ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2006

QUYẾT ĐỊNH

V/v phê duyệt Đề án phát triển dạy nghề tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015

______________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Nghị quyết số: 02/NQ-TU ngày 02/10/2006 của Tỉnh ủy Hà Giang về đào tạo, phát triển nghề, giải quyết việc làm trong nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu lao động (giai đoạn 2006-2010);

Căn cứ kết luận số: 136/KL-UBND ngày 31/08/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt Đề án phát triển dạy nghề Tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - TBXH tại tờ trình số 116/TT-LĐTBXH ngày 19/10/2006.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phê duyệt và ban hành kèm theo Quyết định này Đề án phát triển dạy nghề Tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015.

Điều 2. Giao cho Sở Lao động-TBXH phối hợp với các cấp, các ngành trong tỉnh hướng dẫn, tổ chức triển khai, kiểm tra đôn đốc thực hiện Đề án.

Điều 3. Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Nội vụ, Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo, Giám đốc Sở Lao động - TBXH; Chủ tịch UBND các Huyện, Thị xã trong Tỉnh, các ngành liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

-

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Trường Tô

ĐỀ ÁN

Phát triển dạy nghề tỉnh Hà Giang 2006-2010 và định hướng đến năm 2015

(Ban hành kèm theo Quyết định số 2819/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Hà Giang)

______________________

Phần thứ nhất:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ GIAI ĐOẠN 2001-2005

1. Khái quát tình hình dân số, lao động và việc làm giai đoạn 2001-2005:

Hà Giang là tỉnh miền núi cao, biên giới phía bắc của Tổ quốc với tổng diện tích tự nhiên 7.884,37 km2, dân số trung bình cuối năm 2005 khoảng 678.261 người, gồm 22 dân tộc, trên 80% là dân tộc thiểu số, dân số thành thị 73.696 người, nông thôn 604.565 người chiếm 89,1%; số người trong độ tuổi lao động 363.064 người; số lao động đang tham gia trong nền kinh tế quốc dân là 334.369 người (CN và xây dựng: 7.412 người; nông lâm ngư nghiệp 303.868 người, thương mại dịch vụ: 23.271 người).

Trong 5 năm (2001-2005) giải quyết việc làm cho 63.184 người, trung bình mỗi năm GQVL vật liệu cho 12.637 người.

Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong ngành thương mại, dịch vụ tư 7,86% năm 2001 lên 12,44% năm 2005; lao động khu vực công nghiệp XD từ 3,32% năm 2001 lên 4,46% năm 2005; giảm lao động nông lâm nghiệp từ 89,12% năm 2001 xuống còn 83,10% năm 2005.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 8,8% năm 2001 tăng lên 14% năm 2005, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 6,2% năm 2001 tăng lên 9,1% năm 2005.

Đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 403 doanh nghiệp và văn phòng đại diện tham gia SXKD, với số lao động là 18,482 người chiếm 5,5% lao động trong nên kinh tế.

Mặc dù đạt được một số kết quả trên, song chất lượng lao động thấp nhất là lao động khu vực nông thôn, việc làm cho người lao động còn thiếu chưa ổn định, thu nhập thấp, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, chưa chuyển biến phù hợp với chuyển dịch kinh tế.

Với lợi thế về tài nguyên, khoáng sản, vị trí địa lý điều kiện tự nhiên, Tỉnh Hà Giang có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, nhất là lĩnh vực khai thác chế biến khoáng sản, phát triển thủy điện; kinh tế cửa khẩu; dịch vụ du lịch. Để khai thác tiềm năng thế mạnh phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, một yêu cầu bức xúc hiện nay đặt ra là phải tập trung đào tạo nghề cho người lao động, nhất là lao động có tay nghề kỹ thuật cao.

II. Thực trạng công tác đào tạo nghề giai đoạn 2001-2005

1. Về mạng lưới cơ sở dạy nghề:

a. Số lượng:

Trong những năm qua việc phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề được Trung ương và Tỉnh quan tâm đầu tư kinh phí, từng bước được nâng cấp, mở rộng các cơ sở đào tạo nghề. Hiện nay trên địa bàn Tỉnh có 06 cơ sở tham gia đào tạo nghề gồm: Trường dạy nghề, Trung tâm giới thiệu việc làm; Trung tâm dạy nghề hội liên hiệp phụ nữ; Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp; Trung tâm dạy nghề huyện Bắc Quang, Yên Minh là cơ sở đào tạo công lập. Tỉnh không có cơ sở đào tạo dạy nghề của Trung ương.

Dạy nghề đào tạo có 01 Trường và 01 Trung tâm: Trường dạy nghề và Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp (liên kết đào tạo).

Dạy nghề ngắn hạn có 01 trường và 03 Trung tâm: Trường dạy nghề, Trung tâm dạy nghề hội liên hiệp phụ nữ, Trung tâm giới thiệu việc làm, Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và các doanh nghiệp tuyển lao động để đào tạo vào làm việc tại doanh nghiệp.

