SẮC LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 29NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 1947

CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ

Chiểu Sắc lệnh số 64 ngày 8tháng 3 năm 1946 tổ chức các cơ quan lao động;

Chiểu Nghị định số 1 ngày 1tháng 10 năm 1945 sửa đổi bởi Nghị định số 5 ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Bộtrưởng Bộ Lao động về thời hạn báo trước khi thải hồi công nhân;

Chiểu Nghị định số 2 ngày 1tháng 10 năm 1945 sửa đổi bởi Nghị định số 4 ngày 12 tháng 10 năm 1945 của Bộtrưởng Bộ Lao động về phụ cấp thâm niên;

Chiểu Sắc lệnh số 55 ngày 20tháng 4 năm 1945 về việc cho các công nhân được nghỉ mà được ăn lương ngày lễlao động mùng 1 tháng 5;

Chiểu lời đề nghị của Bộ trưởngBộ Lao động;

Sau khi các nguyên tắc đã đượcQuốc hội thông qua;

Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp,

RASẮC LỆNH:

Chương thứnhất

TỔNG LỆ

Điều thứ nhất

Mục đích Sắc lệnh này là để quiđịnh trong toàn cõi Việt Nam những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủnhân, người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại cácxưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do.

Riêng chế độ thi hành cho côngnhân đồn điền, công nhân nông nghiệp, các người làm với tư gia (gia nhân), côngnhân làm việc cho Chính phủ sẽ do những Sắc lệnh quy định sau.

Điều thứ 2

Phàm công việc cưỡng bách thìcấm hẳn, trừ khi có lệnh trưng tập của Chính phủ.

Công việc cưỡng bách là nhữngcông việc người ta không thuận làm mà bị ép phải làm.

Điều thứ 3

Cấm hẳn những sự mộ nhân côngtheo cách thức dụ dỗ hoặc cưỡng bách.

Điều thứ 4

"Công nhân" là ngườilàm thuê với một người chủ để lấy tiền và thuộc quyền điều khiển của người chủ.

Công nhân gồm có: thợ, gia nhân,người làm công và phu.

Điều thứ 5

"Thợ" là những ngườicó nghệ, làm việc thủ công hay việc gì khác cho chủ.

Điều thứ 6

"Gia nhân" là nhữngngười mà chủ thuê để giúp việc trong nhà.

Điều thứ 7

"Người làm công" lànhững người không làm việc thủ công mà chủ mượn để giúp mình về công việcthương mại, kỹ nghệ, nông lâm hay nghề tự do.

Điều thứ 8

"Phu" là người làmviệc bằng tay mà không chuyên một nghề rõ rệt.

Điều thứ 9

"Nhà tiểu công nghệ"(hay thủ công nghệ) là người dùng thủ Công làm lấy cho mình, hay làm thuê chongười khác hoặc làm ở nhà mình, hoặc làm ở nơi khác, bất cứ dùng máy hay không,có cửa hàng, biển hiệu hay không, chuyên bán những hoá phẩm tự mình làm ra,hoặc làm một mình, hoặc có vợ con, thợ bạn hay thợ học nghề giúp việc.

Số thợ bạn và thợ học nghề củamột nhà thủ công nghiệp hạn định không bao giờ được quá mười người.

Điều thứ 10

"Thợ học nghề" làngười mà chủ đã nhận dạy cho biết nghề và đã cam đoan làm cho chủ, tuỳ theonhững điều kiện và thời hạn mà đôi bên đã thoả thuận.

Chương thứhai

SỰ HỌC NGHỀ

Điều thứ 11

Tính cách "thợ họcnghề" định bởi:

1- Tuổi của người tình nguyệnhọc nghề

2- Sự thuận nhận của chủ cho họcnghề.

Điều thứ 12

Không được dùng trẻ con dưới 12tuổi (tính theo dương lịch) làm thợ học nghề. Đến 18 tuổi phải kể là thợ chínhthức, trừ những trường hợp nói ở Điều thứ 14 dưới đây.

Điều thứ 13

Những thợ học nghề từ 16 đến 18tuổi không có khế ước, hay có khế ước mà không ấn định học nghề, nếu tự xétmình đã lành nghề mà chủ không chịu công nhận như vậy, có thể xin Ty Lao độngđịa phương đưa ra một hội đồng chuyển nên khảo xét. Nếu được hội đồng công nhậnđã đủ tư cách, thì chủ phải nhận là đã thành thợ.

Qui tắc việc lập hội đồng khảoxét này do Bộ trưởng Bộ Lao động định sau.

Điều thứ 14

Chủ cũng phải đưa ra hội đồngkhảo xét nói trên những người học nghề, không có khế ước, quá 18 tuổi mà chủkhông công nhận là lành nghề.

Nếu hội đồng xét quả thật chưalành nghề, thì những người ấy chưa được coi là thợ.

Những người học nghề mặc dầu quá18 tuổi mà chưa học hết thời hạn đã định trong khế ước, cũng chưa được kể làthợ.

Những người quá 18 tuổi, muốnhọc nghề và được chủ thuận nhận, cũng phải xin phép hội đồng khảo xét nói trên.Hội đồng này sẽ cấp giấy phép nếu xét không có sự gian lậu.

Điều thứ 15

Trừ các xưởng tiểu công nghệ, Sốthợ học nghề trong xí nghiệp không được quá một phần tư tổng số thợ kể cả thợhọc nghề.

Điều thứ 16

Bắt buộc các hãng kỹ nghệ, hầmmỏ hay thương điếm nào dùng từ 30 người thợ chuyên nghiệp trở lên phải dậy mộtsố thợ học nghề bằng 1 phần 10 số thợ chuyên nghiệp.

Tuy nhiên, nếu xí nghiệp nàomuốn xin miễn điều bắt buộc này thì phải làm đơn, nói rõ lý lẽ, gửi đến ty Laođộng địa phương. Ty này xét song sẽ trình bầy ý kiến lên Bộ trưởng Bộ Lao độngđể định đoạt, sau khi hỏi ý kiến các cơ quan chuyên môn.

Điều thứ 17

Nếu số thợ học nghề quá 30người, thì phải mở lớp tu nghiệp.

Chương trình những lớp học nàysẽ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ấn định.

Chương thứ3

KHẾ ƯỚC LÀM CÔNG

TIẾT THỨ NHẤT

TỔNG LỆ

Điều thứ 18

Khế ước làm công phải theo dânluật. Chủ và công nhân có thể giao kết bằng miệng, hoặc ký kết trên mặt giấy.Khi viết thành giấy, thì được miễn tem và thuế trước bạ. Khế ước có thể lặptheo tục lệ địa phương. Nếu chỉ giao kết bằng miệng thì như chủ với công nhânđã theo những điều khoản ấn định trong Sắc lệnh này và những tục lệ riêng củanơi sở tại.

Điều thứ 19

Chủ chỉ có thể thuê công nhântrong một thời hạn, hay để làm một việc gì nhất định.

Điều thứ 20

Nếu như không có ước định trước,thời hạn làm việc sẽ theo tục lệ nơi sở tại.

Điều thứ 21

Các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ vàthương điếm dùng quá 25 công nhân phải lập một bản nội quy.

Bản nội qui định thể lệ về cáchtổ chức làm việc, về việc giữ trật tự, kỷ luật, vệ sinh và bảo an trong sở, vềcách tuyển người làm, cách tính và trả tiền công, về thời hạn báo trước khi bịsa thải hay xin thôi vệc, về điều kiện nghỉ hàng tuần, v.v...

Điều thứ 22

Phải đem trình các nội qui ấycho Sở thanh tra lao động duyệt y. Mỗi khi có sửa đổi điều gì, cũng phải đemduyệt y lại. Những điều khoản của nội qui đưa trình phải hợp với luật lệ laođộng hiện hành.

Nội qui đã duyệt y phải niêm yếtbằng tiếng Việt Nam tại nơi làm việc, cửa hàng, nơi trả tiền công và nơi tuyểnngười làm.

Điều thứ 23

Đối với việc làm công không địnhhạn thì chủ và thợ, bất cứ lúc nào, cũng có thể tự mình thôi được. Nhưng phảibáo trước trong thời hạn và trường hợp do Bộ trưởng Bộ Lao động ấn định.

Điều thứ 24

Bên nào tự ý bãi khế ước có thểphải bồi thường cho bên kia.

Tiền bồi thường về sự tự ý bãikhế ước khác hẳn với tiền bồi thường vì không tuân hạn báo trước. Việc đòi tiềnbồi thường này sẽ đưa ra Toà sơ cấp hay đệ nhị cấp tuỳ theo thẩm quyền địnhtrong hệ luật. Toà án có thể điều tra về trường hợp của sự quá hạn bãi bỏ khếước ấy. Bất cứ trong trường hợp nào, bản án cũng phải ghi rõ duyên cớ của bênbãi khế ước đã viện ra.

Khi có sự thay đổi về phươngdiện pháp luật của xí nghiệp, nhất là khi có sự kế thừa, bán chác, hợp vốn, cảicách hình thức, v.v... thì chủ mới phải thi hành cho xong khế ước của chủ cũ.

Muốn kiện về việc bãi khế ướcthì phải nộp đơn trong hạn 6 tháng kể từ ngày bãi khế ước.

