ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 7269/QĐ-UBND

Phan Rang-Tháp Chàm, ngày 11 tháng 12 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH

BAN HÀNH ĐỀ ÁN “TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ĐÀO TẠONGHỀ” TỈNH NINH THUẬN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010

CHỦ TỊCHỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng11 năm 2003;

Căn cứ Quyết định số 07/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2008 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục vàđào tạo đến năm 2010;

Căn cứ Quyết định số 107/QĐ-BLĐTBXH ngày 20 tháng 01 năm 2006 của BộLao động - Thương binh và Xã hội về việc phê duyệt danh sách các trường dạynghề, trung tâm dạy nghề được đầu tư tập trung bằng kinh phí dự án “Tăng cườngnăng lực đào tạo nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạogiai đoạn 2006 - 2010 và Quyết định điều chỉnh, bổ sung số 1865/QĐ-LĐTBXH ngày12 tháng 12 năm 2006;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hộitại Tờ trình số 941/SLĐTBXH-DN ngày 25 tháng 11 năm 2008 và kết quả thẩm địnhcủa Sở Kế hoạch và Đầu tư tại công văn số 2251/SKHĐT ngày 03 tháng 12 năm 2008,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án“Tăng cường năng lực đào tạo nghề” tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 - 2010 (đínhkèm Đề án).

Điều 2. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chủ trì,phối hợp với các ngành chức năng và các địa phương liên quan tổ chức thực hiệnĐề án, xây dựng kế hoạch, giải pháp cụ thể hằng năm nhằm bảo đảm thực hiện cácmục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra đạt hiệu quả, đúng quy định hiện hành của Nhà nước.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Tài chính,Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phốvà thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Lưu Xuân Vĩnh

ĐỀ ÁN

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ TỈNH NINHTHUẬN GIAI ĐOẠN 2008 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 7269/QĐ-UBND ngày 11 tháng 12 năm2008 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận)

Phần mở đầu

I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Ninh Thuận là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực miềnTrung với dân số gần 60 vạn. Trong những năm qua, tỉnh Ninh Thuận luôn quan tâmđến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệphoá - hiện đại hoá. Tuy nhiên, do tỉnh còn khó khăn nên công tác đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực gặp một số trở ngại như: thiếu việc làm, chuyển dịchcơ cấu lao động trong nông nghiệp chậm, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề cònthấp, các cơ sở dạy nghề còn ít, không có trường dạy nghề trung ương đóng trênđịa bàn tỉnh; vì vậy nhu cầu đào tạo nghề cho các khu, cụm công nghiệp chưađược đáp ứng và đa số lao động đi làm việc ở tỉnh ngoài chưa có tay nghề.

Thời gian qua, Ninh Thuận đang triển khai đầu tư xây dựng nhiều khu, cụmcông nghiệp. Theo tính toán sơ bộ, đến năm 2010, các khu, cụm công nghiệp trêncần khoảng 24.700 lao động qua đào tạo trong các ngành kinh tế, bao gồm:nông lâm 4.085 (16,54%), công nghiệp xây dựng 11.695 (47,35%), dịch vụ thươngmại 8.920 (36,11%). Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn nhân lực và để đápứng nhu cầu lao động cho các khu, cụm công nghiệp của tỉnh, Nghị quyếtĐại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI đã đề ra đến năm 2010 phải có 40% laođộng qua đào tạo, trong đó có 25% qua đào tạo nghề. Do đó, việc tăngcường năng lực đào tạo nghề tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2008 - 2010 là rấtcần thiết. Đây là nhu cầu có tính thực tiễn nhằm phát triển nguồn nhân lực cảvề số lượng và chất lượng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệnđại hoá tỉnh nhà.

II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

- Quyết định số 07/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục và Đào tạođến năm 2010;

- Quyết định số 107/QĐ-BLĐTBXH ngày 20 tháng 01 năm 2006 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội về việc phê duyệt danh sách các trường dạy nghề, trungtâm dạy nghề được đầu tư tập trung bằng kinh phí Dự án “Tăng cường năng lực đàotạo nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo giai đoạn2006 - 2010 và Quyết định điều chỉnh, bổ sung số 1865/QĐ-LĐTBXH ngày 12 tháng12 năm 2006;

- Quyết định 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 02 tháng 10 năm 2006 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội về việc quy hoạch phát triển mạng lưới Trường caođẳng, Trường trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020;

- Quyết định số 39/2003/QĐ-UBND ngày 08 tháng 01 năm 2003 của Chủ tịch Ủyban nhân dân tỉnh Ninh Thuận vế việc phê duyệt mạng lưới dạy nghề tỉnh NinhThuận giai đoạn 2001 - 2010;

- Quyết định số 336/2006/QĐ-UBND ngày 25 tháng 12 năm 2006 của Ủy ban nhândân tỉnh Ninh Thuận về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5năm 2006 - 2010.