(Có phụ biểu số 05 đính kèm)

b. Về diện tích mặt bằng không gian:

Trong thời gian qua trước như cầu bức xúc về lao động có kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế của tỉnh, các cơ sở dạy nghề đã được thành lập mới, nhưng diện tích đất đai trật hẹp. Trường dạy nghề di chuyển đến địa điểm mới diện tích là 26.000m2 (Tỉnh mới bổ sung khu trung cư với diện tích 1.000m2); Trung tâm giới thiệu việc làm diện tích 590m2; Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp diện tích 2.400m2, Trung tâm dạy nghề hội liên hiệp phụ nữ diện tích 350m2, Trung tâm dạy nghề huyện Bắc Quang 23.000 m2, Trung tâm dạy nghề huyện Yên Minh dự kiến quy hoạch 30.000m2.

c. Về phòng học, lớp học:

Các cơ sở dạy nghề của Tỉnh có tổng diện tích xây dựng 16.724m2 trong đó: Phòng học 2.629m2, xưởng thực hành 1.529m2 còn lại là nhà làm việc và các công trình khác. Về chất lượng 60% là nhà kiên cố, 40% là nhà cấp IV, không có nhà tạm. Một số cơ sở dạy nghề mới thành lập đã tiếp nhận nhà làm việc cũ, hoặc nhà cấp IV để cải tạo sửa chữa làm phòng học nên chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định về lớp họp.

d. Về trang thiết bị dậy nghề:

Hàng năm Tỉnh được bộ lao động - Thương binh và xã hội cấp kinh phí tư dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” thuộc chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục - Đào tạo, đã hỗ trợ cho Tỉnh để đầu tư trang thiết bị dạy nghề. Ngoài ra các cơ sở dạy nghề tích cực huy động các nguồn lực để đầu tư tăng cường trang thiết bị dạy nghề. Từ đó các cơ sở dạy nghề của Tỉnh dần từng bước được nâng cấp và có điều kiện đầy đủ hơn về trang thiết bị, phục vụ cho công tác đào tạo dạy nghề của Tỉnh, một số nghề đào tạo cơ bản như có thiết bị hiện đại như: Nghề sửa chữa ô tô; điện tử; điện dân dụng.

2. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề:

Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về dạy nghề đã được tăng cường. Hàng năm Sở lao đông - TBXH phối hợp với các cơ sở, ban ngành đã quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo nghề và xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý có hiệu quả. Tuy nhiên công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện các quy định của nhà nước về đào tạo nghề còn hạn chế, công tác dạy nghề cấp huyện chưa được quan tâm đúng mức.

Cán bộ quản lý trường, trung tâm dạy nghề còn thiếu và yếu hiện có 09 người, trong đó đạt chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ 07 người.

Các cơ sở dạy nghề của tỉnh hiện có 72 cán bộ, giáo viên trong đó: Số có bằng đại học, cao đẳng 38 người chiếm 52,78%; trung học chuyên nghiệp, thợ bậc cao 34 người chiếm 47,22% (giáo viên cơ hữu 38 người chiếm 52,78%, giáo viên kiêm nhiệm, hợp đồng 34 người chiếm 47,22%). Một số giáo viên trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế, kinh nghiệm giảng dạy ít, kiến thức chuyên môn chưa được thường xuyên cập nhật nên việc tiếp cận kỹ thuật công nghệ mới còn hạn chế, giáo viên kiêm nhiệm hợp đồng không ổn định nên phần nào ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

(Có phụ biểu số 04 đính kèm)

3. Chương trình, nội dung, ngành nghề đào tạo:

a. Ngành nghề đào tạo:

+ Đào tạo nghề dài hạn: Đào tạo gồm 6 nghề: May công nghiệp, điện tử, điện dân dụng, gò hàn; sửa chữa ô tô - xe máy; kỹ thuật nông lâm nghiệp.

+ Đào tạo nghề ngắn hạn: Đào tạo 11 nhóm nghề trong đó có các nhóm nghề chính: Mây tre đan, mộc dân dụng, điện dân dụng, sửa chữa xe máy, may dân dụng, chăn nuôi thú ý, xây dựng dân dụng, kỹ thuật nông lâm nghiệp, lái xe ô tô… thu hút nhiều người vào học.

b. Nội dung chương trình dạy nghề: Thực hiện theo đúng quy định của Tổng cục dạy nghề. Tuy nhiên một số trung tâm dạy nghề chưa có đủ trang thiết bị đáp ứng nhu cầu, nên chương trình, giáo trình chưa tiếp cận phương pháp và kỹ thuật công nghệ tiên tiến.

4. Kinh phí đào tạo nghề (2001-2005)

Kinh phí phục vụ cho công tác đào tạo dạy nghề chưa đáp ứng nhu cầu, việc huy động các nguồn lực từ xã hội hóa cho đào tạo nghề còn hạn chế, cơ sở dạy nghề ngoài công lập chưa phát triển, chủ yếu lồng ghép từ các nguồn dự án:

- Nguồn tài chính đầu tư cho công tác dạy nghề: Trong 5 năm qua, các cơ sở dạy nghề của Tỉnh được ngân sách cấp và huy động các nguồn lực tài chính cho dạy nghề được 19.366 triệu đồng bao gồm:

+ Ngân sách nhà nước 17.766 triệu đồng chiếm 91,74% so với đầu tư cho dạy nghề (Ngân sách trung ương 8.280 triệu đồng, ngân sách Tỉnh cấp 9.486 triệu đồng).

