1. Sổ tiết kiệm riêng có bị chia khi ly hôn không ?

kính thưa luật sư, hôm nay em viết thư này kính nhờ luật sư tư vấn giúp em về việc chia tài sản sau ly hôn. gia đình em có ba người: cha,mẹ và em. những năm gần đây cha mẹ em phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn và muốn ly hôn. hiện nay em đã trưởng thành và đã có gia đình riêng rồi. về vấn đề tài sản: cha mẹ em có 1 căn nhà, 3 chiếc xe máy. việc chia phần tài sản này em nghĩ không vấn đề gì ? Vấn đề em đang thắc mắc là: mẹ em có một khoảng tiết kiệm được gửi trong ngân hàng. số tiền này do một tay mẹ em chắt chiu dành dụm mới có được vì từ khi phát sinh mâu thuẫn cha mẹ em kiếm sống riêng nhưng vẫn ở chung nhà.
Do mẹ em không rành chữ nghĩa, thủ tục giấy tờ nên số tiền trong tài khoản đó do em giúp mẹ đứng tên và giao dịch các thủ tục gủi tiết kiệm với ngân hàng. Cho em hỏi nếu ly hôn thì số tiền này có bị tòa án hay cha em yêu cầu chia không?
Rất mong nhận được sự tư vấn quí giá của luật sư. Em chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn về pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được xác định theo nguyên tắc sau:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Như vậy, về nguyên tắc việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó, còn tài sản chung sẽ được chia đôi.

Vậy mẹ bạn cần chứng minh sổ tiết kiệm đo là tài sản riêng của mẹ bạn.

Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Vậy sổ tiết kiệm không đupwjc xem là tài sản riêng của mẹ bạn nếu, theo thủ tục chia tài sản sau khi ly hôn thì vẫn là tài sản hhung và bị chia đôi. Nhưng theo thông tin bạn cung cấp, bạn đứng tên trong sổ tiết kiệm đó thì trước hết trên giấy tờ thì đó là ài sản của bạn không phải của mẹ bạn, còn việc thỏa thuận miệng giữa bạn và mẹ bạn thì không ai biết và không nên để cho bố bạn biết thì tài sản đó sẽ không được đưa ra chia khi ly hôn.

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Tư vấn làm đơn kiện vợ vu khống hay làm đơn ly hôn ?

Kính chào Công ty luật Minh Khuê ! Vợ chồng tôi kết hôn từ năm 1999 đến nay đã có 2 con ( gái 14 tuổi, trai 5 tuổi) . Hiện nay hôn nhân đã mâu thuẫn tới mức trầm trọng, không thể hòa hợp lại được. lý do vợ tôi đã:
1. Vu cho tôi tội ngoại tình: (1. Ngoại tình với một cô bạn và có con riêng từ 6 năm nay, thực tế cô ta đã thuê người điều tra và họ đã khẳng định đó không phải con của tôi ?
2. Ngoại tình với 1 cô ở cơ quan và một cô ở cơ quan khác ( thực tế không hề có việc này và tôi đã báo cáo cơ quan về việc này). 2. Vu cho tôi tội không chi tiền lương hàng tháng cho gia đình . Thực tế từ khi lập gia đình đến nay chúng tôi không hề thỏa thuận việc này mà việc chi tiêu tự cả hai vợ chồng đều mua sắm, riêng chi trả tiền điện, nước hàng tháng khoảng 3-3,5 triệu/tháng, tiền đóng học cho 2 con (cả tiền học thêm) 2,5 triệu /tháng, tiền xăng xe đưa con đi học (2 con tất cả đều do tôi đưa đón ) hằng ngày 2 triệu/ tháng ?
3. Vu cho tôi tội tranh chấp tiền xây nhà cho bố mẹ vợ và xây mồ mả quê ngoại ( nhà tôi toàn con gái), vợ tôi đã đưa tiền về xây nhà và xây mộ ở quê mà không hề nói với tôi. Thực tế tôi chưa bao giờ có ý kiến về việc này bởi tôi nghĩ bố mẹ 2 bên đều như nhau và thực tế bố mẹ vợ coi tôi như con đẻ và rất yêu quý tôi như tôi yêu quý họ và không muốn làm tổn thương họ. Tôi nêu ra ý này chỉ muốn nói cô ta đã có hành vi vu khống và quá coi thường tôi.
Tôi mong luật sư tư vấn cho tôi: tôi nên làm đơn kiện cô ta vu khống tôi hay làm đơn ly hôn. Nếu ly hôn tôi đề nghị con cái và tài sản chia đều theo pháp luật. Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời :

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi , chúng tôi tư vấn vấn đề của bạn như sau:

Thứ nhất, Gia đình bạn hiện đang chung sống với nhau không hạnh phúc, hôn nhân đã mâu thuẫn tới mức trầm trọng, không thể hòa hợp lại được. Và vợ bạn có đưa ra các lý do về những mâu thuẫn trên , bạn cho rằng vợ bạn vu khống cho bạn không có chính xác, bạn muốn khởi kiện vợ mình tội vu khống.