Phần I

THỰC TRẠNGNĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ TỈNH NINH THUẬN GIAI ĐOẠN 2004 - 2007

I. MẠNG LƯỚI CƠ SỞ DẠY NGHỀ

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, được sự quan tâm của Đảng và Nhànước, công tác đào tạo nghề của tỉnh Ninh Thuận trong những năm gần đây pháttriển theo chiều hướng tích cực, nhất là chính sách xã hội hoá trong lĩnh vựcgiáo dục đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho loại hình cơ sở dạy nghề dânlập ra đời đáp ứng một phần nhu cầu học nghề của nhân dân. Tính đến tháng 6 năm2008, trên địa bàn tỉnh có 05 cơ sở dạy nghề công lập và 1 cơ sở dạy nghề tưnhân, cụ thể:

1. Trường trung cấp Nghề Ninh Thuận: Trường trung cấp Nghề Ninh Thuận đượcthành lập ngày 29 tháng 5 năm 2007 trên cơ sở nâng cấp Trường Dạy nghề NinhThuận (được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2003), với kinh phí đầu tư xâydựng cơ bản từ vốn địa phương và kinh phí đầu tư trang thiết bị từ chương trìnhmục tiêu quốc gia. Tổng nguồn kinh phí đầu tư từ năm 2003 đến 2007 là 19.403triệu đồng, trong đó: xây dựng cơ bản là 6.636 triệu, trang thiết bị là 12.767,46triệu.

BẢNG TỔNG HỢP THIẾT BỊ DẠY NGHỀ CỦA TRƯỜNGTRUNG CẤP NGHỀ NINH THUẬN TỪ NĂM 2003 - 2007

(tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm2007)

STT

TÊN THIẾT BỊ

Tổng số tiền
(triệu đồng)

Đơn vị cung cấp

Năm cung cấp

1

Thiết bị cơ khí (tiện, phay, bào, …)

699,90

TT. TBDN (Hà Nội)

2003

2

Thiết bị may công nghiệp và may dân dụng

1.175,00

Cửa hàng giới thiệu SP

2003

3

Máy móc thiết bị văn phòng (điện tử)

190,43

Doanh nghiệp Từ Sơn

2003

4

Thiết bị tin học

410,80

Công ty Sách Thiết bị TH

2004

5

Thiết bị sửa chữa ôtô

455,73

Công ty TNHH Toàn Á

2004

6

Thiết bị điện tử - điện công nghiệp

486,76

Công ty TNHH Toàn Á

2004

7

Thiết bị điện lạnh

427,31

Công ty TNHH Toàn Á

2005

8

Thiết bị điện cơ sở - dân dụng - công nghiệp

513,10

Công ty TNHH Toàn Á

2005

9

Thiết bị điện tử cơ sở - dân dụng - công nghiệp

1.050,30

Công ty CP Hữu Hồng

2005

10

Thiết bị cơ khí hàn, nguội – cơ khí sửa chữa ôtô - xe máy

1.428,10

Công ty CP Hữu Hồng

2005

11

Thiết bị máy tính, loa, âmly, máy in

61,80

Doanh nghiệp Từ Sơn

2005

12

Thiết bị phòng học lý thuyết, thực hành, nội trú, thư viện

443,85

Xí nghiệp mộc Thành Lợi

2003, 2005

13

Thiết bị điện, tự động hoá

1.997,24

Công ty CP Hữu Hồng

2006

14

Thiết bị tin học ứng dụng

390,00

Công ty CP Hữu Hồng

2006

15

Thiết bị cơ khí chế tạo, cơ khí động lực

1.394,14

Công ty CP Hữu Hồng

2006

16

Thiết bị ngành xây dựng

224,00

Cty TNHH thương mại - xây dựng Phước Lộc

2006

17

Thiết bị sửa chữa ôtô, xây dựng, trồng trọt

1.419,00

Công ty CP Hữu Hồng

2007

Tổng cộng:

12.767,46[1]

Quy mô đào tạo hằng năm của trường từ 700 - 800 học viên trình độ trung cấpnghề (bao gồm 2 khoá gối đầu) và từ 1.000 - 1.500 học viên trình độ sơ cấp nghề,đây là trường duy nhất đào tạo trình độ Trung cấp nghề của tỉnh. Để đáp ứng quymô đào tạo ngày càng tăng, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt dự án đầu tư xâydựng công trình cơ sở II của Trường trung cấp Nghề.

2. Trung tâm Giới thiệu việc làm Ninh Thuận: Trung tâm có diện tích đất xâydựng là 2.500m2, có chức năng đào tạo trình độ sơ cấp nghề và giáodục định hướng xuất khẩu lao động, quy mô đào tạo hằng năm khoảng 450 học viên,không có giáo viên cơ hữu. Năm 2005, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đầu tư xây dựngkhối phòng học lý thuyết và thực hành với diện tích là 479m2, kinhphí là 807 triệu; năm 2007 đầu tư xây dựng nhà làm việc, nhà xe với diện tíchlà 542m2, kinh phí là 2.026 triệu và kinh phí cho trang thiết bị là:1.080 triệu đồng.

