Khách hàng: Kính thưa Luật sư, bằng nhìn nhận của mình, Luật sư hãy hoc biết sự cần thiết của việc nghiên cứu thực tiễn xét xử đối với các vụ án hình sự Việt Nam?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Mở đầu vấn đề

Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và là giai đoạn cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử, 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục.Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án; Bằng việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu bản án hay quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị) thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp và của bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (nếu bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị), nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội...

Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là sau khi Hiến pháp mới của năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đi vào cuộc sống, thì việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận những vấn đề về thực tiễn xét xử nói chung và thực tiễn xét xử hình sự nói riêng, đồng thời phân tích để chỉ ra vai trò của nó tại Tòa án nhân dân tối cao nói riêng trong quá trình hình thành, phát triển và tiếp tục phát triển pháp luật hình sự Việt Nam trong 60 năm qua (từ năm 1960 đến năm 2020) kể từ khi thành lập Tòa án nhân dân tối cao đến nay với cả hai thời kỳ trưốc và sau khi pháp điển hóa pháp luật hình sự nước nhà nói riêng là rất cần thiết vì ý nghĩa quan trọng của nó trên 03 bình diện chủ yếu dưới đây:

2. Về mặt lập pháp

Đối với mặt lập pháp, lịch sử hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật hình sự Việt Nam trong 75 năm qua kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến khi thông qua và thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đến nay (từ năm 1945 đến năm 2020) đã cho phép khẳng định những nội dung sau:

- Trong thời kỳ từ sau khi đình chỉ hiệu lực của các đạo luật hình sự cũ mà đặc biệt là trong 25 năm kể từ những năm 60 của thế kỷ XX sau khi thành lập Tòa án nhân dân tối cao cho đến khi thông qua Bộ luật Hình sự đầu tiên của đất nước đã thống nhất (Bộ luật năm 1985) (giai đoạn năm 1960 đến 1985) chính là bằng những giải thích (mang tính hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo về việc áp dụng pháp luật hình sự thuộc hai nhóm văn bản pháp luật hình sự, đó là: Các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Các thông tư liên tịch của các cơ quan Nội chính Trung ương mà trong đa số trường hợp thường là do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì (chẳng hạn, 21/28 thông tư liên ngành có liên quan đến việc áp dụng Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) hay 12 thông tư liên tịch có liên quan đến việc áp dụng Bộ luật Hình sự của năm 1999 cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương thì thực tiễn xét xử nước ta thực sự đã trở thành một hướng phát triển chủ yếu trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trước pháp điển hóa lần thứ nhất;

- Chính những điều trên này đã cho phép khẳng định rằng, chính thực tiễn xét xử đã đóng vai trò quan trọng việc xây dựng nên các quy phạm pháp luật hình sự trong quá trình 25 năm hình thành và phát triển của pháp luật hình sự nước nhà chưa pháp điển hóa lần thứ nhất, tức là kể từ khi hệ thống tòa án nhân dân được tách ra khỏi Bộ Tư pháp theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân của năm 1960 cho đến khi thông qua Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam là năm 1985;

- Trong thời kỳ 35 năm tiếp theo từ năm 1985 đến nay - tức là từ năm 2020 kể từ sau 03 lần pháp điển hóa thứ nhất vào năm 1985, thứ hai là năm 1999 rồi thứ ba vào năm 2015 và đến tận ngày nay, chính là bằng những giải thích (hướng dẫn) có tính chất chỉ đạo đối với việc áp dụng thống nhất pháp luật hình sự trong hai nhóm văn bản pháp luật ở đây. Thực tiễn xét xử hình sự tuy không còn là một trong những nguồn trực tiếp vì Tòa án nhân dân tối cao không còn xây dựng nên cấu thành tội phạm và hình phạt mới trong hệ thống pháp luật hình sự thực định Việt Nam đã pháp điển hóa nữa, nhưng những giải thích (hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo đó dù sao vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục phát triển pháp luật hình sự nước nhà. Như vậy, chính các cán bộ Tòa án nhân dân tối cao (từ người lãnh đạo cao nhất đến các chuyên gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự) thời kỳ trước năm 2002 là những ngưòi đã có công rất lớn xây dựng nên hệ thống pháp luật hình sự đã hình thành và phát triển của nước ta.