+ Đóng góp của người học 1.600 triệu đồng chiếm 8,26% so với đầu tư cho dạy nghề. Mức đóng góp: Hệ đào tạo dài hạn 50.000 đồng/người/tháng x 12 tháng; hệ đào tạo ngắn hạn tùy theo thời gian, ngành nghề đào tạo và theo quy định của Tỉnh, mức thu từ 150.000-2.160.000 đồng/người/khóa học, thường ở các ngành nghề: Đào tạo lái xe, tin học, ngoại ngữ, sửa chữa xe máy…)

Trong đó:

+ Chi thường xuyên 8.691 triệu đồng

+ Chi xây dựng cơ bản 2.395 triệu đồng.

+ Chi chương trình mục tiêu Dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” 8.280 triệu đồng (Mua sắm thiết bị dạy nghề 5.370 triệu đồng; xây dựng chương trình; giáo trình 310 triệu đồng; đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề 100 triệu đồng; dạy nghề cho lao động nông thôn 2.315 triệu đồng; dạy nghề cho người tàn tật 95 triệu đồng; dạy nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số nội trú 90 triệu đồng).

(Có phụ biểu số 06, 07 đính kèm)

5. Kết quả đào tạo nghề:

Trong 5 năm (2001-2005) các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn Tỉnh đã đào tạo 12.220 người (dài hạn 1.679 người, ngắn hạn 10.541 người), số học sinh học nghề năm 2005 tăng 4,5 lần so với năm 2001.

Ngoài ra các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các đơn vị xuất khẩu lao động tuyển lao động vào dạy nghề để làm việc và đi XKLĐ khoảng 3.500 người.

Kết quả của các hoạt động đào tạo nghề đã góp phần tạo sự chuyển biến một bước về nâng cao chất lượng lao động, cơ cấu nghề đào tạo, chất lượng đào tạo cơ bản đáp ứng được yêu cầu của tăng trưởng kinh tế của Tỉnh cũng như chuyển dịch cơ cấu nội ngành, giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tư 5,05% năm 2001 xuống còn 4,03% vào năm 2005, nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn từ 73,22% năm 2001 lên 80,82% năm 2005.

(Có phụ biểu số 01, 02, 03 đính kèm).

III. Đánh giá chung công tác dạy nghề 2001-2005:

1. Ưu điểm:

Trong những năm qua được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh, sự chỉ đạo giúp đỡ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và sự tham gia của các Sở, Ban, ngành, đoàn thể Tỉnh, công tác dạy nghề có nhiều chuyển biến tích cực. Mạng lưới dạy nghề được phát triển, các hình thức đào tạo (dài hạn, ngắn hạn, tập huấn, bồi dưỡng, kèm cặp, truyền nghề) đã góp phần phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở và Trung học phổ thông và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân. Số lượng học sinh học nghề tăng nhanh (từ 1.159 người năm 2001 lên 5.143 người năm 2005). Có khoảng 70% học sinh tốt nghiệp hệ dài hạn và 50% học sinh hệ ngắn hạn tìm được việc làm.

Các cơ sở dạy nghề đã chủ động mở rộng về quy mô, lĩnh vực đào tạo, cải tiến nội dung nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, mở mang được nhiều ngành nghề mới thiết thực cơ bản, cung cấp nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp sản xuất như: Nhà máy chế biến bột giấy; lắp ráp ô tô; nhà máy chế biến bột cao lanh; mây tre đan xuất khẩu… đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế của Tỉnh. Phục vụ kịp thời các chương trình dự án của Tỉnh… trong phát triển kinh tế và giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.

Nhận thức của nhân dân các dân tộc trong Tỉnh về học nghề đã được nâng cao một bước, người lao động đã chủ động tham gia học tập chuyển đổi nghề, có nhiều cơ hội tìm việc làm và tự bố trí được việc làm sau đào tạo.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng nhanh qua các năm, năm 2001 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 6,2%, đến năm 2005 tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 9,1%.

Đã phát huy được các nguồn lực trong và ngoài Tỉnh, đặc biệt tranh thủ sự đầu tư hỗ trợ kinh phí từ các chương trình dự án của Trung ương đầu tư kinh phí cho dạy nghề.

2. Những tồn tại, hạn chế:

Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác đào tạo nghề, nhưng vẫn còn một số tồn tại là:

Là Tỉnh còn nghèo, cơ sở vật chất, trang thiết bị giành cho đào tạo nghề còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu.

Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm trên 80%, còn gần 3 vạn lao động khu vực nông thôn chưa có việc làm lúc nông nhàn cần được đào tạo nghề nhằm chuyển đổi cơ cấu thuần nông.

Chất lượng đào tạo hiệu quả chưa cao, lao động phần lớn mới được đào tạo, bồi dưỡng nghề ngắn hạn, số lao động có CMKT, thợ lành nghề thiếu.

Công tác đào tạo nghề chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, của xã hội, chưa gắn kết chặt chẽ với giải quyết việc làm, nên một số nghề sau khi tốt nghiệp số người tìm kiếm được việc làm còn thấp.

Khả năng và năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề còn hạn chế.

Giáo viên dạy nghề thiếu, chưa đáp ứng quy mô đào tạo.