Chủ hãng nào thôi không kinhdoanh nữa, vẫn phải tuân lệ báo trước.

Điều thứ 25

Chủ và thợ, không được cam kếttrước sẽ không đòi những tiền bồi thường nói trong Điều thứ 24. Về phương diệnpháp luật, những tiền bồi thường ấy, đối với công nhân, được coi như tiềnlương. Những chủ nợ, kể cả chủ người công nhân bị thải, chỉ được trừ nợ theonhư dân luật.

Những tiền bồi thường đó cũngđược hưởng ưu tiên quyền do dân luật ấn định cho lương công nhân.

Điều thứ 26

Khi một công nhân tự ý bãi khếước một cách quá lạm để đi làm với một chủ khác thì người chủ mới này phải liênđới với người công nhân ấy bồi thường cho người chủ cũ trong 3 trường hợp sauđây:

1- Khi xét đích là người chủ mớicó can dự vào sự thôi việc

2- Khi người chủ mới rủ ngườicông nhân về làm với mình, tuy đã biết người ấy đương có khế ước làm với chủkhác.

3- Khi người chủ mới cứ mượnngười công nhân mặc dầu biết khế ước của người này với chủ cũ chưa hết hạn.

Tuy nhiên trong trường hợp thứba này người chủ mới không phải chịu trách nhiệm, nếu, đối với khế ước không cóđịnh hạn, khi biết tin thì hạn báo trước đã qua.

Điều thứ 27

Công nhân thôi làm cho chủ, hayđã hết hạn khế ước, có quyền xin chủ cấp cho một tờ chứng chỉ biên ngày đếnlàm, ngày thôi việc và công việc đã làm. Trong giấy chứng, chủ không được phêbình điều gì có hại đến sinh kế của công nhân. Nếu chủ không chịu cấp giấy ấy,công nhân có thể đòi bồi thường.

Giấy chứng nói trên được miễntem và trước bạ.

Điều thứ 28

Khi chủ hay một công nhân bị gọira chịu huấn luyện quân sự, hay làm phận sự binh bị trong một thời hạn, thì khếước làm công không được vì lẽ ấy mà bãi bỏ.

Điều thứ 29

Nếu vì một duyên cớ chính đángmà muốn bãi khế ước thì thời gian chịu huấn luyện quân sự hay làm phận sự binhbị không được tính vào thời hạn báo trước.

Trừ khi công việc nói trong khếước là một công việc tạm thời và đã hết hạn trong lúc chủ hay công nhân đươngchịu huấn luyện quân sự hoặc làm phận sự binh bị.

Điều thứ 30

Bên nào không tuân theo hai Điều28 và 29 phải bồi thường cho bên bị thiệt hại.

Điều thứ 31

Chủ không được phép bãi khế ướccủa người công nhân đàn bà nào đình việc luôn 8 tuần lễ trong thời kỳ thai sản.Công nhân đàn bà đau ốm vì có thai, hay đau ốm vì sinh đẻ có thể nghỉ lâu hơnthời hạn nói trên, nhưng không quá 12 tuần lễ. Chủ cũng không được phép vì thếmà bãi khế ước. Trái lệnh này, người công nhân đàn bà có quyền đòi bồi thường.

Công nhân đàn bà phải báo trướccho chủ biết duyên cớ mình nghỉ việc: chủ có thể nhờ thầy thuốc xét xem có đíchthực không.

Khế ước nào trái với lệ nói trênđều vô hiệu.

TIẾT THỨ HAI

SỰ BAO KHOÁN

(Nóivề cai khoán)

Điều thứ 32

"Cai khoán" là ngườithầu lại với người thầu khoán chính, người chủ công nghệ, v.v..., để cung cấpcông nhân, vật liệu hay để làm một công tác đã định.

Người cai khoán phải đối đãi vớicông nhân đúng theo các điều khoản định trong Sắc lệnh này.

Điều thứ 33

Chủ có bổn phận bắt buộc caikhoán niêm yết tại các xưởng, cửa hàng hay công trường những điều này:

a) Lương tối thiểu hiện thi hànhtrong miền đó,

b) Lương mà cai khoán trả chocông nhân theo từng hạng hay từng việc làm.

Nếu những nơi làm việc nói trênkhông thuộc của chủ chính thì người cai khoán, ngoài 2 điều nói trên, phải yếtthêm tên và chỗ ở của người chủ chính. Người cai khoán phải nộp cho người chủchính một tờ nhận thực đã thi hành các khoản trên. Người chủ chính phải gửi mộtbản sao lại cho ty Lao động địa phương.

Điều thứ 34

Người chủ chính phải thế ngườicai khoán trả cho công nhân tiền lương, các khoản phụ cấp, tiền bồi thường màhọ được hưởng theo SSắc lệnh này, nếu người cai khoán không thể trả được.

Người chủ chính phải chịu tráchnhiệm theo Bộ luật về việc người cai khoán không thi hành những điều bắt buộctrong Sắc lệnh này.

Nếu có công nhân nào khiếu nạingười cai khoán, thì người chủ chính phải báo cho Ty Lao động địa phương biết.

Điều thứ 35

Những xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ,thương điếm và những công trường nào dùng cai khoán đều phải có bản danh sáchvà địa chỉ những người ấy để trình cho nhân viên kiểm soát của Ty Lao động.

Điều thứ 36

Cấm hẳn chế độ ăn công làmkhoán. Theo chế độ này người công nhân bắt buộc phải làm xong một công việc đãđịnh nới được cả số lương hàng ngày.

TIẾT THỨ BA

NÓI VỀ TẬP HỢP KHẾ ƯỚC

Điều thứ 37

Tập hợp khế ước là những khế ướclập ra để ấn định những quy tắc làm việc và tiền lương chung cho từng nghề,từng xí nghiệp hay từng địa phương, do sự thoả thuận của chủ hay đại biểu chủvà công nhân hay đại biểu công nhân.

Điều thứ 38

Đại biểu công đoàn không cần cógiấy uỷ quyền riêng của đoàn viên cũng có thể thay mặt họ mà ký tập hợp khế ước.

Nếu không có công đoàn, thì đạibiểu công nhân phải có giấy uỷ quyền rõ ràng của những người mình thay mặt, mớicó thể ký tập hợp khế ước được. Đại biểu chủ cũng phải có giấy uỷ quyền củanhững người chủ mà mình thay mặt mới ký tập hợp khế ước được.

Điều thứ 39

Tập hợp khế ước bắt buộc phảiviết thành giấy, nếu không, sẽ vô hiệu. Phải đưa nộp 2 bản chính tập hợp khếước đã ký: một bản tại phòng lục sự toà án tỉnh, một bản tại Ty Lao động tỉnh,ở tại tỉnh mà hai bên đã ký kết.

Phòng lục sự sẽ phát biên lai.Hai mươi bốn giờ sau ngày phòng lục sự đã nhận được bản chính, tập hợp khế ướcsẽ có hiệu lực.

Điều thứ 40

Trong những tập hợp khế ước kýkết giữa đại biểu chủ và công nhân nhiều xí nghiệp phải định rõ phạm vi thihành của bản giao kèo ấy. Bằng không, tập hợp khế ước sẽ thi hành trong khu vựcthẩm quyền của toà án mà phòng lục sự đã nhận được một bản chính.

Tập hợp khế ước nào sẽ thi hànhtrong phạm vi nhiều tỉnh, thì phải nộp theo cách thức ở Điều 39 tại phòng lụcsự và Ty Lao động những tỉnh ấy.

Điều thứ 41

Tập hợp khế ước có thể ký:

1- Để thi hành trong một thờihạn mà hai bên đã định rõ. Thời hạn này không bao giờ được quá 3 năm.

2- Để làm một công việc nhấtđịnh.

Nếu không có định rõ thời hạnthi hành thì lúc nào cũng có thể xin huỷ bỏ tập hợp khế ước. Nhưng bên muốn xinhuỷ tập hợp khế ước phải cho bên cùng ký khế ước và phòng lục sự đã nhận tậphợp khế ước, biết trước một tháng. Tập hợp khế ước nào đã hết hạn mà chủ vàcông nhân chưa thủ tiêu, hay sửa chữa, thì vẫn tiếp tục thi hành sáu tháng sau.Hết hạn này, tập hợp kế ước sẽ coi như là một tập hợp khế ước không có định hạn.

Điều thứ 42

Đối với tập hợp khế ước khôngđịnh hạn, mà lại không định rõ cách thức sửa đổi, thì bất cứ lúc nào chủ hoặcthợ đều có thể yêu cầu Ty Lao động cho triệu tập hai bên để sửa đổi.

Ty Lao động xét nếu những cớviện ra không được chính đáng, có thể bác bỏ yêu cầu.

Điều thứ 43

Công đoàn, đại biểu có giấy uỷquyền của chủ hay công nhân nếu muốn dự vào một tập hợp khế ước nào đang thihành thì cứ khai ý muốn ấy tại Phòng Lục sự Toà án đã nhận bản chính của tậphợp khế ước đó. Tập hợp khế ước này sẽ có hiệu lực đối với công đoàn, các chủhay công nhân mà đại biểu đã xin gia nhập, kể từ hôm sau ngày phòng lục sự nhậnđược giấy khai.

Giấy khai này cũng phải nộp choTy Lao động.