Thứ hai , Nếu đời sống hôn nhân của bạn không thể hòa hợp được thì bạn và vợ mình cần có những buổi nói chuyện, cả hai bên nếu không thể chấp nhận được cuộc hôn nhân này thì cả vợ chồng cùng thỏa thuận ly hôn, cùng xác lập quyền và nghĩa vụ đối với các con cũng như tài sản ly hôn được thì thuộc trường hợp thuận tình ly hôn. Ngược lại , nếu vợ bạn không đồng ý ly hôn thì bạn có quyền đơn phương ly hôn theo Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn quy định :

"Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."

Mặt khác , Theo Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội Ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

" Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Theo đó, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết việc ly hôn cho mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp vợ bạn không đồng ý việc ly hôn, bạn vẫn có thể tiến hành yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn theo qui định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 khi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thấy không thể kéo dài.

* Khi ly hôn bạn muốn con cái và tài sản chia đều theo pháp luật .

- Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội. quy định Việc trông nom , chăm sóc , nuôi dưỡng , giáo dục con sau khy ly hôn như sau:

" 1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Hiện nay, vợ chồng bạn có có 2 con (gái 14 tuổi, trai 5 tuổi ). Xét theo quy định pháp luật nêu trên thì bé gái xem xét nguyện vọng của con sẽ muốn ở cùng bố hay mẹ và bé trai hiện 5 tuổi Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

- Đối với tài sản của vợ chồng bạn sẽ được chia theo nguyên tắc pháp luật tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Tài sản của vợ chồng khi ly hôn được phân chia thế nào ?

Chào Luật Minh Khuê, Xin tư vấn giúp em vấn đề như sau, em xin chân thành cảm ơn Anh/Chị. Em và chồng đã ly thân 22 tháng, nay anh ấy đưa đơn ly hôn, xin tư vấn giúp em:

1. Khi ly hôn chồng em có trách nhiệm chu cấp cho con trong thời gian ly hôn không (vì trong thời gian ấy chồng em không hề chu cấp, thăm hỏi vợ con), em ở nhà ngoại.

2. Em muốn anh ấy chu cấp một lần cho đến khi con em 18 tuổi có được không (vì em cũng không muốn liên hệ với anh ấy nữa)

3. Giấy thoả thuận viết tay mà chồng em viết sẽ trả số tiền vàng cưới cho em trước toà có giá trị không (giấy viết tháng 12/2014)

4. Em là nhân viên kế toán cho anh, khi sinh con em được hưởng chế độ thai sản và số tiền đó chuyển khoản vào tài khoản công ty, vậy khi ly hôn em có được lấy lại không.

5. Trong quá trình chung sống 2 vợ chồng kinh doanh chúng em có mua một xe tải nhỏ bằng giấy tay đứng tên chồng nay xe đó vẫn còn nhưng em không giữ giấy viết tay đấy, vậy có được chia tài sản ấy không.

6. Liệu em có được trả tiền khi làm kế toán cho chồng không.

7. Trong thời gian sống chung anh có thực hiện 1 Hợp đồng kinh tế và có mượn tiền của bên ngoại để thực hiện HĐ này (nay đã trả rồi) nhưng mượn miệng và chuyển khoản vào số CMND của em thì có được chia lợi nhuận từ hợp đồng ấy không.

Xin tư vấn giúp em vì hiện tại em rất khó khăn về tài chính trong khi chồng em bảo sẽ không trả em một đồng vì thời gian em sống với anh ấy việc em ăn, ở, đẻ là do anh ấy lo hết rồi. Chúng em chỉ sống với nhau 01 năm 03 tháng (con em được 05 tháng là nảy sinh mâu thuẫn và về bên ngoại.)

Em xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về vấn đề cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Như vậy, con bạn mới được 5 tháng tuổi thì quyền nuôi con thuộc về bạn trừ khi bạn không đủ điều kiện hoặc bị tước quyền nuôi con, và khi bạn nuôi con thì chồng bạn không trực tiếp nuôi con phải thực hiện cấp dưỡng cho con.

Theo điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

Theo điều 116,117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về mức và phương thức cấp dưỡng:

"1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

"Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Bạn và chồng bạn có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng một lần cho con khi con của bạn được 18 tuổi.

2. Về giấy thỏa thuận viết tay:

Theo điều 46 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Như vậy, nếu số tiền vàng cưới của bạn được gộp vào tài sản chung của vợ chồng mà bạn thỏa thuận với chồng bạn về việc trả lại tài sản đó cho bạn thì thỏa thuận này được coi là thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Theo điều 38 Luật hôn nhân gia đình 2014:

"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Như vậy, thỏa thuận này được công chứng theo yêu cầu của vợ hoặc chồng, có nghĩa là không bắt buộc phải công chứng. Theo quy định của pháp luật thì hiện tại không có quy đinh nào về việc văn bản trả lại tài sản phải công chứng cả, cho nên thỏa thuận này có giá trị pháp lý.