Công tác xã hội hóa dạy nghề chưa phát triển, bộ phận lao động nghèo còn trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, trình độ văn hóa thấp chưa đạt yêu cầu của ngành nghề đào tạo.

Kinh phí (Ngân sách Tỉnh) giành cho đào tạo nghề còn hạn hẹp (chiếm 1,26% tổng chi ngân sách của Tỉnh).

3- Nguyên nhân:

Nhận thức của xã hội, của người lao động về học nghề chưa đầy đủ, hầu hết học sinh sau khi tốt nghiệp THPT chỉ muốn đi học các trường Đại học, Cao đẳng, nên học sinh theo học nghề chưa nhiều, mặt khác trình độ văn hóa của người lao động còn thấp nhất là vùng cao đồng bào dân tộc.

Do điều kiện kinh tế xã hội của Tỉnh còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư cho công tác đào tạo nghề còn hạn chế, mặt khác nhu cầu học nghề lớn, song điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên số lượng học sinh theo học thấp.

Việc quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề mới được triển khai ở cấp Tỉnh, các Huyện, Thị xã, Phường, Thị trấn chưa thực hiện quy hoạch nên chưa tạo sự đồng bộ phối kết hợp chặt chẽ trong triển khai thực hiện.

Các doanh nghiệp phát triển nhanh về số lượng nhưng quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là lĩnh vực xây dựng cơ bản, tính ổn định việc làm không cao khả năng thu hút lao động không lớn nên việc bố trí lao động việc làm sau đào tạo cho người lao động còn hạn chế, chưa thu hút nhân dân tích cực tham gia học nghề. Bên cạnh đó một số dự án phát triển công nghiệp còn chậm nên chưa đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, cũng như thu hút lao động vào làm việc.

Các cơ sở đào tạo nghề như: Trường dạy nghề do mới chuyển địa điểm nên chưa ổn định về cơ sở vật chất; các trung tâm Dạy nghề do mới được thành lập, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, thực hành còn thiếu.

Điều kiện kinh tế của nhân dân, của học sinh tham gia học nghề nói chung và dân tộc thiểu số nói riêng còn nhiều khó khăn, chưa chủ động về kinh phí để tham gia học nghề, bên cạnh đó trình độ văn hóa của học sinh cũng còn những bất cập, chưa đạt chuyển với yêu cầu của ngành nghề đào tạo.

Phần thứ hai:

PHÁT TRIỂN DẠY NGHỀ TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2006-2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2015

I. Những căn cứ để xây dựng đề án.

- Luật giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005.

- Nghị quyết số 37/NQ-TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo Quốc phòng - An ninh vùng Trung du và Miền núi Bắc bộ đến năm 2010.

- Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch mạng lưới Trường Dạy nghề giai đoạn 2002-2010.

- Quyết định số 81/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn.

- Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.

- Thông tư liên tịch số 19/2005/TTLT-BLĐTB-XH-BTC-BKHĐT ngày 19/5/2005 của Liên Bộ: BLĐTHB-XH - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch & Đầu tư về dạy nghề cho lao động và người tàn tật.

- Thông tư số 65/2006/TTLT-BTC-BLĐTB-XH ngày 12/7/2006 của Liên bộ: Bộ Tài chính - Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, hướng dẫn thực hiện chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu số nội trú.

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Hà Giang lần thừ XIV nhiệm kỳ 2005-2010.

- Nghị quyết số: 02/NQ-TU , ngày 02 tháng 10 năm 2006 của Tỉnh ủy Hà Giang về đào tạo, phát triển nghề, giải quyết việc làm trong nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu lao động (giai đoạn 2006-2010).

- Quyết định số: 537/QĐ-UBND ngày 20/2/2006 của UBND Tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt chương trình giảm nghèo và giải quyết việc làm Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2006-2010.

- Quyết định số: 1253/2006/QĐ-UBND ngày 17/5/2006 của UBND Tỉnh Hà Giang về việc ban hành chương trình hành động của UBND Tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV.

II. Quan điểm, mục tiêu:

1- Quan điểm

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Hà Giang lần thứ XIV đã chỉ rõ: “Đầu tư nâng cấp Trường Dạy nghề của Tỉnh đạt chuẩn Trường Trung cấp nghề, xây dựng một số Trung tâm Dạy nghề tại các Huyện đông dân cư và các cụm Huyện; mở rộng quy mô đào tạo ở tất cả các??? Như: Đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo tại chỗ, đào tạo tập trung tại xã, Huyện đào tạo ngắn hạn, dài hạn. Có chính sách thu hút giáo viên dạy nghề công tác tại các cơ sở dạy nghề của Tỉnh và các Huyện, Thị; ưu tiên lao động là người dân tộc thiểu số vào học trong các Trường dạy nghề. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở các cơ sở dạy nghề, tạo nghề gắn với sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo bền vững. Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đầu tư cho Trường, Trung tâm dạy nghề trọng điểm có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn qui định của Nhà nước”.

Quan tâm tuyển chọn, đào tạo nâng cao chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy nghề đảm bảo đủ số lượng, trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của cơ sở đào tạo nghề.

2- Mục tiêu chung:

Đào tạo nâng cao chất lượng lao động, đội ngũ công nhân kỹ thuật có phẩm chất và năng lực, tiếp thu các thành tự khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc dân, găn đào tạo giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân, nhất là lao động khu vực nông thông. Đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, gắn với các Trung tâm, từ các dự án khuyến công, khuyến nông của Tỉnh.

3- Mục tiêu cụ thể:

Phấn đấu đến năm 2010 có 25% số lao động qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề đạt 18%; định hướng đến 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%. Góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt tỷ lệ 76% lao động nông nghiệp; 7% lao động công nghiệp-xây dựng; 17% lao động thương mại-dịch vụ vào năm 2010.

- Giai đoạn năm 2006 đến 2010, thực hiện đào tạo nghề cho 34.000 người trở lên (trong đó đào tạo nghề dài hạn cho 4.000 người).

+ Năm 2007 số lao động được dạy nghề là 6.250 người (đào tạo nghề dài hạn 750 người).

+ Giai đoạn năm 2008 đến 2010: Bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 7.600 người (trong đó đào tạo nghề dài hạn 900 người/năm).

- Giai đoạn năm 2011 đến 2015, thực hiện đào tạo nghề cho 49.850 người (trong đó: Đào tạo nghề dài hạn cho 4.950 người). Bình quân mỗi năm đào tạo khoảng 9.000 người (đào tạo nghề dài hạn 1.000 người/năm).

(Có phụ biểu số 02 đính kèm).

- Phát biểu mạng lưới dạy nghề phân bố hợp lý trên địa bàn Tỉnh. Đến năm 2010 trên địa bàn Tỉnh có Trường Trung cấp nghề; Trung tâm dạy nghề. Trong đó thành lập mới 3 trung tâm dạy nghề ở các Huyện: Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Quang Bình, đầu tư xây dựng cơ bản cơ sở vật chất trang thiết bị, nhà xưởng đáp ứng yêu cầu học nghề.

+ Năm 2006 nâng cấp Trường dạy nghề thành Trường Trung cấp nghề.

+ Đến năm 2015 nâng cấp Trường Trung cấp nghề thành Trường Cao đẳng nghề; nâng cấp Trung tâm dạy nghề của Huyện: Bắc Quang; Yên Minh thành Trường Trung cấp nghề để đào tạo nghề dài hạn theo khu vực, phấn đấu 100% các huyện đều có Trung tâm dạy nghề.

(Có phụ biểu số 03 đính kèm)

III. Nội dung chính của đề án:

1- Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề

a- Đối với cơ sở dạy nghề dài hạn:

Đào tạo nghề dài hạn từ 1-3 năm: Trường Trung cấp nghề, Trường Trung học chuyên nghiệp có liên kết dạy nghề và Trung tâm giáo dục thường xuyên của Tỉnh, Huyện (dạy nghề cho học sinh học phổ cập bậc trung học kết hợp với dạy văn hóa).

Năm 2006-2007: Tăng vốn đầu tư XDCB để xây dựng Trường Trung cấp nghề đủ năng lực đào tạo nghề dài hạn từ 550 người trở lên.

Giai đoạn năm 2008-2010 đầu tư thêm trang thiết bị tiên tiến cho các cơ sở đào tạo nghề dài hạn để ổn định nâng cao chất lượng dạy nghề dài hạn, một số nghề đào tạo trình độ cao, mở rộng cơ sở trường, lớp đủ năng lực đào tạo nghề dài hạn cho 900 người/năm.

Giai đoạn năm 2011-2015: Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trường Cao đẳng nghề; Trường trung cấp nghề để đủ năng lực đào tạo nghề theo kế hoạch.

b- Đối với cơ sở dạy nghề ngắn hạn:

- Đào tạo nghề ngắn hạn đào tạo dưới 1 năm: Trường Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề Hội phụ nữ; Trung tâm dạy nghề cấp Huyện; Trung tâm giới thiệu việc làm, Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp tổ chức đào tạo.

- Giai đoạn năm 2006-2007: Đầu tư nâng cao năng lực đào tạo nghề cho các trung tâm: Trung tâm dạy nghề Hội liên hiệp phự nữ; Trung tâm dạy nghề Huyện Bắc Quang; Trung tâm dạy nghề Huyện Yên Minh, để có năng lực đào tạo nghề ngắn hạn tư 4.700 người năm 2006 lên 5.500 người năm 2007.

- Giai đoạn năm 2007-2010: Thành lập mới Trung tâm dạy nghề Huyện: Vị Xuyên; Hoàng Su Phì; Quang Bình, để nâng cao năng lực đào tạo nghề ngắn hạn cho 7.400 người vào năm 2010.

- Giai đoạn năm 2011-2015: Thành lập mới Trung tâm dạy nghề Huyện: Xín Mần; Bắc Mê; Quản Bạ, để đủ năng lực đào tạo nghề ngắn hạn cho 9.000 đến 10.000 người/năm.

2- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng dạy nghề:

Về diện tích mặt bằng: Căn cứ tiêu chuẩn ban hành tại Quyết định số 21/2003/QĐ-BXD ngày 28/7/2003 của Bộ xây dựng về việc ban hành tiêu chuẩn xây dựng thì các Trường dạy nghề; Trung tâm dạy nghề hiện có 7.1 ha (không tính diện tích bãi tập xe và vườn thực nghiệm), hầu hết còn thiếu hoặc chưa có đất, vì vậy phải rà soát lại toàn bộ đất đai cơ sở dạy nghề để xây dựng quy hoạch về đất và cấp bổ sung diện tích mặt bằng còn thiếu, hoặc chuyển địa điểm mới.

Cơ sở vật chất: Triển khai xây dựng cơ bản các cơ sở dạy nghề đã được phê duyệt dự án và cấp vốn xây dựng phòng học, nhà làm việc, xưởng thực hành đúng tiêu chuẩn và đạt trên 60% xây dựng kiên cố, đảm bảo điều kiện môi trường Giáo dục-Đào tạo.

Về trang thiết bị: Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu Quốc gia hàng năm từ dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” cho Trường, Trung tâm dạy nghề và huy động từ các nguồn vốn khác để trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho dạy nghề, bảo đảm đủ vật tư, nguyên vật liệu cho thực hành nâng cao tay nghề cho học sinh. Đến năm 2010 các cơ sở dạy nghề phải đủ trang thiết bị thực hành, các phòng học có phương tiện hỗ trợ giảng dạy: Như đèn chiếu, ghi hình… Nâng cao thời gian thực hành lên 65-75% trong quỹ thời gian học nghề.

3- Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý, giáo viên và chất lượng dạy nghề:

Tổ chức dạy nghề ở 3 cấp trình độ: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề. Nâng cao chất lượng của 6 nghề dài hạn và 11 nhóm nghề ngắn hạn hiện đang đào tạo và bổ sung các ngành nghề mới (cả dài hạn, ngắn hạn). Rà soát lại năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghệ hiện có để điều chỉnh quy mô, ngành nghề cho phù hợp với năng lực đào tạo. Tổ chức dạy các nghề xã hội có nhu cầu và phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh như (Chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng, mây tre đan xuất khẩu, chăn nuôi thú y, thêu ren, khai thác khoáng sản, điện dân dụng…)

Thực hiện việc tuyển dụng, bổ nhiệm và bổ nhiệm lại các chức danh Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề, Giám đốc, Phó giám đốc Trung tâm Dạy nghề, tuyển dụng giáo viên dạy nghề đảm bảo yêu cầu chất lượng theo quy định tại Điều lệ Trường Trung cấp nghề, quy chế tổ chức hoạt động của Trung tâm Dạy nghề.

+ Năm 2010: Nhu cầu giáo viên dạy nghề cần có 164 người, trong đó giáo viên cơ hữu 123 người, cần bổ sung 92 người. Cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề được đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cả chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học.

+ Năm 2015 nhu cầu giáo viên dạy nghề 269 người, giáo viên cơ hữu là 212 người, cần bổ sung thêm 105 người. Hoàn thành việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề.

(Có phụ biểu số 04 đính kèm)

+ Mở rộng thực hiện liên kết, liên doanh với các Trường Đại học, Cao đẳng nghề của Trung ương, các Tỉnh để đào tạo bồi dưỡng giáo viên cho các cơ sở đào tạo nghề của Tỉnh.

IV. Huy động các nguồn lực tài chính cho mục tiêu dạy nghề:

- Năm 2007 tổng kinh phí cho dạy nghề: 25.452 triệu đồng (NSTW 8.500 triệu đồng: NSĐP 16.080 triệu đồng; nguồn khác 873 triệu đồng) trong đó:

+ Chi thường xuyên 10.152 triệu đồng

+ Chi xây dựng cơ bản 6.800 triệu đồng

+ Chương trình mục tiêu Dự án TCNL đào tạo nghề 8.500 triệu đồng (Mua sắm thiết bị dạy nghề 5.800 triệu đồng; xây dựng chương trình, giáo trình 400 triệu đồng; đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề 300 triệu đồng; dạy nghề cho lao động nông thôn 1.900 triệu đồng; dạy nghề cho người tàn tật 100 triệu đồng).

- Năm 2008-2010 ngân sách chi cho đào tạo nghề đạt 98.344 triệu đồng (NSTW 31.866 triệu đồng, NSĐP 63.273 triệu đồng, nguồn khác 3.206 triệu đồng), trong đó:

+ Chi thường xuyên 38.478 triệu đồng.

+ Chi xây dựng cơ bản 28.000 triệu đồng

+ Chương trình mục tiêu Dự án TCNL đào tạo nghề 31.866 triệu đồng (Mua sắm thiết bị dạy nghề 21.050 triệu đồng; xây dựng chương trình, giáo trình 1.940 triệu đồng; đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề 1.640 triệu đồng; dạy nghề cho lao động nông thôn 6.936 triệu đồng; dạy nghề cho người tàn tật 500 triệu đồng).

- Từ năm 2011-2015 ngân sách chi cho dạy nghề là 190.852 triệu đồng (NSTW 65.964 triệu đồng, NSĐP 117.937 triệu đồng, nguồn khác 6.952 triệu đồng), trong đó:

+ Chi thường xuyên 81.688 triệu đồng.

+ Chi xây dựng cơ bản 43.200 triệu đồng.