Điều thứ 44

Tập hợp khế ước có hiệu lực đốivới:

1- Tất cả đoàn viên công đoàn,tất cả chủ mà đại biểu đã thấy ? ký kế.

Những đoàn viên nào không có xinra khỏi công đoàn và nếu ra khỏi công đoàn mà không có báo cho phòng lục sựbiết trong năm ngày sau ngày nộp tập hợp khế ước tại Phòng Lục sự, cũng phảithi hành tập hợp khế ước.

2- Tất cả những đoàn viên côngđoàn mà đại biểu đã xin gia nhập tập hợp khế ước trong trường hợp nói ở Điều43. Cũng trong trường hợp này, đoàn viên nào không xin ra khỏi công đoàn và nếura khỏi công đoàn mà không có báo cho phòng lục sự biết, trong thời hạn 5 ngày,sau hôm phòng lục sự nhận được giấy khai xin gia nhập của đại biểu đoàn mình,thì cũng phải thi hành tập hợp khế ước.

3- Tất cả những người đã gianhập sau vào công đoàn mà đại biểu đã ký tập hợp khế ước.

4- Những chủ mà đại biểu đã kýtập hợp khế ước nếu những người ấy không khai trong hạn 5 ngày với phòng lục sựrằng mình không thuận sự ký kết tập hợp khế ước.

5- Những chủ lấy tư cách cá nhânđã ký kết.

6- Những chủ đã xin gia nhập sauvào tập hợp khế ước trong trường hợp nói ở Điều 43.

Điều thứ 45

Những giao kèo ký kết riêng giữanhững người thuộc phạm vi thi hành một tập hợp khế ước không được trái với tậphợp khế ước. Điều khoản nào trái với tập hợp khế ước sẽ coi như vô hiệu. Nếuđiều khoản trái này là điều khoản cốt yếu thì cả giao kèo đó coi như vô hiệu.

Điều thứ 46

Những người hay đoàn thuộc phạmvi thi hành tập hợp khế ước không được làm việc gì tổn thương đến sự thi hànhthành thực tập hợp khế ước.

Những người hay đoàn có tư cáchpháp nhân bị thiệt hại có thể kiện những người hay đoàn có những hành vi tổnhại nói trên để đòi bồi thương. Những đoàn có thể kiện đòi bồi thường nhữngđoàn viên nào của mình có những hành vi ấy.

Điều thứ 47

Công đoàn có tư cách pháp nhâncó thể thay mặt một đoàn viên bị thiệt hại để kiện đòi bồi thường mà không cầnphải có giấy uỷ quyền. Chỉ phải báo trước và được sự ưng thuận của người ấy.Người này vẫn có quyền tham dự vào việc kiện.

Điều thứ 48

Khi có những việc kiện tụng nóiở 2 Điều trên những đoàn có tư cách pháp nhân cùng thuộc phạm vi thi hành tậphợp khế ước với người hoặc đoàn đứng kiện hay bị kiện đều có thể tham dự vàonhững việc kiện ấy.

Điều thứ 49

Trong tập hợp khế ước có thểđịnh sẽ để cho trọng tài xét xử những sự xích mích xẩy ra do việc thi hành khếước. Cách thức chọn trọng tài do hai bên thoả thuận định lấy, nhưng trọng tàiphải có quốc tịch Việt Nam.

Điều thứ 50

Nếu có người xin, những phòng lụcsự toà án có nhiệm vụ cho xem những tập hợp khế ước cùng những tờ khai đã nộpnơi phòng ấy. Những phòng này có thể cấp những bản sao y bản chính.

Điều thứ 51

Nếu xét ra cần Bộ trưởng Bộ Laođộng có thể định rõ chi tiết việc thi hành những điều khoản trong tiết này.

TIẾT THỨ TƯ

TIỀN KÝ QUỸ ĐỂ BẢO ĐẢM CHO CHỦ TRONG NHỮNG VIỆC THÂU XUẤTTIỀN BẠC

Điều thứ 52

Trong nghề nào mà công nhân phảiký quỹ tiền thì số tiền đó phải nộp thẳng vào quỹ tạm ký của Công khố Quốc gia.Người gửi tiền phải nói rõ ký quỹ cho chủ hay xí nghiệp nào. Quỹ nhận tiền sẽcấp giấy biên lai đề rõ số tiền gửi, người gửi và ký quỹ cho ai, hay cho xínghiệp nào.

Chủ không được trực tiếp haygián tiếp nhận và giữ tiền ký quỹ của công nhân.

Điều thứ 53

Khi muốn lấy một phần hay cả sốtiền ký quỹ ra, thì phải có chữ ký của cả chủ và công nhân.

Nếu công khố có cấp lãi cho sốtiền gửi thì công nhân được hưởng món lãi đó.

Điều thứ 54

Chủ được hưởng "ưu tiênquyền" về số tiền ký quỹ. Nếu có sự bất đồng ý giữa chủ và công nhân vềtiền ký quỹ, thì phải khiếu nại tại Toà án.

Điều thứ 55

Nếu xét ra cần, Bộ trưởng Bộ Laođộng có thể định rõ chi tiết việc thi hành những điều khoản nói trong tiết này.

TIẾT THỨ NĂM

TIỀN CÔNG

1- TIỀN CÔNG TỐI THIỂU

Điều thứ 56

Tiền công nói trong tiết này làtiền lương chính không kể các khoản phụ cấp, mà chủ đã hứa trả hay đã ghi trongkhế ước.

Không thể lấy cớ phải trả cáckhoản phụ cấp, như phụ cấp thâm niên, phụ cấp gia đình, v.v... định trong sắclệnh này mà trừ một số tiền công đó.

Những phụ cấp hay tiền thưởngđặc biệt như phụ cấp làm được nhiều việc và tiền chia lãi, sẽ trả ngoài sốlương chính.

Điều thứ 57

Công nhân đàn bà hay trẻ con màlàm một công việc công nhân đàn ông đều được lĩnh tiền công bằng số tiền côngđàn ông.

Điều thứ 58

Tiền công tối thiểu là số tiền côngdo chính phủ ấn định theo giá sinh hoạt, để một công nhân không chuyên nghiệpsinh sống một mình, trong một ngày, ở một khu vực nhất định.

Điều thứ 59

Tiền công tối thiểu cốt để chocác chủ lấy đó làm định lương cho các hạng công nhân. Bất luận trường hợp nàokhông được trả lương công nhân ít hơn lương tối thiểu này sẽ định riêng chongười nhớn và trẻ con dưới 15 tuổi hình thức nói ở điều sau.

Tiền công căn bản của công nhânchuyên môn sẽ định trong các tập hợp khế ước.

Điều thứ 60

Nghị định Bộ trưởng Bộ Lao độngsẽ ấn định cách tổ chức các hội đồng có nhiệm vụ đề nghị số tiền công tối thiểucho từng khu vực. Những Hội đồng này mỗi năm ít ra họp một lần. Nếu có sự thayđổi quan trọng về giá sinh hoạt, thì các Ty Thanh tra Lao động, theo lời đềnghị của đại biểu chủ hay công đoàn, có thể triệu tập các hội đồng bất thường.

Bộ Lao động sẽ hỏi ý kiến Uỷ banhành chính kỳ về đề nghị của những Hội đồng nói trên trước khi ra nghị định ấnđịnh lương tối thiểu.

Điều thứ 61

Nếu làm khoán từng kiện, bấtluận là làm ở xưởng hay ở nhà, tiền công từng kiện phải tính thế nào cho mộtngười thợ trung bình làm trong một ngày, theo số giờ định trong luật, có thểkiếm ít ra bằng số tiền công tối thiểu định ở các Điều trên.

Điều thứ 62

Tiền công tối thiểu phải niêmyết luôn bằng tiếng Việt Nam tại các nơi làm việc, các phòng trả lương và tuyểnngười làm.

Điều thứ 63

Các bản điều lệ cho đấu giá cáccông tác công chính hoặc cho đấu giá việc cung cấp vật liệu cho Chính phủ phảicó những khoản bắt buộc người thầu khoán định rõ sự thi hành tập hợp khế ước vàlương tối thiểu cho công nhân.

Điều thứ 64

Nếu xét ra cần, Bộ trưởng Bộ Laođộng có thể định rõ chi tiết việc thi hành những điều khoản nói trong tiết này.

2- Việc trảtiền công

Điều thứ 65

Tiền công của công nhân phải trảbằng tiền tệ do pháp luật cho phép lưu hành. Điều khoản khế ước nào trái với lẽtrên là vô hiệu.

Tuy nhiên, nếu được công nhânưng thuận, chủ có thể trả một phần tiền công bằng gạo hay hoá phẩm cần thiếtkhác, theo giá của Chính phủ đã định. Nếu như không có giá của Chính phủ định,thì phải theo giá hiện hành ở thị trường nơi sở tại.

Điều thứ 66

Tiền công tháng phải trả mỗitháng 2 kỳ, cách nhau 15 ngày.

Số tiền lĩnh lần đầu phải ngangvới số tiền công những ngày đã làm trong kỳ đầu, và có thể coi như tiền chomượn trước để tiện việc kế toán. Tiền công hàng tuần phải trả cuối tuần làmviệc.

Điều thứ 67

Cấm chế độ giảm tiền lương củacông nhân.

