1. Nhu cầu sử dụng đất ở Việt Nam

Từ năm 2010 đến năm 2020 Việt Nam cần có thêm 1 tỷ mét vuông nhà ở để phục vụ nhu cầu nhà ở của xã hội và qua đó mỗi năm tới đây cần xây dựng 100 triệu mét vuông nhà ở để đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Theo thống kê, cho đến tháng 8 năm 2010 chúng ta có 254 khu công nghiệp với tổng diện tích 68.800 hecta, 15 khu kinh tế vối tổng diện tích 627.623 hecta đất. Những con số nói trên đã khẳng định rằng, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nhu cầu đất đai cho việc đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế nói riêng và cho sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước là rất cần thiết. Do vậy, quỹ đất phục vụ cho công cuộc phát triển nói trên cần phải lấy từ nhiều nguồn trong đó có phần từ thu hồi đất của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình.

Nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp hóa và đô thị hoá đối với một nước còn chậm phát triển như Việt Nam là rất lớn. Vấn đề đặt ra là, làm sao cân đối được giữa việc giữ gìn an ninh lương thực quốc gia, giữ được quỹ đất nông nghiệp cho nông dân với quá trình đô thị hóa nhanh hiện nay để nông dân không bị mất đất. Việc thu hồi đất trong 5 năm qua theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với diện tích hơn 366.000 ha đất nông nghiệp, tác động đến gần 627.495 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và ảnh hưởng tới đời sống của hơn 2,5 triệu người, trong đó có những hộ gia đình rơi vào tình trạng bị bần cùng ho. Đây chính là những cảnh báo quan trọng khi nhiều địa phương vẫn lấy đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới và phê duyệt các quy hoạch sân golf một cách vô tội vạ. Trung bình chung, cứ thu hồi mỗi hecta đất nông nghiệp sẽ có 10 nông dân bị mất việc và vối tốc độ 73,2 nghìn hecta đất bị thu hồi mỗi năm sẽ có 70 vạn nông dân không có công ăn việc làm. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Hồng với hơn 300.000 hộ, tiếp đến là Đông Nam Bộ với 108.000 hộ, đặc biệt thành phố Hà Nội là địa phương có số hộ bị ảnh hưởng lớn nhất nước với 138.291 hộ gia đình.

2. Cùng với quá trình hiện đại hoá đất nước, nông dân bị kéo vào vòng xoáy của sự nghèo đói

Theo đánh giá của đại diện Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam thì: “nông dân là những người nghèo nhất, nhưng cùng với quá trình hiện đại hoá đất nước, họ đã bị kéo vào vòng xoáy của sự nghèo đói”. Không thể phủ nhận sự đúng đắn của quan điểm trên, bởi vì, khi bị thu hồi đất, người dân được nhận một khoản tiền bồi thường nhưng đa phần nông dân lại tiêu tốn các khoản tiền lớn vào việc mua sắm, xây dựng nhà cửa, có tiết kiệm thì sau một vài năm họ trở nên vô sản. Tại các địa phương bị thu hồi đất, có tới 67% số hộ vẫn phải quay trở lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề ổn định. Trong quá trình thực hiện Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, một số địa phương đã giao đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cho người dân trong trường hợp bị thu hồi trên 30% đất nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất.

Điều đáng tiếc là, mục đích của việc giao đất dịch vụ này cho người dân là để họ có kế sinh nhai trên đất kinh doanh phi nông nghiệp, bởi vì đa phần quỹ đất này các địa phương thường bố trí gần các trục đường giao thông, liên thôn liên xã thuận tiện cho kinh doanh và các nghề về dịch vụ. Song, người được giao các suất đất dịch vụ này lại sang nhượng cho các đối tượng không trực tiếp sản xuất nông nghiệp và dùng khoản tiền này cho các mục đích tiêu dùng. Hậu quả là, họ dần trở nên trắng tay, không còn tư liệu sản xuất và đất đai lại rơi vào giới đầu cơ đất, găm đất chờ cho các quy hoạch triển khai để thu lợi. Mặt khác, tuy tha thiết với nghề nông nhưng thực tế đáng buồn là không có đất cho sản xuất, cho nên đại bộ phận những hộ nông dân này lại rơi vào cảnh thất nghiệp cùng với các tệ nạn xã hội kéo theo. Vậy nên, chính sách nào cho nông dân để họ không những thoát nghèo, không bị tái nghèo trong bối cảnh số lượng lớn lao động dôi dư trong độ tuổi từ 35-60 tại các địa phương đang chiếm một khối lượng lớn?