STT

Tên thiết bị

Tổng số tiền
(triệu đồng)

Năm cung cấp

Ghi chú

1

Thiết bị may công nghiệp, dân dụng

300

2003

2

Thiết bị máy tính và may

780

2005 - 2007

Tổng cộng

1.080

3. Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Phan Rang: Trung tâm có chứcnăng dạy hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, đào tạo trình độ sơ cấp nghề vàliên kết đào tạo trình độ trung cấp nghề với Trường trung cấp Nghề Ninh Thuận.Quy mô đào tạo trình độ sơ cấp nghề hằng năm là 800 học viên. Về cơ sở vậtchất, hiện có: 5 phòng học lý thuyết với diện tích 720m2, 12 phònghọc thực hành với diện tích 1.825m2. Giá trị về trang thiết bịdạy nghề là: 3.084,980 triệu đồng, giá trị về nhà xưởng khoảng 1,6 tỷđồng.

STT

Tên thiết bị

Tổng số tiền (triệu đồng)

Năm cung cấp

Ghi chú

1

Thiết bị điện công nghiệp, hàn, gò, vi tính, may công nghiệp, vận tải

961,833

2006

2

Thiết bị vận tải, điện công nghiệp, hàn, gò, vi tính

1.593,147

2007

3

Thiết bị vận tải

530,000

2008

Tổng cộng

3.084,980

4. Trung tâm dạy nghề Chữ thập đỏ: không có giáo viên cơ hữu, chưa có cơsở dạy nghề riêng, hiện đang tạm hoạt động chung với Hội Chữ thập đỏ; có chứcnăng đào tạo trình độ sơ cấp nghề với quy mô hằng năm là khoảng 100 học viên.Giá trị xây lắp khoảng 300 triệu đồng và giá trị thiết bị là: 276,5 triệu đồng(bao gồm cả máy vi tính và máy may).

5. Trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ nông dân: có chức năng đào tạo trình độ sơcấp nghề, quy mô đào tạo hằng năm khoảng 200 học viên. Trung tâm không có giáoviên cơ hữu, chưa có cơ sở vật chất, hiện đang hoạt động tạm thời tại trụ sởcủa cơ quan Bảo hiểm Xã hội tỉnh.

6. Cơ sở dạy nghề dân lập Tấn Tài: đây là cơ sở thuộc Hội dòng con Đức MẹTấn Tài, có chức năng đào tạo trình độ sơ cấp nghề, quy mô đào tạo hằng nămkhoảng 100 học viên, thiết bị hiện có khoảng 150 triệu đồng (bao gồm máy vitính và máy may công nghiệp). Các phòng học lý thuyết, thực hành được tận dụngtrong nhà thờ Tấn Tài. Hiện nay, cơ sở này đã xây dựng đề án nâng cấp thànhTrung tâm dạy nghề dân lập Tấn Tài và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phépthành lập theo Quyết định số 4235/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm 2007.

II. QUY MÔ ĐÀO TẠO

Giai đoạn 2004 - 2007 đã tổ chức dạy nghề cho 25.346 người baogồm: dạy nghề cho học sinh phổ thông, thanh niên, bộ đội xuất ngũ, tạingũ, người khuyết tật, dân tộc thiểu số, lao động chuyển đổi nghềnghiệp, …

1. Kết quả đào tạo nghề giai đoạn 2004 - 2007:

ĐVT: người

STT

Nội dung

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Cộng

Ghi chú

1

Đào tạo dài hạn

508

605

620

544

2.277

2

Đào tạo ngắn hạn

4.338

5.192

6.657

6.882

23.069

Tổng cộng

4.846

5.797

7.277

7.426

25.346

Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh, luôn đạt và vượt chỉtiêu kế hoạch Nhà nước giao; nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ6,62% năm 2000 lên 18,2% năm 2007. Số người qua đào tạo nghề có việc làmsau khi tốt nghiệp chiếm khoảng 60 - 70%.

Tuy nhiên, quy mô dạy nghề dài hạn vẫn còn thấp so với tổng sốlao động được đào tạo nên thiếu nhiều lao động kỹ thuật trình độ caocho các khu, cụm công nghiệp; các ngành kinh tế mũi nhọn và xuất khẩulao động.

Hiện nay, công tác tuyển sinh học nghề gặp nhiều khó khăn do nhận thức vềhọc nghề tại tỉnh nhà của học sinh và phụ huynh còn hạn chế. Những gia đình khágiả đều cho con em vào học các trường trung cấp tại thành phố Hồ Chí Minh,những gia đình khó khăn thì không đủ điều kiện để cho con em đến trường vì cònphải phụ giúp gia đình làm kinh tế. Năm học 2005 - 2006 phải tuyển sinh làm 2đợt mới đạt chỉ tiêu, gây khó khăn trong việc bố trí giáo viên giảng dạy. Bêncạnh đó công tác tuyên truyền của trường nghề còn hạn chế, đào tạo nghề chưagắn với giải quyết việc làm, chưa phối kết hợp với các doanh nghiệp trên địabàn tỉnh.