+ Chương trình mục tiêu Dự án TCNL đào tạo nghề 67.964 triệu đồng (Mua sắm thiết bị dạy nghề 40.550 triệu đồng; xây dựng chương trình, giáo trình 4.875 triệu đồng; đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề 4.375 triệu đồng; dạy nghề cho lao động nông thôn 15.664 triệu đồng; dạy nghề cho người tàn tật 500 triệu đồng).

(Có phụ biểu số 06, 07 đính kèm)

- Bố trí tỷ lệ kinh phí thích hợp từ ngân sách Tỉnh để thực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn theo quy định tại Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn.

- Huy động các nguồn vốn khác từ xã hội hóa dạy nghề: Hàng năm huy động các nguồn ngoài NSNN chiếm khoảng 20-25% tổng số chi cho dạy nghề, bao gồm:

+ Các nguồn kinh phí tư chương trình dự án trong và ngoài nước.

+ Đóng góp của người học theo quy định của Nhà nước.

+ Các khoản đóng góp bằng tiền của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân.

V. Giải pháp

1- Các giải pháp thực hiện:

Tổ chức tuyền truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về dạy nghề để các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội, các cơ sở dạy nghề công lập, ngoài công lập và nhân dân biết, tích cực triển khai thực hiện chủ trương đào tạo nghề phát triển nguồn nhân lực.

Phát triển mạng lưới Trường, Trung tâm dạy nghề đáp ứng nhu cầu học nghề của nhân dân, nhu cầu lao động CNKT của các thành phần kinh tế.

Thực hiện chế độ bình đẳng trong đào tạo, bảo đảm các chế độ, quyền lợi của người học nghề và cơ sở nghề.

Quy hoạch các dự án phát triển kinh tế xã hội, xây dựng các khu công nghiệp, trung tâm thương mại nhằm thu hút và tạo việc làm cho người lao động sau đào tạo.

Gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm. Đẩy mạnh giới thiệu việc làm tạo điều kiện cho người lao động sau đào tạo tìm được việc làm trong và ngoài nước.

Tranh thủ sự giúp đỡ các nguồn lực của Trung ương hỗ trợ từ dự án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề”.

2- Về cơ chế chính sách:

Có chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân thành lập Trường, Trung tâm dạy nghề tư thục; khuyến khích các Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ tham gia đào tạo nghề, mở các lớp truyền nghề; cấy nghề; khôi phục và phát triển các nghề truyền thống.

Xây dựng chính sách ưu đãi thu hút đối với giáo viên dạy nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao ở các Tỉnh miền xuôi lên công tác tại cơ sở dạy nghề của Tỉnh.

Xây dựng và ban hành mức thu học phí ở các cơ sở dạy nghề đảm bảo đủ chi phí dạy nghề, giải quyết việc làm.

Xây dựng quy định mức hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề cho: lao động nông thôn; lao động là dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn; lao động thuộc đối tượng chính sách ưu đãi người có công; lao động nữ, xuất khẩu lao động; các hộ bị thu hồi đất để xây dựng các cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới, các làng nghề. Phát triển các ngành nghề thu hút nhiều lao động để tạo việc làm ổn định cho người lao động nông thôn và hạn chế nạn thất nghiệp trong quá trình đô thị hóa.

Quy hoạch, rà soát diện tích đất của các cơ sở dạy nghề, bổ sung đất cho cơ sở dạy nghề còn thiếu diện tích đất để xây dựng lớp học, xưởng thực hành, khu nội trú cho học sinh; cần thiết phải di chuyển đến địa điểm khác phù hợp với môi trường học nghề.

3- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về dạy nghề:

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ để đảm nhiệm tốt chức năng quản lý Nhà nước về dạy nghề, các Huyện, Thị đảm bảo bố trí 01 cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nghiệm phụ trách công tác dạy nghề. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề theo quy định của Nhà nước.

4- Xã hội hóa đào tạo nghề:

Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cá nhân thành lập Trường, Trung tâm dạy nghề ngoài công lập, dạy nghề trong các doanh nghiệp , làng nghề…. Các cơ sở này được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định tại Nghị quyết 05/2005/NQ - CP ngày 18/4/2003 của chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao.

VI. Hiệu quả của đề án:

Đáp ứng được nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng.

Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.

Người lao động được đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để tìm được việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội.

Nâng tỷ lệ lao đông qua đào tạo nghề lên 18% vào năm 2010 và 30% vào năm 2015, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 3,6% vào năm 2010, tăng tỷ lệ thời gian sử dụng lao động nông thôn lên 85% vào năm 2010, góp phần giảm tỷ lệ hộ đói nghèo.

Mở rộng và phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề từ Tỉnh đến Huyện, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy nghề, nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu học nghề của nhân dân.

Phần thứ ba:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. Đơn vị chủ quản: Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang.

II. Đơn vị thực hiện: Sở lao động - TBXH thực hiện nhiệm vụ sau:

Tham mưu cho Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành cơ chế chính sách hỗ trợ dạy nghề đối với lao động là dân tộc thiểu số, diện chính sách phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.

Chủ động phối hợp với các ngành, các địa phương tổng hợp xây dựng chỉ tiêu kế hoạch đào tạo nghề dài hạn, ngắn hạn và dự toán kinh phí đầu tư cho dạy nghề hàng năm, thống nhất với các Sở: Kế hoạch - Đầu tư, tài chính, trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt.