Nếu vô cớ mà chủ chậm trả tiềncông, thì Thanh tra Lao động sẽ can thiệp bắt chủ phải trả trong một thời hạnnhất định. Nếu hết hạn mà vẫn chưa trả thì thanh tra lao động lập biên bản,không phải lệ phí, đưa trình thẩm phán sơ cấp hoặc đệ nhị cấp tuỳ theo số tiềncông nhận trả. Thẩm phán sẽ xét theo thủ tục cấp thẩm. Khi nào cấp bách đặcbiệt, Thẩm phán đệ nhị cấp có thể ra lệnh thi hành mọi phương pháp bảo thủquyền lợi cho công nhân và có thể cử một người tạm quản lý công việc thay chủ.

Sau đó công nhân hoặc Thanh traLao động thay mặt công nhân sẽ kiện trước toà án bắt chủ trả món tiền thiếu.

Điều thứ 68

Khi có sự khiếu nại về việc trảtiền công thì chủ phải trình đủ giấy tờ, bằng chứng là mình đã trả rồi.

Điều thứ 69

Không được trả tiền công vàongày thợ được nghỉ.

Điều thứ 70

Không được chặn lại hay giam giữnhững số tiền trả các thầu khoán làm công việc công chính nếu số tiền ấy cầndùng để trả lương cho công nhân.

Điều thứ 71

Tiền công của công nhân đượchưởng ưu tiên quyền định trong dân luật.

3- Việc phạtvà trừ tiền công

Điều thứ 72

Cấm phạt vào tiền công.

Điều thứ 73

Chủ cho công nhân vay tiền, hoặcứng tiền để cung cấp vật dụng cho công nhân, mỗi lần trừ không được quá mộtphần mười (1/10) số lương tháng.

Tiền cho mượn, hoặc gạo, vải, cóthể trừ ngay, nếu như chủ trả trước tất cả tiền công của những việc đương làm.

TIẾT THỨ SÁU

PHỤ CẤP GIA ĐÌNH

Điều thứ 74

Tất cả công nhân đều được phụcấp gia đình.

Điều thứ 75

Những con ruột hay con nuôi đãđược công nhận hợp pháp, chưa tự kiếm ăn được, mà cha mẹ có phận sự phải nuôi,đều được hưởng phụ cấp này.

Phụ cấp gia đình chỉ trả cho đếnhết năm 16 tuổi tính theo dương lịch. Tuy nhiên, trẻ nào đang học nghề theonhững pháp luật hiện hành, hay đang theo học chữ, hay vì tàn tật hoặc bệnh kinhniên mà không tự kiếm ăn được thì sẽ được hưởng đến hết năm 18 tuổi.

Tiền phụ cấp này sẽ do Sắc lệnhChính phủ định sau.

Điều thứ 76

Phụ cấp gia đình sẽ trả chongười cha hay mẹ đang phải nuôi con.

Nếu cha mẹ cùng đi làm, phụ cấpgia đình sẽ trả cho người cha. Trừ khi hai vợ chồng đã ly dị thì phụ cấp sẽ trảcho người nào phải nuôi con.

Nếu người cha mất đi, thấtnghiệp, hay coi như mất tích, thì người mẹ sẽ được lĩnh phụ cấp.

Điều thứ 77

Để trả khoản phụ cấp gia đình,chủ phải đóng vào một quỹ do Sắc lệnh Chính phủ định sau, một số tiền tỷ lệ đốivới số tiền lương tổng cộng phải trả cho tất cả công nhân làm trong xí nghiệp.

Điều thứ 78

Tiền phụ cấp gia đình phải trảđủ cho công nhân không được vì một lẽ gì mà phạm đến món tiền ấy.

Chủ cũng không được lấy cớ phảitrả phụ cấp gia đình mà giảm tiền lương của công nhân.

Điều thứ 79

Các chi tiết thi hành những điềukhoản nói trong tiết này sẽ do Sắc lệnh định sau.

TIẾT THỨ BẢY

PHỤ CẤP THÂM NIÊN

Điều thứ 80

Công nhân Việt Nam, phải được chủ trả phụ cấp thâm niên khi bị thải hồi, trừ những trường hợp sau đây:

1- Tự ý xin thôi ra làm một sởkhác hay ra kinh doanh để lợi riêng cho mình.

2- Bị thải vì đã phạm một trọngtội về hình luật.

Điều thứ 81

Những công nhân đã làm được 15năm trở lên mà xin thôi để dưỡng lão và những công nhân vì sức yếu không thểlàm việc được nữa mà phải xin thôi cũng được hưởng phụ cấp nói trên.

Trong trường hợp sau này, nhữngcông nhân ấy phải có giấy chứng nhận của một thày thuốc của Chính phủ hay đượcChính phủ công nhận.

Nếu có sự kháng cáo về giấychứng nhận ấy thì sẽ đem ra một Hội đồng thầy thuốc định đoạt. Hội đồng này sẽđặt dưới quyền Chủ tịch của một thầy thuốc khác của Chính phủ và có hai thầythuốc do chủ và công nhân viện ra làm hội viên. Công nhân nào không có thầythuốc, sẽ xin Chính phủ cử ra một người.

Điều thứ 82

Đối với công nhân quá cố tiềnphụ cấp thâm niên sẽ trả cho các con người ấy. Nếu không có con thì người chồnghay vợ còn sống được quyền hưởng.

Điều thứ 83

Các thợ học việc không đượchưởng phụ cấp thâm niên. Những khi lành nghề mà vẫn làm với chủ, thì thời giantập việc cũng tính vào hạn thâm niên.

Điều thứ 84

Tiền phụ cấp thâm niên tính nhưsau;

Công nhân đã làm với chủ đượcmột năm trở lên thì cứ tính mỗi năm (12 tháng) ít nhất được 50đ00. Người nàolàm kém 1 năm không được phụ cấp ấy.

Điều thứ 85

Theo pháp luật phụ cấp thâm niênđược kể như tiền công và được ưu tiên quyền như tiền công.

Phụ cấp thâm niên phải trả riêngkhông lẵn với tiền bồi thường khi thải hồi mà không báo trước.

Điều thứ 86

Những điều khoản nói trên có cảhiệu lực đối với dĩ vãng nếu công nhân bị thải, xin thôi hay quá cố, sau ngàyban hành Sắc lệnh này.

Phụ cấp thâm niên bao giờ cũngtính theo những năm đã làm việc nhân với số phụ cấp một năm.

Tuy nhiên đối với thời hạn củacông nhân làm việc trước ngày ban hành Sắc lệnh này, chủ chỉ phải trả cho côngnhân lúc xin thôi, bị thải hay quá cố một món phụ cấp không quá 10 năm thâmniên.

Điều thứ 87

Những giao kèo, nội lệ, hay quỹtrữ phòng của xí nghiệp nào đã đảm bảo cho công nhân khi xin thôi hay bị sathải một số tiền bằng hay nhiều hơn tiền phụ cấp thâm niên đã định ở những điềukhoản trên, thì vẫn thi hành. Xí nghiệp ấy không phải trả phụ cấp thâm niên nữa.

Điều thứ 88

Nay bãi bỏ 2 nghị định về phụcấp thâm niên số 2 ngày 1 tháng 10 và số 4 ngày 12 tháng 10 năm 1945, của Bộtrưởng Bộ Lao động.

TIẾT THỨ TÁM

VIỆC CHIA LÃI CHO CÔNG NHÂN

Điều thứ 89

Để khuyến khích công nhân trongcác ngành kỹ nghệ và thương mại,có thể định cho công nhân tham gia vào việcchia lãi hàng năm.

Một Sắc lệnh sẽ ấn định sau tỷlệ số lãi mà công nhân được hưởng tuỳ theo từng xí nghiệp và những chi tiết thihành điều khoản này.

TIẾT THỨ CHÍN

KHO TIẾP TẾ

Điều thứ 90

Chủ một xí nghiệp hoặc ngườithay quyền, nếu muốn lập một kho tiếp tế riêng cho các công nhân thuộc xínghiệp của mình thì phải theo những điều kiện nói sau đây:

1- Kho tiếp tế chỉ có những thựcphẩm hoặc hoá phẩm cần thiết,

2- Thực phẩm hoặc hoá phẩm báncho công nhân phải tính theo giá vốn (giá mua cộng với các khoản tiền phí tổn).

3- Không được bắt buộc công nhânphải mua hàng ở kho tiếp tế.

4- Việc bán hàng không phải làmột nguồn lợi cho chủ hay người quản lý.

5- Kho tiếp tế phải đặt dướiquyền kiểm soát của một Uỷ ban mà trong đó ít ra một nửa số uỷ viên là đại biểucông nhân,

6- Kế toán của kho tiếp tế phảihoàn toàn tự trị không thuộc vào việc kế toán của xí nghiệp.

Điều thứ 91

Cấm những cai thầu không đượctrực tiếp hoặc gián tiếp lập những kho tiếp tế.

Điều thứ 92

Giá những thực phẩm và hoá phẩmphải niêm yết rõ ràng bằng tiếng Việt Nam ở nơi bán các phẩm vật ấy.

Điều thứ 93

Các nhân viên kiểm soát của TyLao động đều có quyền khám những kho tiếp tế. Nếu xét thấy trái với các điềunói trên thì các nhân viên này có thể xin Bộ trưởng Bộ Lao động đình chỉ việchoạt động của kho tiếp tế.