2. Ngành nghề đào tạo: có 32 ngành nghề được đào tạo từ năm 2004 đến2007, trong đó có 11 ngành nghề hệ dài hạn và 27 ngành nghề hệ ngắn hạn, có 6ngành nghề được đào tạo cả dài hạn và ngắn hạn. (đính kèm chi tiết tại Phụ lục1)

III. CHẤT LƯỢNG DẠY NGHỀ

1. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:

Đội ngũ giáo viên hiện nay ở các cơ sở dạy nghề là 89 người, tănggần 1,5 lần so với năm 2004. Tỷ lệ giáo viên/học sinh đạt khoảng 1/26, khoảng96,8% giáo viên dạy nghề đạt chuẩn trình độ đào tạo, chưa có giáo viênđạt trình độ sau đại học (xem chi tiết tại Phụ lục 2).

Hằng năm các cơ sở dạy nghề đã sắp xếp thời gian, tạo mọi điềukiện cho giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyênmôn nghiệp vụ, cập nhật kỹ thuật - công nghệ mới, thông qua các nguồnlực từ các chương trình mục tiêu, các dự án, … Hầu hết giáo viêndạy nghề còn trẻ, nhiệt tình, được đào tạo chính quy, có phẩm chất đạođức tốt, tôn trọng và yêu nghề. Tuy nhiên, so với yêu cầu trong giai đoạnmới thì đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thiếu về số lượng (chuẩn quyđịnh năm 2008 tỷ lệ giáo viên/học sinh phải là 1/23, đến năm 2010 phải là1/20), hạn chế về tay nghề, trình độ (chuẩn quy định đến năm 2010 phải có 10%đạt trình độ sau đại học), về kinh nghiệm thực tế sản xuất, về kết hợp giữagiảng dạy lý thuyết và thực hành, … Đối với đào tạo trình độ trung cấp nghề,năm học 2008 - 2009 chỉ có 26 giáo viên, còn thiếu 16 giáo viên so với yêu cầu;đặc biệt, thiếu giáo viên thuộc ngành nghề xây dựng, điện tử công nghiệp, hàn,kỹ thuật máy lạnh và điều hoà không khí, kỹ thuật lắp đặt điện và điều khiểntrong công nghiệp. Đến năm 2010 sẽ cần khoảng 60 giáo viên dạy nghề.

Cán bộ quản lý ở các cơ sở dạy nghề về cơ bản được bố trí phùhợp với cơ cấu tổ chức của từng đơn vị, có 77,8% cán bộ quản lýcó trình độ từ cao đẳng trở lên. Đại bộ phận cán bộ quản lý cókinh nghiệm, phát huy được năng lực chuyên môn; lập được kế hoạch hoạt độnghằng năm, hằng tháng; tổ chức điều hành công việc có hiệu quả; tổ chức kiểmtra, giám sát định kỳ đúng theo quy định. Tuy nhiên, một số cán bộ quản lý chưathường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ để đáp ứng với yêu cầu mới hiện nay dođó tầm nhìn chiến lược còn hạn chế.

2. Chương trình, giáo trình:

Trước tháng 5 năm 2008, Trường trung cấp Nghề Ninh Thuận đã chủ động xâydựng chương trình đào tạo trên cơ sở chương trình khung tổng thể của Bộ, thamkhảo kinh nghiệm của nhiều trường bạn ở ngoài tỉnh và năng lực của giáo viêntại trường; đã xây dựng được 10 bộ chương trình dạy nghề trình độ Trung cấpnghề (điện công nghiệp, điện dân dụng, điện tử công nghiệp, điện tử dân dụng,kỹ thuật máy lạnh và điều hoà không khí, kỹ thuật lắp đặt điện và điều khiểntrong công nghiệp, cắt gọt kim loại, kỹ thuật hàn, công nghệ ôtô, may và thiếtkế thời trang) và 15 chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và thườngxuyên.

Đến tháng 5 năm 2008, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đãban hành đầy đủ chương trình khung chi tiết về 48 ngành nghề đào tạo thống nhấttrên toàn quốc, đảm bảo tính liên thông với các cấp trình độ đào tạo.

Khó khăn hiện nay là cần phải xây dựng chương trình đào tạo nghề ngắn hạnchuẩn mực để phục vụ đào tạo trình độ sơ cấp nghề, đặc biệt là dạy nghề cho laođộng nông thôn, phù hợp với nhu cầu của xã hội, của người sử dụng lao động.Điều này đòi hỏi các cơ sở dạy nghề phải năng động, sáng tạo, tổ chức nhữngcuộc hội thảo về phân tích nghề và kinh nghiệm xây dựng chương trình nghề ngắnhạn.