3. Về vấn đề tài sản khi vợ chồng cùng thực hiện kinh doanh:

Theo điều 33 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

- Đối với số tiền hưởng chế độ thai sản thì theo quy định trên thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm cả thu nhập do lao động và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân cho nên số tiền được hưởng chế độ thai sản đó được coi là tài sản chung và bạn sẽ được chia số tiền đó khi ly hôn.

- Đối với tài sản là xe tải, nếu vợ chồng bạn thỏa thuận là dùng tài sản chung để mua chiếc xe đó thì chiếc xe là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp nếu chồng bạn chứng minh được đó là tài sản riêng thì mới không được chia.

- Đối với số tiền lợi nhuận từ hợp đồng kinh tế của chồng bạn thì theo quy định tại điều 33 Luật hôn nhân gia đình nêu trên thì số tiền đó là thu nhập do hoạt động sản xuất, kinh doanh của chồng bạn trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng và được chia đôi.

- Đối với việc trả lương khi làm kế toán cho chồng:

+ Nếu bạn ký hợp đồng lao động với chồng bạn thì khi ly hôn, bạn vẫn làm việc cho công ty của chồng bạn thì bạn vẫn được trả lương.

Nếu sau khi ly hôn, bạn không làm việc nữa thì bạn chấm dứt hợp đồng lao động, nếu việc chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì bạn sẽ được trả lương nếu còn thiếu, trả các khoản trợ cấp thôi việc nếu bạn có thời gian làm việc từ đủ 12 tháng trở lên.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Thủ tục đòi bồi thường công sức lao động khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình.
Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Vậy cho em hỏi muốn Tòa án giải quyết về việc đòi bồi thường công sức lao động của em sau khi em ly hôn thì em phải làm những thủ tục nào?
Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:

"1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Như vậy, nếu khi ly hôn, cả hai vợ chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình không thể thỏa thuận được với nhau về vấn đề phân chia tài sản chung thì bạn có quyền nộp đơn đến Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết. Bạn sẽ làm đơn khởi kiện đồng thời về việc giải quyết ly hôn và làm hồ sơ về việc giải quyết tranh chấp phân chia tài sản khi sống chung với gia đình.

Hồ sơ đơn phương xin ly hôn, giải quyết vấn đề tranh chấp tài sản, công sức đóng góp để duy trì, phát triển khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bạn cần chuẩn bị những giấy tờ sau:

- Đơn đơn phương ly hôn: viết tay, đánh máy hoặc đến trực tiếp Tòa án xin mẫu đơn ly hôn;

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính;

- Bản sao sổ hộ khẩu của bạn có công chứng hoặc chứng thực;

- Bản sao Chứng minh nhân dân có công chứng hoặc chứng thực của người chồng;

- Bản sao giấy khai sinh của con có công chứng hoặc chứng thực;

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

- Giấy tờ chứng minh về công sức đóng góp vào tài sản chung của gia đình như hợp đồng mua bán, hợp đồng xây dựng nhà cũng như các loại hợp đồng khác,...

- Giấy tờ chứng minh các tài sản gồm: ô tô, xe máy, ti vi, tủ lạnh, các vật dụng khác.

Sau khi chuẩn bị được đầy đủ các giấy tờ trên, bạn nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chồng bạn cư trú có thể là đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú nếu có.

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

“Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”

Nếu trong trường hợp hai vợ chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình không chấp nhận sự thỏa thuận của các bên thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Lúc này, tùy thuộc vào bằng chứng bạn đưa ra cũng như bằng chứng mà chồng bạn cũng như các thành viên trong gia đình đưa ra thì Tòa án sẽ phân chia tài sản tương ứng cho từng cá nhân.

5. Con mới 3 tháng tuổi vợ chồng có quyền yêu cầu ly hôn không ?

Thưa luật sư, con tôi mới được ba tháng tuổi, tôi có được làm đơn ly hôn không? Tòa án liệu có giao con cho tôi nuôi không? Chồng tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con đến khi con được 18 tuổi hay không? Giả sử giờ tôi được giao nuôi con thì đến khi con tôi lớn lên, chồng tôi có thể giành quyền nuôi con của tôi được không? Hiện nay, tôi chưa nhập khẩu về bên chồng, vậy chồng tôi có được làm giấy khai sinh cho bé được không? Phải có đủ tên cha và mẹ hay chỉ cần tên cha thôi là được?
Rất mong luật sư tư vấn giúp tôi những vấn đề trên. Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: dienmayphananh

Không có chữ ký của chồng trong đơn xin ly hôn thì có ly hôn được không ?

Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

+) Về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng:

Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy trong trường hợp của bạn, con của bạn dưới 36 tháng tuổi nên sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 82, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Vì vậy, chồng bạn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;

+) Về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con: Khoản 1, 2 và 3 Điều 84 Luật HNGĐ 2014 quy định:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên."

Như vậy, nếu có căn cứ cho rằng bạn không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, chồng của bạn có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở nên thì Tòa sẽ xem xét đến nguyện vọng của con.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại