THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2002

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Về việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toánđể hạch toán và thanh toán vốn

của các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12tháng 12 năm 1997 và Luật các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12năm 1997;

Căn cứ Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ngày 10 tháng 5 năm 1988;

Căn cứ Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 củaChính phủ về hoạt động thanh toán qua các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;

Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

 

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1.Các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,ngân hàng, các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán) được sử dụng chứng từđiện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn.

Điều 2.Chứng từ điện tử là chứng từ kế toán mà các yếu tố của nó được thể hiện dướidạng dữ liệu điện tử đã được mã hoá mà không có sự thay đổi trong quá trìnhtruyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loạithẻ thanh toán.

Chứngtừ điện tử phải có đủ các yếu tố quy định cho chứng từ kế toán, đảm bảo tínhpháp lý của chứng từ kế toán và phải được mã hoá bảo đảm an toàn trong quátrình xử lý truyền tin và lưu trữ; riêng yếu tố chữ ký phải được mã hoá bằngkhoá mật mã - được gọi là chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử được xác lập riêng chotừng cá nhân để xác định quyền hạn và trách nhiệm của người lập và những ngườiliên quan chịu trách nhiệm về tính an toàn và chính xác của chứng từ điện tử.Chữ ký điện tử trên chứng từ điện tử có giá trị như chữ ký tay trên chứng từgiấy.

Điều 3.Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm quy định về: tiêu chuẩn,quy cách mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh, cấu trúc dữ liệu của chứng từ điện tử; vềviệc lập, cấp phát, quản lý các mật mã trong thanh toán điện tử giữa các Tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán (bao gồm cả chữ ký điện tử).

Điều 4.Các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán sử dụng chứng từ điện tử có trách nhiệm:

Thựchiện lập, xử lý, sử dụng, bảo quản lưu trữ chứng từ điện tử theo đúng quy địnhcủa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các quy định liên quan của nhà nước.

Bảomật và bảo toàn dữ liệu thông tin về chứng từ điện tử trong quá trình sử dụngvà lưu trữ.

Trangbị phương tiện kỹ thuật (bao gồm cả hệ thống dự phòng) để khai thác, xử lý, sửdụng chứng từ điện tử.

Phảiquản lý, kiểm tra chặt chẽ để ngăn ngừa và chống các hình thức lợi dụng khaithác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử vào các việctrái với quy định về bảo mật, cung cấp thông tin số liệu của các Tổ chức cungứng dịch vụ thanh toán.

Điều 5.Các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thôngtin, chứng từ điện tử và hướng dẫn việc sử dụng các thiết bị để phục vụ chocông tác, điều tra, đọc chứng từ khi có yêu cầu thanh tra, kiểm tra của cơ quancó thẩm quyền.

Điều 6.Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải in đượcra giấy dưới dạng chứng từ hoặc bảng kê chứng từ khi cần thiết. Trên từng chứngtừ hoặc bảng kê chứng từ sau khi in ra giấy phải được kế toán trưởng và Tổnggiám đốc, Giám đốc các Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (hoặc người được ủyquyền) kiểm soát, ký xác nhận và đóng dấu theo quy định.

Điều 7.Cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của Quyết định này và các quy định phápluật về chứng từ điện tử thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷluật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây ra thiệthại về vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 8.Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế choQuyết định số 196/TTg ngày 01 tháng 4 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về việcsử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán vàthanh toán của các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng.

Điều 9.Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ,Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu tráchnhiệm thi hành Quyết định này./.

 

Thủ tướng

(Đã ký)

Phan Văn Khải