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Kết quả đạt được: nhận thức của các cấp, các ngành và củatoàn xã hội về dạy nghề đã có bước chuyển biến tích cực. Dạynghề đã từng bước đáp ứng với nhu cầu của thị trường lao động, gắnkết với các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo,xuất khẩu lao động và các mục tiêu xã hội khác. Mạng lưới cơ sở dạynghề của tỉnh ngày càng phát triển, hiện nay có 05 cơ sở dạy nghề công lập đanghoạt động, 01 cơ sở dạy nghề tư thục đã được thành lập với kinh phí là 18 tỷ,có 3 Trung tâm Dạy nghề cấp huyện được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hộiđưa vào danh sách những cơ sở dạy nghề được thụ hưởng dự án nâng cao năng lựcđào tạo nghề thuộc chương trình mục tiêu quốc gia. Trường trung cấp Nghề NinhThuận ngày càng được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở vật chất vìquy mô đào tạo ngày càng tăng, số lượng ngành nghề nhiều, phù hợp với điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Dạy nghề ngắn hạn cho lao động nôngthôn được dư luận xã hội đánh giá cao, góp phần tạo cơ hội việc làm cho ngườilao động, tăng thêm thu nhập ổn định cuộc sống, từng bước thực hiện xoá đóigiảm nghèo.

2. Tồn tại, hạn chế:

Công tác đào tạo nghề của tỉnh nhà còn nhiều bất cập, chưa đa dạng hoá cácloại hình đào tạo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Quymô phát triển chưa đồng bộ với chất lượng đào tạo do đó chưa cung cấp đượcnguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệnđại hoá tỉnh nhà. Các cơ sở dạy nghề ngoài công lập chưa có, chưa thực hiệntốt chính sách xã hội hoá về dạy nghề để phát huy mọi nguồn lực trong xã hộigóp phần phát triển sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp.

Máy móc, thiết bị dạy nghề được trang bị nhiều đợt từ năm 2003 đến naynên không có tính đồng bộ, ít nhiều có ảnh hướng đến chất lượng đàotạo, đặc biệt là các nghề có tính công nghệ - kỹ thuật cao. Chươngtrình, giáo trình chậm đổi mới để phù hợp với yêu cầu thực tế sảnxuất. Đội ngũ giáo viên vừa thiếu về số lượng, vừa thiếu về kinh nghiệmsản xuất, một số giáo viên chỉ dạy được lý thuyết mà không dạy được thực hànhhoặc ngược lại, chỉ dạy được thực hành mà không đủ chuẩn để dạy lý thuyết.

Các cơ sở dạy nghề chưa kết hợp với các doanh nghiệp trong việc cung cấpthông tin về nhu cầu đào tạo nghề, về việc tận dụng trang thiết bị và cácchuyên gia tại nơi cơ sở sản xuất, về việc phối hợp xây dựng chương trình, giáotrình, … nên phần lớn học viên sau khi tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu củacác doanh nghiệp.

Mạng lưới dạy nghề chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nghề hiện nay của thịtrường lao động Ninh Thuận.

Phần II

MỤC TIÊU,NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐÀO TẠO NGHỀ GIAIĐOẠN 2008 - 2010

I. MỤC TIÊU

Phấn đấu thực hiện Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XI: đến năm 2010nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40%, trong đó lao động qua đào tạonghề là 25%. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng laođộng trong các ngành công nghiệp - xây dựng lên 13,4%, lao động ngànhthương mại - dịch vụ 23,2% và giảm dần lao động ngành nông lâm thủy sảnxuống còn 63,4%; cụ thể:

- Dạy nghề cho khoảng 24.700 người; trong đó đào tạo trình độ trungcấp nghề khoảng 2.000 người để phục vụ cho các khu, cụm công nghiệp[2];

- Phấn đấu số lao động được đào tạo nghề đều có việc làm sau khi tốtnghiệp;

- Tập trung đào tạo nghề cho các ngành:

+ Ngành công nghiệp - xây dựng: 11.695 người.

+ Ngành nông lâm thủy sản: 4.085 người.

+ Ngành thương mại - dịch vụ: 8.920 người;

- Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở II Trường trung cấp Nghề và 3Trung tâm Dạy nghề cấp huyện.

II. NHIỆM VỤ

- Đa dạng hoá các loại hình đào tạo: đào tạo theo mô hình liênkết, mô hình đơn đặt hàng, mô hình vừa học vừa làm, mô hình kết hợp giữacơ sở dạy nghề và doanh nghiệp, …

- Tăng quy mô đào tạo nghề hằng năm, chú trọng đến cơ cấu ngànhnghề đào tạo phù hợp với nhu cầu lao động trong các ngành côngnghiệp, xây dựng, nông lâm thủy sản, thương mại và dịch vụ. Tăng dầntỷ trọng lao động các ngành công nghiệp - xây dựng từ 7,9% năm 2005 lên13,4% vào năm 2010, thương mại - dịch vụ từ 21,3% năm 2005 lên 23,2% vàonăm 2010 và giảm cơ cấu lao động nông nghiệp từ 70,8% vào năm 2005xuống còn 63,4% vào năm 2010;

- Tập trung đào tạo các ngành nghề cho các khu - cụm công nghiệpvà các ngành kinh tế mũi nhọn có sử dụng số lượng lao động lớn; hỗtrợ đào tạo các nghề phục vụ cho lao động nông nghiệp nông thôn và phục vụcho xuất khẩu lao động …;