Chủ hay người quản lý có quyềnkháng cáo lên Bộ trưởng Bộ Lao động. Đại biểu của công nhân cũng có quyền khángcáo.

Điều thứ 94

Khi xét ra cần, Bộ trưởng Bộ Laođộng có thể bắt buộc một xí nghiệp nào đó lập kho tiếp tế cho công nhân.

TIẾT THỨ MƯỜI

VIỆC MỘ CÔNG NHÂN VÀ SỰ THIẾT LẬP CÁC PHÒNG TÌM VIỆC CHOCÔNG NHÂN

Điều thứ 95

Thể lệ việc mộ công nhân sẽ domột Sắc lệnh ấn định sau.

Điều thứ 96

Tại những đô thị nào xét ra cần,thì các Uỷ ban hành chính kỳ có thể ban bố nghị định thiết lập những phòng tìmviệc giùm cho công nhân. Những Nghị định này trước khi thi hành phải được Bộtrưởng Bộ Lao động duyệt y.

Chương thứ4

TIẾT THỨNHẤT

KHAI TRÌNH VỀ VIỆC DÙNG NHÂN CÔNG TRONG CÁC XƯỞNG KỸNGHỆ, HẦM MỎ HAY THƯƠNG ĐIẾM

Điều thứ 97

Các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ haythương điếm, các xưởng gia đình, tiểu công nghệ dùng quá 10 công nhân đều phảikhai cho Ty Lao động địa phương biết, trong hạn 15 ngày sau khi thành lập.

Cũng bắt buộc phải khai trongnhững trường hợp sau này:

1- Xí nghiệp nào đã thôi kinhdoanh quá 6 tháng, nay lại tiếp tục,

2 ?

3- Xí nghiệp nào đang làm mà dọnđi nơi khác hoặc sửa đổi, hoặc khuếch trương khiến cho việc kỹ nghệ hay thươngmại đó thay đổi khác trước,

4- Xí nghiệp nào trước khôngdùng trẻ con dưới 18 tuổi hay đàn bà mà nay muốn mượn 2 hạng công nhân đó,

5- Xí nghiệp nào trước chưa dùngmáy mà nay lại dùng đến.

Tờ khai phải biên tên, địa chỉcủa người đứng khai, nơi lập xí nghiệp và tính cách công việc kỹ nghệ haythương mại của xí nghiệp. Phải khai rõ có dùng trẻ con dưới 18 tuổi hoặc đàn bàvà có dùng máy hay không.

Điều thứ 98

Hạn 3 tháng kể từ ngày ban bốđạo Sắc lệnh này, tất cả các xí nghiệp đều phải khai theo thể lệ nói trên.

TIẾT THỨ HAI

TUỔI LÀM VIỆC

Điều thứ 99

Các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ vàthương điếm không được mượn trẻ con dưới 12 tuổi dương lịch.

Điều thứ100

Các Ty Lao động có thể yêu cầu 1viên thầy thuốc nhà nước xét xem trẻ con hay thiếu niên từ 12 tuổi đến 18 tuổidùng trong các xí nghiệp đã nói trên có đủ sức làm các công việc của chủ giaocho không.

Nếu xét ra quá sức thì ty Laođộng, sau khi đồng ý với viên thầy thuốc, có quyền bắt chủ đổi việc làm haythôi không cho làm nữa.

TIẾT THỨ BA

THỜI HẠN LÀM VIỆC

Điều thứ 101

Thời hạn làm việc của công nhân,đàn ông hay đàn bàm bất kỳ tuổi nào, không được quá 48 giờ một tuần lễ.

Điều thứ102

Về những công việc làm dưới hầmmỏ hoặc trong những xưởng kỹ nghệ có hại có sức khoẻ, thì giờ công nhân phải cómặt ở nơi làm việc không được quá 45 giờ một tuần lễ.

Nghị định của Bộ Lao động sẽ ấnđịnh sau những ngành kỹ nghệ coi là có hại cho sức khoẻ.

Thì giờ công nhân có mặt ở cáchầm mỏ tính như sau này:

a) Trong các mỏ có giếng thôngxuống, giờ làm việc tính từ lúc công nhân bước chân vào thang máy để xuống chođến lúc ra khỏi giếng lên mặt đất.

b) Trong các mỏ xuống bằng đườnghầm thì tính từ lúc vào đường hầm cho đến lúc ra khỏi mặt đất.

Không thể viện cớ giảm giờ làmviệc nói trong điều này mà bớt tiền công của người làm.

Điều thứ103

Bộ trưởng Bộ Lao động có thể dođề nghị của các cơ quan chuyên môn mà ấn định các chi tiết thi hành những điềukhoản trên cho từng ngành hầm mỏ, kỹ nghệ, hay thương mại trong toàn cõi Việt Nam hay trong từng miền.

Sau khi thoả thuận với côngnhân, chủ có thể xin Ty Lao động cho phép làm thêm giờ, để bù vào những giờ mấtđi vì:

1- Toàn thể công nhân ngừng việc,

2- Công việc trong sở bị đìnhtrệ do những duyên cớ bất thường, nhất là vì thời tiết không thuận hay vì nhữngngày lễ, hội hè, cùng là những việc khác xảy ra trong miền. Tuy vậy, những giờlàm phụ đó mỗi năm, mỗi người làm, không được quá 100 giờ.

Điều thứ104

Những giờ được phép làm thêm nóiở Điều 103 phải trả theo lương phụ cấp.

Điều thứ105

Trong thời kỳ chiến tranh, hayvì sự khẩn cấp chung của quốc gia, thì giờ làm việc có thể tăng quá hạn định ởnhững điều trên; biến lệ này sẽ do sắc lệnh của Chính phủ ấn định.

TIẾT THỨ TƯ

LÀM ĐÊM

Điều thứ106

Con trai chưa đến 18 tuổi, đànbà, con gái bất kỳ bao nhiêu tuổi, làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thươngđiếm đều không được làm đêm. Phàm công việc nào làm trong khoảng từ 9 giờ tốiđến 5 giờ sáng đều là công việc làm đêm.

Điều thứ107

Thì giờ nghỉ đêm của công nhâncon trai dưới 18 tuổi và của đàn bà, con gái bất kỳ bao nhiêu tuổi, ít ra phảiđược 11 giờ liền. Tuy nhiên, gặp các trường hợp nói ở hai điều sau đây có thểrút xuống còn 10 giờ:

Điều thứ108

Đối với những xí nghiệp dùng cácnguyên liệu hay những chất đang biến hoá, không thể để lâu được thì Bộ trưởngBộ Lao động sẽ ra nghị định cho những nhà kỹ nghệ đó được tạm thời dùng thì giờlàm đêm dễ dàng hơn thể lệ nói trên.

Điều thứ109

Gặp công việc khẩn cấp phải làmngay để ngăn ngừa tại nạn sắp đến hoặc để tổ chức việc cứu vãn hay sửa chữa cáckhí cụ, vật liệu, nhà cửa bị tai nạn làm hư hỏng, thì hạn làm việc của côngnhân con trai dưới 18 tuổi và đàn bà con gái bất kỳ bao nhiêu tuổi, có thể tăngquá giới hạn đã định ở Điều 107.

Điều thứ110

Trong những trường hợp nói trênphải trả phụ cấp cho những giờ làm đêm.

Điều thứ111

Ngoài ra, trong những trường hợpđặc biệt, Bộ trưởng Bộ Lao động, sau khi hỏi ý kiến các cơ quan chuyên môn, cóthể ra nghị định cho phép dùng đàn bà, trẻ con dưới 18 tuổi làm đêm theo nhữngđiều kiện của nghị định ấy.

TIẾT THỨ NĂM

NGÀY NGHỈ HÀNG TUẦN

Điều thứ112

Mỗi tuần lễ công nhân phải đượcnghỉ 24 giờ liền.

Tuy nhiên, lệ nghỉ hàng tuần củanhững công nhân các sở vận tải đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không, cùng làxe lửa, xe điện sẽ do nghị định riêng ấn định.

Điều thứ113

Bộ trưởng Bộ Lao động theo đềnghị của Ty Lao động địa phương sẽ ra nghị định ấn định những sở nào có thể chocông nhân nghỉ hàng tuần theo cách lần lượt kế tiếp và những biến lệ về việcnghỉ của những thợ chuyên môn làm trong các nhà máy đốt lửa hay chạy luôn luôn,cũng là cách thức thi hành các điều khoản ở tiết này.

Điều thứ114

Đối với các sở, vì thời tiết bấtthường mà phải đình việc, thì công nhân có thể phải làm bù vào những ngày nghỉhàng tuần nhưng không được quá 3 ngày trong một tháng. Những ngày làm việc nàyphải trả lương phụ cấp.

Điều thứ115

Các kỹ nghệ nào chỉ làm từng mùatrong một năm hoặc dùng chất dễ hư hỏng thì có thể xin Ty Lao động cho phép tạmthời đình việc thi hành lệ nghỉ hàng tuần.

Điều thứ116

Chiểu theo tờ trình của Uỷ banhành chính kỳ và sau khi hỏi ý kiến các cơ quan chuyên môn, Bộ trưởng Bộ Laođộng sẽ ra nghị định lập danh sách các xưởng kỹ nghệ hay thương điếm có thểđược hưởng hai điều nói trên.