3. Việt Nam nỗ lực đưa ra nhiều quy định mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Việt Nam là đất nước có trên 70% lao động sông bằng nghề nông. Bởi vậy, lo cho nông dân chính là lo cho nền tảng quốc gia, lo cho an sinh xã hội của đất nước và cũng chính là bảo đảm quyền con người cho chủ thể đông đảo nhất ở nước ta nhưng cũng bị ảnh hưởng nhiều nhất của quá trình phát triển. Từ khía cạnh đời sống đó, trong những năm qua, đặc biệt từ sau khi ban hành Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ta đã rất nỗ lực đưa ra nhiều quy định mới về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất cho các mục tiêu phát triển. Các chính sách của Nhà nước cũng chính là để an dân, ổn định về kinh tế xã hội và chăm lo đời sống cho người lao động khi mất tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai.

4. Các khoản nhà nước hỗ trợ khi thu hồi đất

Theo khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.

- Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất ngoài việc được bồi thường (nếu đủ điều kiện được bồi thường) thì còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ.

- Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất gồm:

  • Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
  • Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;
  • Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
  • Hỗ trợ khác.

- Khi thu hồi đất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi.

5. Hỗ trợ đời sống và ổn định sản xuất

Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP (được bổ sung bởi Khoản 5 Điều 4 Nghị định 01/2017/NĐ-CP) hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất gồm 07 đối tượng, cụ thể:

- Đối tượng 1. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp.

Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp khi thực hiện các Nghị định sau:

  • Nghị định 64/CP năm 1993 Bản quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp (sửa đổi bởi Nghị định 85/1999/NĐ-CP).
  • Nghị định 02/CP năm 1994 Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
  • Nghị định 163/1999/NĐ-CP về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp;
  • Nghị định 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai.

Như vậy, đối tượng được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất chỉ là những hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp…theo 05 Nghị định định trên.

- Đối tượng 2: Nhân khẩu nông nghiệp phát sinh.

Nhân khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình tại đối tượng 1 nhưng phát sinh sau thời điểm giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình đó;

(Nhân khẩu nông nghiệp là người trực tiếp sản xuất và có thu nhập ổn định từ nông nghiệp - UBND cấp xã sẽ xác nhận nhân khẩu nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất để làm căn cứ hỗ trợ).

- Đối tượng 3: Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp.

  • Hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp theo quy định tại đối tượng 1 đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật,
  • Được UBND cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận là đang trực tiếp sản xuất trên đất nông nghiệp đó;

- Đối tượng 4: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất.

  • Nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp;

- Đối tượng 5: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất của các nông, lâm trường quốc doanh hoặc công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

- Đối tượng 6: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó;

- Đối tượng 7: Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất.

Mức hỗ trợ ổn định đời sống:

Đối tượng 1, 2, 3, 4 được hỗ trợ như sau:

- Khi thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ:

  • Hỗ trợ 06 tháng (nếu không phải di chuyển chỗ ở).
  • Hỗ trợ 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
  • Hỗ trợ tối đa là 24 tháng (khi di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

- Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ:

  • Hỗ trợ 12 tháng (nếu không phải di chuyển chỗ ở),
  • Hỗ trợ 24 tháng (nếu phải di chuyển chỗ ở),
  • Hỗ trợ tối đa 26 tháng năm (khi phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

Lưu ý: Mức hỗ trợ bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)