- Phát triển mạng lưới dạy nghề theo hướng đẩy mạnh xã hộihoá, phát huy mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp, đặcbiệt là lĩnh vực dạy nghề các cấp trình độ phục vụ nguồn nhân lực cho sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá;

- Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đảm bảo về chấtlượng. Thực hiện đúng chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Nói không vớiđào tạo không đạt chuẩn”. Về số lượng, phấn đấu đến năm 2010 đạt tỷ lệ 1 giáoviên/20 học sinh. Về chất lượng, 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn, 10% giáoviên đạt trình độ sau đại học. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng;gắn chặt giảng dạy lý thuyết với thực hành sản xuất, thực hiện đúng nguyênlý giáo dục “học đi đôi với hành”;

- Nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dạynghề đáp ứng với yêu cầu trong giai đoạn mới; thực hiện luân chuyển, bố trícán bộ đúng với phẩm chất, trình độ chuyên môn. Tăng cường công tác quản lýNhà nước về đào tạo nghề, thực hiện kiểm định chất lượng đào tạo củacác cơ sở dạy nghề theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

- Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng giáo trình dạy nghề theochương trình khung chi tiết mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã banhành vào tháng 5 năm 2008. Nội dung giảng dạy phải phù hợp với trang thiết bịhiện có, bảo đảm tính vừa sức với đối tượng học sinh, tính hiện đại và khoa họcđáp ứng với thực tế sản xuất, …

III. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

Để thực hiện đạt các chỉ tiêu mà Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lầnthứ XI đề ra đối với lĩnh vực dạy nghề, đề án tăng cường năng lực đào tạonghề giai đoạn 2008 - 2010 cần tập trung thực hiện các nội dung sau đây:

1. Phát triển quy mô đào tạo nghề: giai đoạn 2008 - 2010 phải đạt chỉtiêu dạy nghề là 24.700 người, số lượng đào tạo được phân bổ cho mỗi năm(xem chi tiết tại Phụ lục 3). Tập trung đào tạo các nghề theo đơnđặt hàng của từng doanh nghiệp; đồng thời khảo sát dự báo nhu cầu laođộng tại các cụm, khu công nghiệp để có kế hoạch đào tạo gắn với đầura giải quyết việc làm cho người lao động, hỗ trợ đào tạo lao động nôngthôn nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vựckhác.

2. Đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị:

a) Mở rộng Trường trung cấp Nghề Ninh Thuận: xây dựng mới cơ sở II choTrường trung cấp Nghề để nâng quy mô đào tạo trình độ trung cấp nghề hằng nămtừ 1.300 - 1.500 học sinh với 17 nhóm nghề (xem chi tiết tại Phụ lục 4). Chủtịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã có Quyết định số 659/QĐ-UBND ngày 13tháng 3 năm 2008 về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình cơ sở IITrường trung cấp Nghề Ninh Thuận với tổng mức đầu tư là 87.860 triệu đồng,trong đó chi phí thiết bị là 34.086 triệu đồng;

b) Xây dựng Trung tâm dạy nghề 3 huyện:

Chức năng của các trung tâm dạy nghề cấp huyện là đào tạo trình độ sơ cấpnghề cho lao động ở địa phương. Quy mô đào tạo hằng năm của mỗi trung tâmkhoảng 300 - 400 học viên, tập trung vào một số nhóm nghề như: sửa chữa, lắpđặt điện - điện tử, cơ điện lạnh, kỹ thuật tiện - gò - hàn, tin học văn phòng,may công nghiệp và một số ngành nghề phù hợp với từng địa phương; cụ thể:

- Trung tâm Dạy nghề huyện Ninh Hải: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cóQuyết định số 2921/QĐ-UBND ngày 23 tháng 7 năm 2007 về việc phê duyệt lại dự ánđầu tư xây dựng Trung tâm dạy nghề huyện Ninh Hải. Tổng mức đầu tư là 12.337triệu, trong đó chi phí thiết bị là 5.423 triệu.

- Trung tâm Dạy nghề huyện Ninh Sơn: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cóQuyết định số 4354/QĐ-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2007 về việc phê duyệt lại dựán đầu tư xây dựng Trung tâm dạy nghề huyện Ninh Sơn và Quyết định số 5319/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2007 về việc điều chỉnh nội dung dự án đầu tưxây dựng Trung tâm dạy nghề huyện Ninh Sơn. Tổng mức đầu tư là 11.631 triệu,trong đó chi phí thiết bị là 5.423 triệu.

- Trung tâm Dạy nghề huyện Ninh Phước: đang xây dựng Đề án với tổngmức đầu tư là 13.633 triệu, trong đó chi phí thiết bị là 5.423 triệu.

3. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý: lậpkế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý, đảmbảo đúng chuẩn quy định do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.

a) Kinh phí đào tạo:

ĐVT: triệu đồng

STT

Nội dung

Tổng số

Trong đó

Ghi chú

Năm 2009

Năm 2010

1

2

3

Đào tạo cao học

Đào tạo đại học

Bồi dưỡng nâng cao

500

840

110,4

250

420

55,2

250

420

55,2

Tổng cộng

1.450,4

725,2

725,2

b) Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng:

ĐVT: người

STT

Nội dung

Tổng số

Năm 2009

Năm 2010

Ghi chú

I

1

2

Trường Trung cấp nghề

Giáo viên:

- Cao học

- Đại học

- Bồi dưỡng nâng cao

Cán bộ quản lý:

- Cao học

- Đại học

56

8

8

40

6

2

4

28

4

4

20

3

1

2

28

4

4

20

3

1

2

II

Các cơ sở dạy nghề khác

- Đại học

- Bồi dưỡng nâng cao

8

2

6

4

1

3

4

1

3

4. Xây dựng chương trình, giáo trình: trên cơ sở chương trình khung chi tiếtmà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành vào tháng 5 năm 2008 theoQuyết định số 01/QĐ-BLĐTBXH ngày 04 tháng 01 năm 2007, Trường trung cấp Nghềphải tiến hành biên soạn giáo trình trình độ trung cấp nghề lưu hành nội bộ chocác ngành nghề đã đăng ký phù hợp với trang thiết bị hiện có, tình hình đặcđiểm của địa phương. Các cơ sở dạy nghề có đào tạo trình độ sơ cấp nghề phảitiến hành xây dựng chương trình phù hợp với hình thức đào tạo nghề ngắn hạn,phù hợp với nhu cầu của xã hội, của người sử dụng lao động. Cần tổ chức các hộiđồng thẩm định để phê duyệt chương trình, giáo trình.

a) Trường trung cấp Nghề: tổng kinh phí là 420 triệu, bao gồm:

- Kinh phí xây dựng chương trình, mua sách tham khảo và biên soạngiáo trình lưu hành nội bộ trình độ sơ cấp nghề.

- Kinh phí mua sách tham khảo và biên soạn giáo trình lưu hành nội bộtrình độ Trung cấp nghề;

b) Đối với các Trung tâm dạy nghề cấp huyện: tổng kinh phí là 100triệu.

Bao gồm: kinh phí xây dựng chương trình, mua sách tham khảo và biênsoạn giáo trình lưu hành nội bộ trình độ sơ cấp nghề.

5. Hỗ trợ dạy nghề trình độ sơ cấp nghề, dạy nghề thường xuyên:

Giai đoạn 2008 - 2010 đào tạo 22.700 trình độ sơ cấp nghề và dạy nghềthường xuyên (ngắn hạn) cho các đối tượng là lao động nông thôn, thanh niên dântộc thiểu số, người tàn tật.

Kinh phí dự kiến: 6.500 triệu (trong đó: năm 2008 là 2.000 triệu, năm 2009là 2.200 triệu, năm 2010 là 2.300 triệu).

6. Chi phí giám sát, đánh giá: kinh phí dự kiến: 200 triệu (trong đó: năm2008 là 50 triệu, năm 2009 là 70 triệu, năm 2010 là 80 triệu).

IV. NHU CẦU VỐN, CƠ CẤU NGUỒN VỐN VÀ PHÂN KỲ ĐẦU TƯ

1. Tổng nhu cầu vốn đầu tư: 111.249 triệu, bao gồm:

a) Vốn xây dựng cơ bản[3]: 75.106 triệu,trong đó:

Phần xây dựng cơ bản của các cơ sở dạy nghề là:

+ Cơ sở II Trường trung cấp Nghề: 36.948 triệu.

+ Trung tâm dạy nghề Ninh Phước: 5.765 triệu.

+ Trung tâm dạy nghề Ninh Hải: 5.311 triệu.

+ Trung tâm dạy nghề Ninh Sơn: 4.200 triệu.

Cộng: 52.224 triệu;

b) Chi phí trang thiết bị: 50.355 triệu;

c) Xây dựng chương trình, giáo trình: 520 triệu;

d) Đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý: 1.450triệu;

đ) Hỗ trợ dạy nghề trình độ sơcấp nghề, dạy nghề thường xuyên: 6.500 triệu;

e) Chi phí giám sát, đánh giá: 200 triệu.

(Chi tiết xem ở phụ lục 6)

2. Nguồn kinh phí:

- Vì tỉnh đang gặp khó khăn về kinh phí nên ngân sáchtỉnh đầu tư 50% phần xây dựng cơ bản của mục a: 52.224 triệu x 50% =26.112 triệu;

- Ngân sách Trung ương đầu tư 50% phần xây dựng cơ bản cònlại của mục a và 100% từ mục b đến e, tổng cộng là: 85.137 triệu.

3. Thời gian thực hiện:

* Năm 2008:

- Khởi công xây dựng cơ sở II Trường trung cấp Nghề các hạng mục xây lắptheo Quyết định 659/QĐ-UBND ngày 13 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh;

- Hoàn tất dự án đầu tư Trung tâm dạy nghề Ninh Phước.

* Năm 2009:

- Tiếp tục xây dựng công trình cơ sở II Trường trung cấp Nghề;

- Xây dựng Trung tâm Dạy nghề Ninh Hải, Ninh Sơn và Ninh Phước.