TIẾT THỨ SÁU

NGHỈ NHỮNG NGÀY LỄ CHÍNH THỨC

Điều thứ117

Tất cả công nhân đều được nghỉviệc và được hưởng lương như ngày làm việc trong những lễ chính thức kể sau đây:

1- Ngày lễ lao động 1 tháng 5dương lịch,

2- ????

3- Ngày mồng 2 tháng 9 dươnglịch, ngày lễ độc lập,

4- Ngày mồng 1 tháng giêng dươnglịch,

5- Ngày Phận đản, mồng 8 tháng 4âm lịch

6- Ngày Thiên chúa giáng sinh.

Điều thứ118

Khi công việc sở hay xí nghiệpnào không thể tạm ngừng lại được thì những công nhân phụ trách thường trựctrong những ngày nghỉ nói ở điều trên được lĩnh gấp đôi lương.

Những công nhân ăn lương ngày màphải đi thường trực trong những ngày nghỉ nói ở điều trên được lĩnh gấp đôilương.

Những công nhân ăn lương thángmà phải đi thường trực thì tiền phụ cấp về những ngày nghỉ ấy sẽ tính là 1/25số lương tháng.

Điều thứ119

Khi một ngày hay nhiều ngày lễchính thức nói trên nhằm vào ngày nghỉ hàng tuần thì công nhân chỉ được lươngnếu hợp đồng hay nội quy của sở hay xí nghiệp có cho ăn lương cả ngày nghỉ hàngtuần. Những công nhân đi thường trực sẽ được lương thường nếu nội quy hay hợpđồng của sở hay xí nghiệp không cho lương ngày nghỉ hàng tuần. Họ sẽ lĩnh gấpđôi nếu họ được lương ngày nghỉ hàng tuần.

Điều thứ120

Những công nhân làm khoán, tínhkiện ăn công thì số lương những ngày nghỉ ấy sẽ tính theo số lương trung bình đãlĩnh hàng ngày trong 7 hôm trước ngày lễ chính thức.

TIẾT THỨ BẢY

LỆ NGHỈ CỦA ĐÀN BÀ ĐẺ VÀ ĐÀN BÀ CHO CON BÚ

Điều thứ121

Đàn bà nghỉ về thai sản đượclĩnh trong thời hạn 8 tuần lễ nói ở Điều 31 nửa số tiền công kể cả phụ cấp.

Chủ không được lấy cớ người côngnhân có thai mà sa thải hoặc bắt làm công việc nặng nề hơn hoặc đổi chỗ làm màkhông được họ đồng ý.

Điều thứ122

Người mẹ có thể cho con bú tạinơi mình làm việc trong hạn một năm kể từ ngày đẻ. Lúc cho con bú được nghỉ 30phút trong giờ làm buổi sáng và 30 phút trong giờ làm buổi chiều.

Các giờ nghỉ cho con bú khôngđược trừ vào hạn nghỉ thường lệ do Sắc lệnh này.

Điều thứ123

Nơi nào dùng 100 công nhân đànbà phải lập một nhà để giữ trẻ con cần cho bú.

TIẾT THỨ TÁM

NGHỈ HÀNG NĂM

Điều thứ124

Công nhân hay thợ học nghề làmđược một năm thì được nghỉ hàng năm ít nhất 10 ngày liền được cả lương và phụcấp. Trong 10 ngày ấy, phải 8 ngày không là chủ nhật hay ngày lễ chính thức.Công nhân nào làm được 6 tháng được nghỉ ít nhất 5 ngày lĩnh cả lương và phụcấp, mà 4 ngày không phải là chủ nhật hay ngày lễ chính thức.

Điều thứ125

Trước khi nghỉ hàng năm, côngnhân được lĩnh trước số tiền công và cả mọi khoản phụ cấp đã nói trong điềutrên, tính theo tiền công hàng ngày của họ.

Điều thứ126

Khế ước nào định rằng công nhântình nguyện không hưởng lệ nghỉ hàng năm, đều kể là vô hiệu, dù chủ có cấp chomột số tiền bù vào cũng vậy.

TIẾT THỨCHÍN

LỆ NGHỈ CỦA CÔNG NHÂN KHI ỐM ĐAU

Điều thứ127

Công nhân khi ốm đau muốn xinnghỉ ăn lương phải có giấy chứng nhận của bác sĩ hoặc thầy thuốc.

Điều thứ128

Nếu bệnh không do một tai nạnlao động gây ra thì công nhân có quyền được nghỉ bệnh mà vẫn có lương, nhiềunhất là 20 ngày trong một năm.

Hạn nghỉ này không được trừ vàohạn nghỉ hàng năm ăn lương.

Điều thứ129

Các xí nghiệp hoặc tự lập nhàthương riêng hoặc bị bắt buộc phải có nhà thương và chịu hết phí tổn về ăn uốngvà thuốc men cho công nhân trong khi ốm đau, thì không phải trả lương trongnhững ngày công nhân nằm điều trị.

Xí nghiệp nào đưa công nhân ốmđến bệnh viện tư hay công và chịu hết phí tổn như đã nói trên cũng không phảitrả lương.

Nếu lương công nhân nhiều hơn sốtiền phí tổn này thì chủ phải trả lại số tiền thừa.

Chương thứ5

CÁC ĐIỀU KHOẢN RIÊNGCÔNG VIỆC LÀM DƯỚI HẦM MỎ

Điều thứ130

Đàn bà, con gái bất kỳ bao nhiêutuổi và con trai dưới 15 tuổi không được dùng làm việc dưới hầm mỏ và trongnhững xưởng kỹ nghệ có hại cho sức khoẻ hay nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao độngấn định.

Tuy nhiên, trong những trườnghợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Lao động có thể cho phép một vài xí nghiệp (trừ dướihầm mỏ) không phải tuân theo lệ này.

NGHỀ Ả ĐÀO VÀ VŨ NỮ

Điều thứ131

Cấm không được dùng trẻ con chưađến 15 tuổi tính theo dương lịch, để làm ả đào và vũ nữ.

VIỆC DÙNG NHÂN CÔNG NGOẠI QUỐC

Điều thứ132

Những người không có quốc tịchViệt Nam muốn làm ăn trên đất Việt Nam phải được Chính phủ Việt Nam cấp cho giấy phép trước. Những chủ muốn dùng công nhân ngoại quốc phải xin phép bộtrưởng Bộ Lao động.

Sắc lệnh này cũng thi hành chocông nhân ngoại quốc được phép làm ăn trên đất Việt Nam.

Tỷ số nhân công ngoại quốc khôngđược quá một tỷ số sẽ ấn định sau.

Chương thứ6

VỆ SINH VÀ BẢO AN CHONGƯỜI LÀM

TIẾT THỨNHẤT

TỔNG LỆ

Điều thứ133

Các điều khoản ở chương này thihành cho tất cả công nhân các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm bất luận tưhay công.

Tuy vậy, những xưởng gia đình,những nhà tiểu công nghệ đều được miễn lệ này, trừ khi những xưởng đó dùng nồimáy hay động cơ, hoặc thuộc vào hạng xưởng có hại cho sức khoẻ ở chương nàyphải có đủ phương tiện để bảo an và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân.

Các máy móc và dụng cụ phải xếpđặt và giữ gìn thế nào cho hợp sự bảo an.

Điều thứ134

Công nhân hay thợ học nghề làmtrong các giếng mỏ, các ống dẫn hơi, các ống khói, các chuồng tiêu, các thùngmáy chứa chất độc, v.v. .. đều phải có những dụng cụ thích hợp để bảo vệ sinhmệnh và tránh tại nạn.

Các miệng giếng, miệng lỗ, nắphầm đều phải có chắn chung quanh.

Các động cơ phải đặt riêng biệtvà có rào chắn. Các giàn cất để làm việc trên cao đều phải có tay vịn vữngchắc. Các bộ phận máy đương chạy đều phải che chở hay đặt xa tầm tay thợ làmcho khỏi nguy hiểm. Các dây truyền điện đặt trong xưởng không cao quá 2 thước50 cũng đều phải che chở như thế.

Phải có dụng cụ riêng cho chạydây chuyền các máy móc để thợ khỏi mó tay vào.

Điều thứ135

Bộ trưởng Bộ Lao động sẽ ấn địnhnhững điều cần thiết cho sự bảo an và vệ sinh trong các xí nghiệp nói ở Điềuthứ 133.

Điều thứ136

Chủ các xưởng nói ở Điều thứ 133phải có một cuốn sổ biên những điều mà sở Lao động bắt thi hành. Sổ đó phải đưatrình khi Thanh tra và kiểm soát viên ty Lao động hỏi đến.

Điều thứ137

Trước khi lập biên bản phạt, cácThanh tra và Kiểm soát lao động phải ra lệnh bắt chủ thi hành những phương phápđã định trong một thời gian không được kém 15 ngày. Lệnh đó phải ghi vào quyểnsổ nói ở Điều 136.

Điều thứ138

Sau khi nhận được lệnh nói ởđiều trên, chủ có thể khiếu nại lên Bộ Lao động, trong hạn 15 ngày; nếu có đơnkhiếu nại thì sự thi hành được phép hoãn lại.

