hệ thống NHPT, đều phải mua bảo hiểm công trình xây dựng tại các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và được phép cung cấp loại sản phẩm bảo hiểm này.

Điều 33. Tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành

Đối tượng được tạm ứng, mức vốn tạm ứng, thu hồi vốn tạm ứng và trình tự thủ tục thanh toán khối lượng xây dựng công trình hoàn thành, khối lượng thiết bị hoàn thành, khối lượng công tác tư vấn hoàn thành và khối lượng hoàn thành khác thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

Điều 34. Lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành

1. Tất cả các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc hệ thống NHPT sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng đều phải thực hiện quyết toán dự án hoàn thành. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành ngay sau khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Quyết toán dự án hoàn thành phải được lập đầy đủ, đúng nội dung yêu cầu và đảm bảo thời gian lập, thẩm tra, phê duyệt quyết toán quy định tại Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

3. Tổng vốn thanh quyết toán toàn bộ các gói thầu của dự án, sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng công trình, không được vượt Tổng dự toán và Tổng mức đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 35. Thẩm tra và phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành

Báo cáo quyết toán dự án hoàn thành phải được thẩm tra theo đúng Thông tư hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư của Bộ tài chính.

1. Hình thức tổ chức thẩm tra quyết toán :

a. Hình thức thứ nhất: Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán sử dụng bộ phận chuyên môn có đủ năng lực thuộc quyền quản lý của mình để trực tiếp thẩm tra quyết toán đối với các dự án có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 01 tỷ đồng.

b. Hình thức thứ hai: Chủ đầu tư có trách nhiệm lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để triển khai thực hiện công tác kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án xây dựng công trình thuộc hệ thống NHPT có giá trị đề nghị quyết toán từ 01 tỷ đồng trở lên. Việc lựa chọn tổ chức kiểm toán thực hiện theo quy định của Luật đấu thầu.

Việc ký hợp đồng với tổ chức kiểm toán thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình xây dựng hoàn thành phải phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước. Giá trị hợp đồng theo thoả thuận giữa hai bên nhưng không được vượt quá định mức quy định tại “Bảng định mức chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán, chi phí kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành” trong Quyết định số 2173/QĐ-BTC ngày 25/6/2007 của Bộ Tài chính về việc đính chính Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính và các văn bản pháp luật có liên quan.

Nguồn kinh phí kiểm toán được sử dụng từ vốn đầu tư XDCB và được tính vào chi phí khác trong giá trị quyết toán của dự án.

2. Nội dung thẩm tra quyết toán:

a/ Đối với các dự án đã kiểm toán báo cáo quyết toán, đơn vị chủ trì thẩm tra quyết toán thực hiện thẩm tra theo các nội dung quy định tại Tiết 1.1, Điểm 1, Mục VI, Phần II, Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

b/ Đối với các dự án không kiểm toán báo cáo quyết toán, đơn vị chủ trì thẩm tra quyết toán thực hiện thẩm tra và lập báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành theo trình tự và nội dung quy định tại Điểm 2, Mục VI, Phần II, Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước, Thông tư số 98/2007/TT-BTC ngày 09/8/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

3. Trách nhiệm thẩm tra quyết toán:

a/ Đối với các dự án do Chủ đầu tư quyết định đầu tư, chủ đầu tư lựa chọn đơn vị chuyên môn thuộc quyền quản lý của mình để thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành. 

b/ Đối với các dự án do Tổng Giám đốc quyết định đầu tư, Ban QLXD chủ trì phối hợp với Ban TCKT, Trung tâm CNTT (nếu cần thiết) trực tiếp thẩm tra quyết toán đồng thời chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và pháp luật về kết quả thẩm tra báo cáo quyết toán do mình thực hiện.

c/ Thời gian lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, thời gian kiểm toán báo cáo quyết toán và thời gian thẩm tra, phê duyệt quyết toán thực hiện theo quy định tại Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.

4. Thẩm quyền phê duyệt quyết toán:

Người có thẩm quyền quyết định đầu tư là người phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành.

Điều 36. Quản lý và lưu trữ hồ sơ dự án đầu tư xây dựng

1. Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng phải được lưu trữ lâu dài theo đúng quy định của Nhà nước về lưu trữ hồ sơ (trong toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng công trình). Chủ đầu tư và Ban QLXD có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, có danh mục rõ ràng để thuận lợi khi tra cứu, bàn giao.

2. Hồ sơ gốc của công trình xây dựng phải được lưu trữ đầy đủ tại các nơi sau:

a. Đơn vị quản lý, sử dụng công trình (Chủ đầu tư).

b. Ban QLXD.

(Trường hợp một tài liệu hoặc chứng từ nào đó chỉ có một bản gốc thì bản gốc sẽ được chủ đầu tư lưu trữ. Tài liệu gửi Ban QLXD là bản sao có xác nhận của Chủ đầu tư).

3. Chủ đầu tư có trách nhiệm giải trình, cung cấp đầy đủ mọi hồ sơ có liên quan đến dự án cho các đơn vị thuộc Hội sở chính khi có yêu cầu.

Chương III

tổ chức thực hiện

Điều 37. Chế độ báo cáo, giám sát, đánh giá đầu tư

- Đối với dự án (hoặc phần việc) đã được Tổng Giám đốc phân cấp hoặc uỷ quyền, Thủ trưởng đơn vị cấp dưới có nhiệm vụ báo cáo ngay các văn bản do mình phê duyệt (gửi 01 bản chính) về Hội sở chính để phục vụ công tác quản lý trong toàn hệ thống.

- Định kỳ 6 tháng một lần và khi hoàn thành công trình đưa vào sử dụng, chủ đầu tư có trách nhiệm lập Báo cáo về chất lượng xây dựng công trình gửi Sở Xây dựng trên địa bàn đồng thời gửi 01 bản về Hội sở chính (Ban QLXD) để theo dõi, quản lý (Phụ lục 4, kèm theo Thông tư số 12/2005/TT-BXD ngày 15 tháng 7 năm 2005 của Bộ Xây dựng).

- Thực hiện báo cáo theo quy định tại Thông tư số 03/2003/TT-BKH ngày 19/5/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư.

- Chủ đầu tư phải lập Báo cáo tình hình thực hiện vốn đầu tư quý, năm của từng dự án gửi về Hội sở chính chậm nhất vào ngày 05 tháng đầu tiên của quý tiếp theo để Ban QLXD tổng hợp, báo cáo Tổng Giám đốc trước khi gửi báo cáo các Bộ, ngành chức năng theo quy định (Mẫu I.BCQ và II.BCN kèm theo Quy định này).

Điều 38. Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, thực hiện công tác quản lý XDCB đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc hệ thống NHPT và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về việc chấp hành các nội dung yêu cầu nêu tại quy định này và các văn bản pháp luật có liên quan.

Điều 39. Trưởng Ban QLXD, Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo định kỳ, đột xuất kết quả thực hiện công tác XDCB gửi Tổng Giám đốc NHPT theo đúng quy định. 

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh kịp thời về Hội sở chính NHPT để nghiên cứu, giải quyết./.

Tổng Giám đốc

(Đã ký)

Nguyễn Quang Dũng