* Năm 2010:

- Hoàn thành các hạng mục xây lắp cơ sở II Trường trung cấp Nghề;

- Hoàn thành công trình Trung tâm dạy nghề Ninh Hải, Ninh Sơn và NinhPhước.

V. GIẢI PHÁP

Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên cần thực hiện đồng bộ nhiều giảipháp, trong đó cần tập trung một số giải pháp sau đây:

1. Tuyên truyền và quán triệt đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảngvà chính sách của Nhà nước về dạy nghề để mọi người kể cả các cán bộ quản lýcó nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việcdạy nghề theo các cấp trình độ, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, một trong những nhân tố quyết định đối với sự nghiệp công nghiệphoá - hiện đại hoá đất nước; góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao độnglập thân, lập nghiệp, ổn định cuộc sống; góp phần phát huy mọi nguồn lực đểphát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Tích cực chuyển đổi hoạt động dạy nghề từ hướng cung sanghướng cầu theo ba cấp độ trình độ, đáp ứng yêu cầu của thị trường laođộng, đảm bảo cân đối giữa đào tạo và sử dụng. Phối hợp chặt chẽ giữacác cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp để phát huy thế mạnh của các bên. Xây dựngcơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp và các cơ sởdạy nghề.

3. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá dạy nghề; phát triển các cơ sở dạy nghềdân lập, tư thục; ban hành chính sách và cụ thể hoá các vấn đề có liên quannhư: chính sách quỹ đất để xây dựng cơ sở dạy nghề, chính sách thuế, chínhsách tín dụng, …; thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào sự nghiệp pháttriển dạy nghề, kêu gọi các nhà đầu tư vào Ninh Thuận.

4. Tạo điều kiện để xây dựng các Trung tâm Dạy nghề cấp huyện theo đúngtiến độ để các trung tâm này trở thành các vệ tinh cho Trường trung cấp NghềNinh Thuận trong việc đào tạo trình độ sơ cấp nghề cho lực lượng lao động nôngthôn, còn Trường trung cấp Nghề làm nhiệm vụ chính là đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao, tiến tới nâng cấp thành trường cao đẳng nghề trong tương lai.

5. Nâng cao chất lượng dạy nghề bằng cách tác động mạnh mẽ vào các yếu tốnhư: thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý;tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị; tích cực xây dựng và biênsoạn chương trình, giáo trình cho các cấp trình độ, … đặc biệt có chính sáchthu hút giáo viên dạy nghề phục vụ công tác đào tạo nghề tại địa phương.

6. Tăng ngân sách đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập, hỗ trợkinh phí cho các cơ sở dạy nghề dân lập, tạo mọi điều kiện cho các cơ sở dạynghề thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá.

7. Gắn chương trình đào tạo nghề với chương trình quốc gia giải quyết việclàm, chương trình xoá đói giảm nghèo. Tích cực triển khai chính sách dạy nghềlao động nông thôn và phát triển các làng nghề truyền thống. Tăng cường dạynghề cho xuất khẩu lao động.

Phần III

TỔ CHỨCTHỰC HIỆN

1. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội:

- Theo dõi và tham mưu trực tiếp cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc triểnkhai thực hiện Đề án;

- Lập kế hoạch hằng năm để triển khai thực hiện Đề án, tập trung thực hiệncác giải pháp đã đề ra;

- Quản lý chất lượng đào tạo nghề, đặc biệt là chương trình, giáo trình,trang thiết bị. Tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghềhằng năm;

- Tăng cường củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề.

2. Ủy ban nhân dân huyện, thành phố: căn cứ nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội của địa phương, xây dựng kế hoạch đào tạo nghề ở các cấp trình độ đểphát triển nguồn nhân lực, quản lý các Trung tâm dạy nghề theo quy định và phâncấp của tỉnh, phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai thựchiện Đề án.

3. Sở Kế hoạch Đầu tư và Sở Tài chính: hằng năm cân đối ngân sách đầu tưcho đào tạo nghề trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

4. Các ngành chức năng của tỉnh: phối hợp với Sở Lao động -Thương binh vàXã hội thực hiện Đề án “Tăng cường năng lực đào tạo nghề” của tỉnh giai đoạn2008 - 2010 theo đúng quy định.

5. Các cơ sở dạy nghề: căn cứ nhiệm vụ của đơn vị, xây dựngkế hoạch hằng năm về nhu cầu phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồidưỡng đội ngũ giáo viên, xây dựng, chương trình giáo trình cho từng năm học;kết hợp các huyện, thành phố tổ chức triển khai dạy nghề cho các đối tượng đặcthù./.

[1] Chưa tính rèm cửa và hệ thống điện là403,29 triệu.

[2] Theo Trung tâm Khuyến công dự báo nhu cầulao động của các ngành công nghiệp bình quân hằng năm là 5300 người (giai đoạn2005-2010). Nếu tính lao động có trình độ là 12% thì hằng năm cần đào tạokhoảng 636 người.

[3] Chưa tính các chi phí khác.