Nếu Bộ Lao động bác đơn khiếunại thì thời hạn phải thi hành bắt đầu tính từ ngày chủ nhận được giấy thôngđạt sự bác bỏ đó. Nếu hết kỳ hạn mà các phương pháp về vệ sinh và bảo an vẫnchưa thi hành thì lập biên bản lần thứ hai. Biên bản này sẽ đệ trình ông Thẩmphán đệ nhị cấp xử theo thủ tục cấp thẩm không mất lệ phí. Vị này sẽ ra lệnhthi hành những phương pháp cần thiết.

Điều thứ139

Nếu công nhân tự tìm được chỗ ởgần nơi làm thì chủ không phải trù liệu chỗ ở cho họ.

Nhưng nếu số công nhân nhiều đếnnỗi không tìm đủ chỗ ở trong các vùng gần nơi làm hoặc nếu họ đông đến nỗi làmhại vệ sinh chung, và trong các vùng mỏ, các khu tập trung công nhân xa thànhthị, thì chủ sẽ bắt buộc lo nhà ở cho tất cả hay một phần thợ thuyền làm vớimình.

Gặp một vài trường hợp đặc biệt,nhất là trong những khi có bệnh dịch tả, chủ cũng có thể bị bắt buộc phải tạmtrù liệu nhà cho công nhân ở.

Việc bắt buộc vĩnh viễn hay tạmthời phải có những khu nhà cho công nhân ở sẽ do Uỷ ban hành chính kỳ quyếtđịnh theo lời đề nghị của Ty Lao động, và sau khi đã hỏi ý kiến sở y tế.

Điều thứ140

Những nơi làm việc phải rộngrãi, thoáng khí và có ánh nắng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách biệt hẳnnhững nhà tiêu, những cống, rãnh, để tránh mùi hôi tanh.

Điều thứ141

Mỗi ngày các nơi làm việc phảiquét dọn sạch sẽ trước khi công nhân vào làm.

Điều thứ142

Chủ phải xếp đặt chỗ nhà tiêu,đi tiểu đủ dùng cho công nhân trong xí nghiệp và phải rửa quét một ngày 2 lần.

Điều thứ143

Chủ phải trù liệu cho công nhâncó nước ăn đủ vệ sinh ở nơi làm.

Điều thứ144

Xí nghiệp nào dùng từ 25 đến 100công nhân bắt buộc phải có hộp thuốc cấp cứu, từ 100 đến 500 phải có phòngthuốc và y tá thường trực để cho thuốc, từ 500 đến 2.000 phải có phòng thuốc doy sĩ trông nom.

Từ 2.000 trở lên phải có bệnhviện.

Ở những nơi nước độc có từ 1.000công nhân trở lên phải có bệnh viện do y sĩ trông nom.

Những xí nghiệp nào bị bắt buộccó bệnh viện mà dùng nhiều công nhân đàn bà thì phải có phòng hộ sinh.

Đối với các xí nghiệp gần bệnhviện công, Bộ trưởng Bộ Lao động có thể đặc biệt cho phép không theo lệnh này.

Điều thứ145

Ở các vùng có bệnh sốt rét rừng,chủ phải chịu phí tổn về việc đề phòng bệnh này mà phát thuốc cho công nhânkhông lấy tiền.

Điều thứ146

Bộ trưởng Bộ Lao động sẽ chỉđịnh:

1- Những công việc coi là nguyhiểm, quá sức, đối với đàn bà trẻ con để cấm họ không được làm;

2- Những thể lệ đặc biệt chophép đàn bà, trẻ con làm trong các sở có hại cho sức khoẻ hay nguy hiểm vì phảigần những chất hay hơi độc, với những sự bảo vệ cần phải có cho họ.

Điều thứ 147

Xí nghiệp nào nuôi cơm cho thợ,thì bắt buộc phải có nhà ăn riêng biệt chỗ làm việc, và phải rộng rãi, sạch sẽ.

TIẾT THỨ HAI

THỂ LỆ RIÊNG CHO CÁC HẦM MỎ

Điều thứ148

Thể lệ riêng về việc bảo vệ sứckhoẻ và sinh mệnh cho công nhân các hầm mỏ sẽ do Bộ trưởng Bộ Lao động ấn địnhsau khi hỏi ý kiến các cơ quan chuyên môn.

Chương thứ7

TAI NẠN LAO ĐỘNG

Điều thứ149

Tại nạn lao động là những tainạn xảy ra cho công nhân bỏ công việc làm hay công nhân khi làm công việc.

Công nhân bị tai nạn lao động,dù lỗi tại mình hay không, mà phải nghỉ việc quá 4 ngày, thì phải được chủ bồithường; nếu vì tai nạn ấy mà chết thì những người thừa kế được bồi thường. Sốtiền bồi thường sẽ kể từ hôm sau ngày xảy ra tai nạn. Ngày xảy ra tai nạn coinhư ngày công nhân vẫn làm việc, chủ phải trả cả lương.

Điều thứ150

Một Sắc lệnh sẽ định rõ chi tiếtthi hành điều khoản trên.

Chương thứ8

VIỆC LẬP ĐOÀN THỂ CÔNGNHÂN

TIẾT THỨNHẤT

CÔNG ĐOÀN

A- MỤC ĐÍCH VÀ CÁCH THÀNH LẬPCÔNG ĐOÀN

Điều thứ151

Công đoàn là những đoàn thể lậpra mục đích để bảo vệ quyền lợi của công nhân về phương diện nghề nghiệp.

Điều thứ152

Những người sáng lập công đoànphải khai rõ tên tuổi, nghề nghiệp và chỗ ở của mình và của những người sẽ thamdự vào việc điều khiển hay quản lý công đoàn, và phải nộp bản điều lệ của côngđoàn tại:

1- Uỷ ban hành chính tỉnh haythành phố nơi công đoàn đặt hội sở;

2- Phòng lục sự toà án tỉnh;

3- Ty Lao động tỉnh.

Điều thứ153

Sẽ nộp những giấy tờ nói trêncho Chủ tịch Uỷ ban hành chính và vị này có nhiệm vụ phát biên lai.

Mỗi khi có sự thay đổi điều lệhay nhân viên ban quản trị thì những người thay mặt hội phải khai sự thay đổiấy với các cơ quan nói trên trong hạn nhiều nhất là 5 ngày kể từ ngày có sựthay đổi.

Điều thứ154

Những người tham dự vào ban quảntrị phải có đủ điều kiện sau đây:

1- Có quốc tịch Việt Nam,

2- Phải là đoàn viên,

3- Phải có đủ quyền về dân luật.

Điều thứ155

Đàn bà có quyền vào công đoàn vàcó quyền tham dự vào ban quản trị.

Người vị thành niên từ 16 tuổitrở lên tính theo dương lịch được phép vào công đoàn, nhưng không được tham dựvào ban quản trị.

Điều thứ156

Chỉ những người ở trong nghề mớiđược vào công đoàn nghề ấy, khi đã vào công đoàn được ít nhất là một năm, thìdầu có thôi không làm nghề cũ vẫn có thể ở trong công đoàn.

Điều thứ157

Công đoàn không có quyền bắtbuộc ai vào tổ chức, nhưng có quyền nhận hay từ chối đoàn viên theo điều lệriêng của mình. Công đoàn không có thể bắt buộc đoàn viên phải ở trong đoàn mộtcách vĩnh viễn, nhưng có quyền bắt người xin ra phải nộp tiền nguyệt phí trongmột hạn nhiều nhất là 6 tháng kể từ ngày xin ra.

Điều thứ158

Khi nào vì một cớ gì mà giải tánthì của cải của công đoàn không được đem chia cho đoàn viên, mà phải đem sửdụng theo điều kiện định trong điều lệ. Không nữa thì phải chuyển sang cho mộtcơ quan cứu tế do Bộ Lao động ấn định.

B- PHÁP NHÂN TƯ CÁCH CỦA CÔNGĐOÀN

Điều thứ159

Công đoàn có pháp nhân tư cách,có thể đối tụng trước toà án hay đứng nguyên đơn mỗi khi có việc gì xảy ra làmtổn hại gián tiếp hay trực tiếp đến quyền lợi chung của nghề nghiệp mà côngđoàn đứng thay mặt.

Điều thứ160

Công đoàn có quyền thay mặt côngnhân trong đoàn mình trước Toà án.

Điều thứ161

Công đoàn có thể mua hay nhậnkhông cần xin phép, các động sản và bất động sản.

Điều thứ162

Công đoàn được tự do sáng lập vàquản trị những phòng tìm việc và cung cấp nhân công. Công đoàn được tự do sánglập, quản trị hay giúp đỡ những công cuộc có tính cách nghề nghiệp, như quỹtương tế, phòng thí nghiệm, trường dạy về khoa học, canh nông, xã hội, hay lớpdạy nghề.

Điều thứ163

Công đoàn ??? do bác sỹ hay y sỹcủa công đoàn điều khiển và cho giấy chứng nhận bệnh tật của đoàn viên.

Điều thứ164

Công đoàn có thể sáng lập haygiúp đỡ những hợp tác xã tiêu thụ sản xuất.

Điều thứ165

Các cơ quan của Chính phủ có thểhỏi ý kiến công đoàn về việc định giá sinh hoạt, định giá nhân công và mọi vấnđề có liên can đến nghề nghiệp mà công đoàn đứng thay mặt.