Phân bố chỉ tiêu đào tạo nghề đối với các trường, trung tâm dạy nghề của Tỉnh, Huyện theo năng lực đào tạo của từng cơ sở.

Chủ động liên hệ với các trường đại học: Cao đẳng nghề; Trường CNKT của Trung ương để giúp đào tào CNKT cho Tỉnh ở những ngành nghề mũi nhọn, yêu cầu công nghệ cao mà các cơ sở dạy nghề trong Tỉnh chưa đào tạo được.

Quản lý nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia cho đào tạo nghề, Kinh phí đào tạo nghề cho lao động, nông thôn, ký kết hợp đồng đào tạo với các cơ sở dạy nghề theo chỉ tiêu kế hoạch đã được tỉnh phê duyệt.

Thực hiện thanh tra, kiểm tra về hoạt động dạy nghề trên địa bàn và việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch được đào tạo.

Chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ: Sở Kế hoạch - Đầu tư; Sở Tài chính và các Sở, Ban ngành có liên quan thẩm định đề án thành lập trường, Trung tâm dạy nghề thuộc Tỉnh và các Trung tâm dạy nghề cấp Tỉnh, Trình ủy ban nhân dân Tỉnh xem xét phê duyệt.

Chỉ đạo các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong và ngoài Tỉnh phối hợp với các Sở dạy nghề, tổ chức chức đào tạo nghề, dạy ngoại ngữ, giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu.

III. Đơn vị phối hợp:

Các Sở: Nội vụ; Kế hoạch - Đầu tư; Tài chính; Sở Giáo dục - Đào tạo, các Sở, ngành quản lý sản xuất và Ủy ban nhân dân các Huyện, Thị xã phối hợp với Sở Lao động - TBXH trong việc triển khai thực hiện Đề án, cụ thể:

1. Sở Nội vụ: Cân đối bối trí chỉ tiêu biên chế cán bộ quản lý, giáo viên cho các trường, Trung tâm dạy nghề trình Ủy ban nhân dân Tỉnh.

2. Sở Kế hoạch - Đầu Tư: Chủ trì cân đối đảm bảo các nguồn kinh phí cho đầu tư cơ sở vật chất cho các Trường, Trung tâm dạy nghề, thống nhất với Sở Lao động - TBXH trong việc giao chỉ tiêu kinh phí chương trình dự án tăng cường năng lực đào tạo nghề, chỉ tiêu về đào tạo nghề (ngắn hạn, dài hạn) hàng năm trình Ủy ban nhân dân Tỉnh.

3. Sở Tài chính: Chủ trì phối hợp với Sở kế hoạch - Đầu tư cân đối nguồn kinh phí cho Đề án, dự toán các nguồn ngân sách cho đào tạo nghề hàng năm.

4. Sở Giáo dục - Đào tạo: Phối hợp với Sở Lao động - TBXH trong việc thực hiện dạy nghề cho học sinh học phổ cập Trung học phổ thông với đào tạo nghề; phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS và THPT vào học trong các Trường, Trung tâm dạy nghề.

5. Các Sở, ban ngành khác: Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ và chương trình phát triển kinh tế của ngành, xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, chủ động phối hợp với Sở Lao động - TBXH trong đào tạo CNKT đáp ứng nguồn nhân lực của ngành.

6. Ủy ban nhân dân các Huyện, Thị Xã: Căn cứ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xác định nhu cầu đào tạo, chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hàng năm và chỉ đạo cơ sở dạy nghề của Huyện, tổ chức đào tạo theo chỉ tiêu kế hoạch được giao. Đối với các Huyện chưa thành lập cơ sở dạy nghề thì chủ động phối với Trường, Trung tâm dạy nghề của Tỉnh để thực hiện đào tạo, đáp ứng nhu cầu học nghề của nhân dân trên địa bàn, chủ động phối hợp với các Sở trong việc xây dựng đề án thành lập Trung tâm dạy nghề cấp Huyện để đào tạo CNKT đáp ứng nguồn nhân lực của Huyện.

7. Các Trường, Trung tâm dạy nghề: Hàng năm tổ chức triển khai thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, chủ động phối hợp và liên kết với các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp nghề ngoài Tỉnh để thực hiện liên kết mở rộng ngành nghề đào tạo, tập trung đào tạo nghề phù hợp với cơ chế thị trường để GQVL cho người lao động, chú trọng đào tạo nghề phục vụ xuất khẩu lao động.

8. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Tỉnh Đoàn Thanh niên tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia học nghề nhằm đẩy mạnh phát triển sự nghiệp dạy nghề.

Đối với Đoàn thể có cơ sở dạy nghề, căn cứ nội dung đề án của Tỉnh, chỉ đạo cơ sở dạy nghề thực hiện chỉ tiêu dạy nghề được giao, đồng thời tranh thủ nguồn vốn cấp trên để củng cố tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy nghề.

Ủy ban nhân dân Tỉnh Hà Giang giao cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức triển khai, kiểm tra đôn đốc thực hiện đề án, tổng hợp báo cáo kết quả theo quy định./.