3. Về mặt lý luận,

Đối với mặt lý luận, chính bằng những giải thích (hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo trong hai nhóm văn bản pháp luật nêu trên được thể hiện thông qua hai hình thức chủ yếu là sáng tạo pháp luật và hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tối cao ở các mức độ khác nhau đã giải quyết, hay phát triển và làm sáng tỏ nhiều khái niệm, phạm trù và luận điểm của pháp luật hình sự; và chính từ những vấn đề này đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và soạn thảo ra các tư tưởng, quan điểm của khoa học luật hình sự Việt Nam đối với nhiều quy phạm và nhiều chế định pháp luật hình sự tương ứng mà sau này chúng đã được nhà làm luật Việt Nam pháp điển hóa và ghi nhận trong hệ thống pháp luật hình sự quốc gia kể từ Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam vào năm 1985 đến Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4. Về mặt thực tiễn

Đối với mặt thực tiễn, chính là trên cơ sở của việc áp dụng nhiều lần các quy phạm trừu tượng của pháp luật hình sự thực định vào những tình huống cụ thể xảy ra trong đời sống xã hội mà thông thường các tình huống ấy rất phong phú và đa dạng, cũng như trong quá trình giải quyết và phát triển, cụ thể hóa, thậm chí sáng tạo nên các quy phạm mới khi xây dựng thêm một số cấu thành tội phạm (vì pháp luật hình sự nước nhà chưa được pháp điển hóa và tiếp tục góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật hình sự - kể cả sau khi pháp luật hình sự nước nhà đã pháp điển hóa, chính những giải thích (hướng dẫn) thông nhất có tính chất chỉ đạo về áp dụng pháp luật hình sự của thực tiễn xét xử hình sự không những chỉ góp phần cho hoạt động lập pháp (nhà làm luật) và hoạt động lý luận (các nhà khoa học luật hình sự) khẳng định tính quyết định và giá trị xã hội của các quy phạm và các chế định pháp luật hình sự nước nhà, mà thực tiễn xét xử hình sự còn là lĩnh vực thông qua đó giúp kiểm tra được sự chính xác về mặt khoa học, tính khả thi và hiệu quả về mặt xã hội của từng chế định và quy phạm pháp luật hình sự tương ứng. Mà nếu xét về bản chất pháp lý thì nó (thực tiễn xét xử) đồng thời cũng chính là một trong những nguồn quan trọng của pháp luật hình sự.

5. Kết thúc vấn đề

Như vậy, tất cả những điều được phân tích trên đây đã cho phép khẳng định vai trò quan trọng của thực tiễn xét xử, nhưng suốt 75 năm qua trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hình sự nói riêng của Việt Nam (kể cả trong hai thời kỳ trước và sau khi pháp điển hóa pháp luật hình sự nưốc nhà cho đến nay) vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo riêng biệt nào đề cập riêng biệt việc phân tích khoa học để làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện vai trò của thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình xây dựng và hình thành cũng như phát triển và tiếp tục phát triển của pháp luật hình sự thực định Việt Nam 60 năm qua kể từ khi thành lập Tòa án nhân dân tối cao đến nay (từ năm 1960 đến ngày nay).

Như vậy, tất cả những vấn đề được phân tích trên đây không những chỉ cho phép khẳng định ý nghĩa quan trọng của thực tiễn xét xử hình sự tại Tòa án nhân dân tối cao, lý giải mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết của nó với pháp luật hình sự, mà còn là luận chứng cho sự cần thiết cấp bách của việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực tiễn xét xử của nước ta.

Trân trọng!