Điều thứ166

Những hội viên xin ra công đoànvẫn có thể là những hội viên của các hội tương tế, mà họ đã đóng góp.

C- LIÊN ĐOÀN

Điều thứ167

Những công đoàn đã thành lậptheo những điều trên này có thể liên kết với nhau để lập những liên đoàn haytổng liên đoàn.

Điều thứ168

Những khoản nói trong những Điềutừ 151 đến 158 trên này sẽ thi hành cho liên đoàn cùng những người đứng quản lý.

Trong điều lệ mỗi liên đoàn phảiđịnh rõ danh hiệu và hội sở của liên đoàn và cách thức bầu cử ban quản trị củaliên đoàn.

Điều thứ169

Sau khi thành lập, liên đoàn haytổng liên đoàn cũng được hưởng quyền hạn định trong những Điều từ 159 đến 16 ?trên đây.

D- LINH TINH

Điều thứ170

Những người sáng lập hay quản lýcông đoàn và liên đoàn không theo đúng những Điều 151 đến 158 cùng những Điều167, 168 trên đây, hoặc là cố ý khai gian, có thể bị phạt tù 1 đến 6 tháng ántreo và phạt bạc từ 15 đ đến 1.000 đ.

Nếu tái phạm, Toà án sẽ phạt tù.

Điều thứ171

Nếu công đoàn hành động trái vớiđiều lệ công đoàn, trái với những điều khoản trong chương này, hay có nhữnghành vi tổn hại đến nền Dân chủ cộng hoà của nước Việt Nam thì Biện lý nơi hộisở có quyền xin toà giải tán công đoàn hay liên đoàn và tịch thu của cải củanhững hội ấy để cấp cho một cơ quan cứu tế do Bộ Lao động ấn định.

Trừ những người trong ban quảntrị có thể bị truy tổ theo pháp luật, những người trong công đoàn hay liên đoànđã bị giải tán vẫn giữ quyền tự do lập công đoàn khác hợp theo pháp luật.

TIẾT THỨ HAI

UỶ BAN Ở CÁC CÔNG SỞ

Điều thứ172

Ở các ngành kỹ nghệ của quốc giahay thuộc quyền quốc gia kiểm soát, công nhân có thể lập các uỷ ban công sở đểtrực tiếp giao thiệp với những cơ quan của Chính phủ.

Ở các xí nghiệp của tư nhân,công đoàn hoặc đại biểu công nhân sẽ thay mặt cho toàn thể công nhân ở xínghiệp ấy trong mọi trưởng hợp.

Điều thứ173

Những chi tiết thi hành Điều thứ172 trên này sẽ do một nghị định Bộ trưởng Bộ Lao động ấn định sau.

TIẾT THỨ BA

QUYỀN TỰ DO KẾT HỢP VÀ BÃI CÔNG

Điều thứ174

Công nhân có quyền tự do kết hợpvà bãi công.

Một Sắc lệnh sau sẽ ấn định phạmvi sử dụng những quyền này cùng cách thức hoà giải và trọng tài.

Chương thứ9

NÓI VỀ HÌNH PHẠT

Điều thứ175

Hễ phạm vào một trong các điềusau này thì phải phạt bạc từ 10đ đến 50đ và tái phạm thì phạt từ 51đ đến 100đ.

Điều thứ 9 về số thợ hay thợ họcnghề nhiều nhất mà nhà tiểu công nghệ được dùng.

Điều thứ 15 và 16 về thể lệ hạntuổi thợ học nghề và số thợ học nghề trong các xí nghiệp.

Điều thứ 21 và 22 về việc lập vàniêm yết nội quy.

Điều thứ 33 về lệ niêm yết nói trongđiều này.

Điều thứ 35 không có danh sáchcác cai khoán.

Điều thứ 36 cấm chế độ ăn cônglàm khoán.

Điều thứ 46 không tuân tập hợpkhế ước.

Điều thứ 62 về việc niêm yết sốlương tối thiểu.

Điều thứ 66 về việc trả tiềncông mỗi tháng 2 kỳ.

Điều thứ 72 cấm phạt vào tiềncông.

Điều thứ 73 cấm trừ tiền côngtrái phép.

Điều thứ 91, 92 và 93 về việccấm cai thầu làm kho tiếp tế và bắt buộc yết thị giá thực phẩm bán tại các khotiếp tế.

Điều 97 và 98 về việc khai trìnhnói trong 2 điều ấy.

Điều 101 và 102 không tuân hạngiờ làm việc đã định.

Điều 106 không tuân việc cấmdùng trẻ con và đàn bà làm đêm, và thời hạn nghỉ đêm của hai hạng công nhân này.

Điều 112 không tuân hạn nghỉhàng tuần.

Điều 114 lạm dụng hạn làm bù.

Điều 124 và 126 không tuân hạnnghỉ hàng năm ăn lương,

Điều 136 không có cuốn sổ ghinhững điều các nhà chức trách bắt phải làm về việc vệ sinh và bảo an.

Điều 146 về những việc nguy hiểmhay quá sức cho đàn bà, trẻ con.

Điều thứ176

Nếu phạm vào những điều sau nàysẽ bị phạt bạc từ 101đ đến 200đ và tái phạm từ 201đ đến 1.000đ.

Điều 3 cấm mộ công nhân theocách dụ dỗ hoặc cưỡng bách.

Điều 12 cấm dùng trẻ con dưới 12tuổi làm thợ học nghề.

Điều 52 cấm chủ không được nhậnthẳng tiền ký quỹ của công nhân.

Điều 123 không trù liệu nơi chocông nhân đàn bà cho con bú.

Điều 130 không tuân lệnh cấm đànbà trẻ con làm dưới hầm mỏ.

Điều 131 cấm dùng trẻ con dưới15 tuổi làm nghề ả đào hay vũ nữ.

Điều 132 dùng công nhân ngoạiquốc trái phép.

Điều 133 và 134 không trù liệunhững phương pháp về bảo an và vệ sinh.

Điều 139 về việc trù liệu nơitrú ngụ cho công nhân.

Điều 143 không trù liệu nước ănđủ vệ sinh cho công nhân.

Điều 144 không trù liệu các cáchcứu chữa cho công nhân hay không có khán hộ hay y sỹ.

Điều 145 không trù liệu thuốcmen đề phòng và chữa bệnh sốt rét rừng.

Điều thứ177

Khi phạm vào luật lệ lao động màkhông có những điều khoản riêng định trừng phạt thì sẽ bị phạt bạc từ 10đ đến50 đ và nếu tái phạm từ 51đ đến 100đ.

Điều thứ178

Những chủ nào không chịu nộptiền góp về phụ cấp gia đình cho công nhân sẽ phải phạt một số tiền gấp đôi sốtiền phải góp.

Những chủ cố ý khai man trongviệc tính tiền góp về phụ cấp gia đình sẽ phải phạt bạc từ 10đ đến 50đ và nếutái phạm từ 51đ đến 100đ.

Điều thứ179

Những cai khoán cố ý khai mannhững điều nói trong Điều 33 sẽ bị phạt bạc từ 10đ đến 50đ hoặc phải phạt giamtừ 7 đến 15 ngày. Nếu tái phạm sẽ bị cả hình phạt trên.

Điều thứ180

Về luật lao động, nếu trong 12tháng mà phạm cùng một lỗi thời coi là tái phạm.

Điều thứ181

Nếu phạm pháp thì cứ dùng baonhiêu công nhân trong trường hợp ấy sẽ bị phạt tiền bầy nhiều lần.

Tuy nhiên, lần đầu mà phạm phápnhư thế, thì tổng cộng số tiền phạt không được quá 500đ.

Điều thứ182

Ai làm ngăn trở các Bộ trưởng,Thanh tra, Kiểm soát hay Uỷ viên lao động, trong khi thi hành công vụ thì sẽ bịphạt bạc từ 100đ đến 1.000đ và nếu tái phạm thì bị phạt từ 1.000đ đến 10.000đ.

Ngoài ra, những người phạm tộingăn trở, công việc làm của các viên chức lao động nói trên, hoặc vũ mãn hay bạođộng đối với những người ấy đều bị truy tố theo các điều khoản trong hình luậtthi hành cho các uỷ viên tư pháp công an.

Điều thứ183

Xí nghiệp phải chịu trách nhiệmvề mặt hội đồng với những án phạt Giám đốc, Quản lý hay người thay mặt xínghiệp đó.

Chươngthứ 10

Điều thứ184

Để kiểm soát việc thi hành luậtlệ lao động, một sắc lệnh sẽ lập những ngạch Thanh tra và Kiểm soát lao độngcùng định rõ nhiệm vụ và quyền hành của những viên chức này.

Điều thứ185

Các Luật lệ, Nghị định, Thông tưtrái với điều khoản đạo Sắc lệnh này đều bãi bỏ.

Những luật lệ hiện hành nói đếnnhững vấn đề chưa giải quyết bởi Sắc lệnh này vẫn tạm thi hành.

Điều thứ186

Công nhân đứng kiện hay bị kiệnvề việc thi hành các điều khoản Sắc lệnh này, được tư pháp bảo trợ tại toà ánkhông mất phí tổn kiện tụng.

Điều thứ187

Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp,Bộ Tài chính và Bộ Lao động thi hành Sắc lệnh này.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)