1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án

Hoạt động thi hành án dân sự và thi hành án hình sự đối với pháp nhân được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Cưỡng chế thi hành án hình sự chỉ áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Cưỡng chế thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền, dùng quyền lực của mình để đảm bảo việc thi hành trên thực tế quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan trong quyết định, bản án được thi hành theo thủ tục thi hành án. 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 - Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Tại điều 45 và Điều 46  Luật thi hành án dân sự 2008 sử đổi, bổ sung 2014 cũng quy định sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án, thì Chấp hành viên có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của nhà nước, nhằm buộc người phải thi hành án dân sự thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án..

2. Điều kiện áp dụng

Theo căn cứ tại khoản 1 điều 8 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/07/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 về thủ tục thi hành án dân sự Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định của người phải thi hành án, điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương lựa chọn biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.

Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải thi hành án có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án mà tài sản đó không thế phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì chấp chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thi hành án.

3. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

Theo quy định tại điều 76 Luật Thi hành án dân sựu 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 về khấu trừ tiền trong tài khoản:

"1. Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.

2. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ."

Đây là biện pháp được áp dụng đối với có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ trả tiền mà người phải thi hành án đang có tiền trong tài khoản ngân hàng hoặc đang sở hữu các giấy tờ có giá.  Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án là một trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án, được áp dụng trong trường hợp người đó phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định mà họ đang có tiền trong tài khoản hoặc đang sở hữu giấy tờ có giá. Nếu người phải thi hành án - thực hiện nghĩa vụ trả tiền, mà họ đang giữ tiền, giấy tờ có giá hoặc gửi tại kho bạc, tổ chức tín dụng thì đây sẽ này sẽ là biện pháp cưỡng chế đầu tiên đầu tiên được áp dụng.

Thủ tục cưỡng chế thi hành án khấu trừ tiền trong tài khoản:

  • Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhau thì Chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một tài khoản hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án.
  • Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: Ngày, tháng, năm ban hành quyết định; Căn cứ ban hành quyết định; Họ tên Chấp hành viên; Họ tên người phải thi hành án; Số tài khoản của đương sự; Tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi mở tài khoản. Số tiền phải khấu trừ. Số tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự nhận khoản tiền bị khấu trừ và thời hạn thực hiện việc khấu trừ.
  • Thực hiện quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản. Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ.
  • Chấm dứt khấu trừ tiền trong tài khoản. Người phải thi hành án đã thi hành xong nghĩa vụ thi hành án; Cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án; có quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc phong toả tài khoản ngay sau khi có căn cứ nêu trên.

Thủ tục thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án

  • Trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án.
  • Người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
  • Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành. Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật.          

4. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

Theo quy định tại khoản 1, điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 về trừ vào thu nhập của người phải thi hành án:

"1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác."

Biện pháp này thường được áp dụng khi người phải thi hành án có thu nhập thực tế và không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ.

Thủ tục áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

  • Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc theo thỏa thuận của các đương sự hoặc bản án, quyết định đã được ấn trừ vào thu nhập hoặc tài sản của người phải thi hành án không lớn thi Chấp hành viên chỉ cần tiến hành xác minh người phải thi hành án co thu nhập thường xuyên hay không. Trong trường hợp người phải thi hành án vừa có thu nhập thường xuyên vừa có các tài sản khác, thì Chấp hành viên được ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án khi người này không tự nguyện thi hành.
  •  Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ khác, nội dụng xác minh điều kiện thi hành của người phải thi hành án gồm có hai nội dung: người phải thi hành án không có tài sản nào để thi hành án hoặc có tài sản nhưng tài sản đó có giá trị nhỏ, không đủ để thi hành án và người phải thi hành án có thu nhập thường xuyên.
  • Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án dân sự thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải thi hành án dân sự có trách nhiệm ký nhận vào danh sách chi trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. Trường hợp người phải thi hành án dân sự cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với số tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán.

 5. So sánh

Đối tượng bị áp dụng

  • Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản là tổ chức, cá nhân không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt, quyết định khắc phục hậu quả, không thanh toán hoặc thanh toán chưa đủ chi phí cưỡng chế mà có tiền gửi tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
  • Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là áp dụng biện pháp này được xác định khi người phải thi hành án có thu nhập tương đối ổn định và không tự nguyện.

Cơ quan tiếp nhận 

  • Cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản 

Trách nhiệm của tổ chức tín dụng 

+  Cung cấp các thông tin bằng văn bản về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế hiện đang mở tài khoản tại tổ chức tín dụng của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.

 +  Giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế số tiền tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức đó phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế.

  • Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

+  Thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí thu nhập của người phải thi hành án thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành án để thi hành án. 

+ Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan BHXH nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập phải có nhiệm vụ thực hiện quyết định đó theo đúng nội dung đã quyết định

Trên đây là bài sưu tầm, phân tích và tổng hợp so sánh về biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá và biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

Trân trọng./.