1. Tài sản sinh lãi là gì ?

1.1 Khái niệm tài sản

Theo điều 105 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Theo khái niệm pháp lý, vật là tài sản và tài sản là vật hữu hình. Tuy nhiên, không phải mọi vật chất đều được coi là tài sản trong giao dịch dân sự. Tiền là một là tài sản đặc biệt, có những điểm khác biệt với vật: Đầu tiên vật có nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, tiếp theo vật có thể khai thác công dụng bằng nhiều phương thức khác nhau ,.. nhưng tiền sử dụng để thanh toán, trao đổi. Tiền có ba chức năng: công cụ thanh toán, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Đối với tiền, chủ sở hữu sử dụng cũng đồng thời là định đoạt trong các hoạt dộng kinh doanh hay tiêu dùng. Thứ ba vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng nhưng tiền được xác định theo mệnh giá của đồng tiền đó. Thứ tư, chủ sở hữu vật tự do định đoạt vật, tuy nhiên đối với tiền thì Nhà nước có quyền tiêu hủy. Giấy tờ có giá là các loại giấy tờ có giá trị và có thể thanh toán, trao đổi. Tuy nhiên, việc lưu thông giấy tờ có giá phải theo quy định của pháp luật, giây tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.

Quyền tài sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất. Quyền tài sản có những loại như quyền sử dụng đất, quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nơ, quyền sở hữu đối với phát minh , sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,... Các quyền này trị giá được bằng tiền.

Tài sản bao gồm động sản và bất động sản

- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản và theo tính chất động sản là những tài sản có thể dịch chuyển mà không làm ảnh hưởng đến công dụng của tài sản.

- Bất động sản là tài sản không di dời được, nếu bị di dời thì công dụng của tài sản không còn hoặc không thể di dời như đất đai. Ngoài ra, bất động sản có thể là những tài sản do pháp luật quy định.

- Tài sản hiện có là những tài sản có đầy đủ công dụng mà có thể khai thác, sử dụng được để phục vụ cho các nhu cầu của con người.

- Tài sản hình thành trong tương lai là những tài sản sẽ hình thành sau khi quan hệ dân sự được xác lập. Hoặc trên thực tế tài sản đã hình thành chủ sở hữu chưa có quyền sở hữu về mặt pháp lý như căn hộ chưa đăng ký quyền sở hữu.

1.2 Khái niệm tài sản sản sinh lãi

Tài sản sinh lãi là bất kỳ tài sản phát sinh tiền lãi hoặc thu nhập lệ phí - nguồn thu nhập ròng quan trọng của ngân hàng. Tài sản sinh lãi bao gồm các khoản cho vay và cho thuê, nhưng không bao gồm thu nhập tiền lãi chưa thu; Chứng khoán chính phủ Mỹ, các chứng khoán công ty và đô thị được nắm giữ như là chứng khoán đầu tư; chứng khoán được mua dưới thỏa thuận bán lại (Hợp đồng mua lại); các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn trong các ngân hàng khác; các quỹ liên bang được bán cho ngân hàng khác; và tài sản tài khoản thương mại.

2. Tỷ suất sinh lợi của Tài sản có sinh lãi (Yield on Earning Assets)

Công thức tính: Tỷ suất sinh lợi của Tài sản Có sinh lãi (YOEA) = Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự/Tài sản Có sinh lãi bình quân 

Trong đó: Tài sản Có sinh lãi = Tiền gửi tại NHNN + Tiền gửi tại các TCTD khác + Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng 

Tài sản Có sinh lãi là nguồn tạo thu nhập chính của hầu hết các ngân hàng. 

Vì phụ thuộc nhất định vào mức lãi suất chung, YOEA có thể biến động mạnh qua từng giai đoạn. 

YEOA quá cao so với các ngân hàng khác có thể cho thấy mức độ sinh lời từ Tài sản Có, nhưng cũng thể hiện mức độ rủi ro cao của danh mục Tài sản có sinh lãi, đặc biệt là các khoản vay. 

Trong khi đó, YOEA thấp có thể hàm ý rằng ngân hàng đang sở hữu một danh mục tài sản Có ít hiệu quả, khả năng đem lại lợi nhuận thấp.

3. Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Trong hầu hết các nghiên cứu, các nhân tố như quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, rủi ro, chi phí hoạt động thường được sử dụng là các nhân tố nội tại tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM (Athanasoglou và cộng sự, 2008; Dietrich và Wanzenried, 2011, Batten và Vinh, 2019). 
Quy mô tổng tài sản: Tác động dương của quy mô đến hiệu quả của NHTM được tìm thấy tại nhiều kết quả nghiên cứu. Mitchell và Onvural (1996) sử dụng dữ liệu từ 1986-1990 của các NHTM tại Mỹ có tổng tài sản từ 100 triệu USD trở lên và được phân nhóm theo quy mô. Nghiên cứu xây dựng đường biên hiệu quả về chi phí theo dạng hàm Fourier Flexible thay vì Translog dạng thông thường, sau đó, thực hiện ước lượng theo cả hai cách tiếp cận trung gian (Intermediation Approach) và cách tiếp cận sản xuất (Production Approach). Kết quả cho thấy các NHTM quy mô lớn thường có hiệu quả về mặt chi phí. Nghiên cứu khác có như Wheelock và Wilson (2012) với phương pháp phi tham số cho mẫu nghiên cứu gồm các NHTM Mỹ giai đoạn 1984-2006 cho thấy sự hiện hữu của tính kinh tế nhờ quy mô với tất cả các NHTM thuộc các nhóm quy mô khác nhau. Stever (2007) cho rằng nhìn chung các NHTM lớn thường có ưu thế trong việc đa dạng hóa danh mục tài sản cũng như hoạt động của mình, trong khi các NHTM nhỏ thường không có ưu thế đó, điều này khiến họ phải cố gắng tiếp cận các khách hàng vay tiền có rủi ro tín dụng thấp hoặc yêu cầu nhiều hơn tài sản bảo đảm.
 
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại tìm thấy mối quan hệ âm giữa quy mô và hiệu quả NHTM. Pasiouras và Kosmidou (2007) sử dụng dữ liệu bảng cân bằng của 584 NHTM tại liên minh Châu Âu giai đoạn 1995 đến 2001 tìm thấy tác động âm từ quy mô NHTM đến ROAA đối với cả các NHTM nước ngoài và các NHTM trong nước, hàm ý tính kinh tế nhờ quy mô và phạm vi của các NHTM nhỏ và ngược lại đối với các NHTM lớn. Một số nghiên cứu khác lại cho thấy quy mô tổng tài sản không có tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả kinh doanh như Fukuyama (1993); McKillop và cộng sự (1996) đối với các NHTM tại Nhật Bản; Sufian (2011) với các NHTM tại Hàn Quốc hay Öhman và Yazdanfar (2018) với các NHTM tại Thụy Điển. 
 
Mức độ tập trung tổng tài sản ngành: Dưới cách tiếp cận cấu trúc cạnh tranh, mức độ tập trung ngành (chỉ số CRk hoặc HHI) về tổng tài sản thường được sử dụng để kiểm định sự phù hợp của giả thuyết SCP và giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc đối với ngành NHTM và thường có các kết quả khác biệt giữa các quốc gia và thị trường. Giả thuyết SCP (Structure conduct performance hypothesis) hay còn gọi là giả thuyết Cấu trúc - hành vi - hiệu quả cho rằng các doanh nghiệp có quy mô hoặc thị phần lớn nhất thị trường thường có sức mạnh thị trường lớn hơn phần còn lại, cho phép chúng có lợi thế cạnh tranh về giá (VD: bán giá thấp hơn), điều này giúp chúng đạt được hiệu quả cao hơn các doanh nghiệp có quy mô hoặc thị phần nhỏ. Ngược lại, giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc (Efficient structure hypothesis) cho rằng các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn sẽ cạnh tranh tốt hơn, qua đó giành được thị phần lớn hơn và lợi nhuận cao hơn các doanh nghiệp hoạt động phi hiệu quả.
 
Một số kết quả cho thấy mức độ tập trung ngành tác động dương đến hiệu quả kinh doanh của NHTM, hoặc tác động âm đến mức độ cạnh tranh trong ngành, qua đó ủng hộ giả thuyết SCP. Bhatti và Hussain (2010) sử dụng dạng mô hình trên và hồi quy với mẫu gồm 20 NHTM tại Pakistan giai đoạn 1996 đến 2004. Kết quả ủng hộ giả thuyết SCP và bác bỏ giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc khi chỉ số CR10 về tổng tài sản tác động dương và MS tác động âm đều có ý nghĩa thống kê đến cả ROA và ROE của các NHTM. Khan và cộng sự (2017) sử dụng 6 chỉ số đo lường mức độ tập trung ngành NHTM gồm CR5, HHI dựa trên tổng tài sản, dư nợ cho vay và số dư tiền gửi và 4 chỉ số khác là chỉ số Lerner trước và sau điều chỉnh, Panzar-Rosse H-statistics, và chỉ số Boone với phương pháp GMM hệ thống hai bước để đánh giá mức độ cạnh tranh ngành NHTM tại 5 quốc gia Đông Nam Á gồm Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore, Thái Lan giai đoạn từ 1995 đến 2014. Kết quả cho thấy các mức độ tập trung có mối quan hệ âm với mức độ cạnh tranh trong ngành, hàm ý ủng hộ giả thuyết SCP. 
 
Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho thấy giả thuyết SCP không phù hợp với mẫu nghiên cứu của mình. Berger (1995) sử dụng mẫu gồm 4800 NHTM tại Mỹ giai đoạn từ 1980 đến 1989 với biến phụ thuộc là ROA và ROE. Kết quả nghiên cứu, do đó, ủng hộ giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc. Park và Weber (2006) kiểm định 2 giả thuyết SCP và Hiệu quả - cấu trúc với ngành NHTM Hàn Quốc giai đoạn từ 1992 đến 2002 với chỉ số HHI tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu hàm ý ủng hộ giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc và bác bỏ giả thuyết SCP. 
 
Dietrich và Wanzenried (2011) sử dụng mẫu dữ liệu bảng không cân bằng gồm 372 NHTM tại Thụy Sĩ giai đoạn từ 1999 đến 2009 với phương pháp GMM hệ thống, mô hình cũng bao gồm 3 nhóm biến độc lập như Athanasoglou và cộng sự (2008), trong đó, cấu trúc ngành cũng được đại diện bằng chỉ số HHI. Kết quả hàm ý giả thuyết SCP có mức độ phù hợp thấp đối với mẫu nghiên cứu.
 
Chronopoulos và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp GMM hệ thống 2 bước với mẫu dữ liệu bảng không cân bằng gồm 14352 NHTM giai đoạn từ 1984 đến 2010 tại Mỹ cho thấy trong phần lớn các trường hợp, chỉ số HHI về tài sản tác động âm tới ROA với ý nghĩa thống kê cao, còn lại không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu hàm ý bác bỏ giả thuyết SCP. Tan (2016) sử dụng GMM hệ thống 1 bước với mẫu gồm 41 NHTM tại Trung Quốc giai đoạn từ 2003 đến 2011 cũng bác bỏ giả thuyết SCP (đo lường bằng HHI) và chấp nhận giả thuyết Hiệu quả - cấu trúc đối với mẫu nghiên cứu.
 
Vốn chủ sở hữu: Một dòng quan điểm cho rằng nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu giúp tăng khả năng chịu đựng khi tổn thất phát sinh từ các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt là rủi ro tín dụng, qua đó, có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để thu về lợi nhuận cao hơn (Berger, 1995b). Bên cạnh đó, quan điểm về chi phí cho rằng việc nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu giúp tăng xếp hạng tín nhiệm, từ đó, giúp NHTM giảm chi phí vốn (Molyneux, 1993). 
 
Tuy nhiên, lý thuyết danh mục đầu tư cho rằng tồn tại mối quan hệ đánh đổi giữa rủi ro-lợi nhuận kỳ vọng, khi NHTM nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tổng thể của NHTM được giảm thiểu, qua đó, mức sinh lời kỳ vọng sẽ không cao bằng trường hợp tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn hay nói cách khác, trường hợp NHTM sử dụng đòn bẩy tài chính lớn hơn (Berger, 1995a). Tan (2014) với mẫu các NHTM tại Trung Quốc cho thấy các NHTM có mức vốn chủ sở hữu lớn (đòn bẩy tài chính thấp) thường có ROE thấp hơn. Nhìn chung, chiều tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến khả năng sinh lời của NHTM chưa được khẳng định rõ ràng từ các lý thuyết (Dietrich và Wanzenried, 2011), nó phụ thuộc vào từng mẫu nghiên cứu và biến phụ thuộc sử dụng trong mô hình thực nghiệm. 
 
Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi: Kết quả các nghiên cứu về tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời và rủi ro của NHTM thường cho thấy sự không nhất quán về chiều tác động. Saunders và Walter (1994) khảo sát 18 nghiên cứu trước đó về giả thuyết các hoạt động ngoài lãi giảm thiểu rủi ro ngân hàng tại Mỹ cho thấy 09 nghiên cứu ủng hộ, 06 nghiên cứu bác bỏ và 03 nghiên cứu chưa thể kết luận cụ thể.
 
Các kết quả tích cực về thu nhập ngoài lãi cho thấy việc đẩy mạnh các hoạt động ngoài lãi mang đến khả năng sinh lời cao hơn (Chiorazzo và cộng sự, 2008), hiệu quả hoạt động cao hơn (Landskroner và cộng sự, 2005), hoặc giúp giảm thiểu rủi ro tổng thể cho NHTM (Allen và Jagtiani, 2000). Hughes và Mester (2013) cho rằng các NHTM lớn ngày nay có sự hiệu quả cao theo quy mô vì chúng ngày càng biết tối ưu chi phí dựa vào công nghệ và tận dụng các loại chi phí không tăng tương ứng theo quy mô. Điều này hàm ý việc ứng dụng công nghệ thông tin để tăng cường các hoạt động phi truyền thống, và thu nhập ngoài lãi cận biên cao giúp các NHTM lớn ngày càng có được hiệu quả cao. 
Các kết quả tiêu cực lại cho thấy thu nhập ngoài lãi gây ra mức độ biến động lợi nhuận cao hơn thu nhập từ lãi, tức mang lại rủi ro cao hơn hoặc làm giảm lợi nhuận sau điều chỉnh rủi ro (Risk-adjusted profit) như DeYoung và Roland (2001), DeYoung và Rice (2004), Smith và cộng sự (2003), Stiroh (2004a, b), Stiroh (2006), Stiroh và Rumble (2006). Quan điểm thứ ba trung gian giữa hai luồng trên. Demirgüç-Kunt và Huizinga (2010) cho thấy việc chuyển dịch sang xu hướng dựa nhiều vào thu nhập ngoài lãi thường giúp gia tăng khả năng sinh lời (ROA) nhưng cũng làm gia tăng rủi ro, do đó, lợi ích tổng hợp mà nó mang lại là nhỏ.
 
Rủi ro thanh khoản : Một số nghiên cứu cho thấy tác động âm của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh của NHTM như Guru và cộng sự (1999) với các NHTM Malaysia, tuy nhiên, chỉ đúng với ROA đo bằng lợi nhuận sau thuế, kết quả không có ý nghĩa thống kê khi ROA đo bằng lợi nhuận trước thuế cũng như ROE (trước và sau thuế). Tương tự, Chronopoulos và cộng sự (2015) cũng tìm thấy tác động âm của rủi ro thanh khoản đến cả ROA và ROE của NHTM tại Mỹ. 
 
Một số nghiên cứu cho kết quả ngược lại, rủi ro thanh khoản có tác động dương đến hiệu quả kinh doanh như Sufian (2011) với các NHTM Hàn Quốc, Pasiouras và Kosmidou (2007) với các NHTM tại Châu Âu, hoặc cho thấy khả năng thanh khoản cao tác động âm đến khả năng sinh lời của NHTM tại Mỹ (Saunders và cộng sự, 2016). 
 
Rủi ro tín dụng: Nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng tỷ lệ nợ xấu (Non-performing loan) hoặc chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (Loan loss provision) trên dư nợ đại diện cho chất lượng tín dụng, nói cách khác, rủi ro tín dụng của NHTM. Theo quan điểm thông thường, khi tỷ lệ nợ xấu hoặc tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng gia tăng cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM xấu đi và rủi ro tín dụng gia tăng, do vậy, tác động xấu tới hiệu quả kinh doanh của NHTM. Tuy vậy, nghiên cứu thực nghiệm lại cho các kết quả khá đa dạng, phụ thuộc từng quốc gia, giai đoạn, cũng như tiêu chí đo lường hiệu quả kinh doanh. 
Chi phí hoạt động: Chi phí hoạt động (Operation Expenses) là nhân tố được giảm trừ trong tổng thu nhập hoạt động để tạo thành lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của NHTM. Một cách trực quan, mối quan hệ âm giữa chi phí hoạt động và khả năng sinh lời của NHTM thường được kỳ vọng. Tuy nhiên, chi phí hoạt động cũng có thể tác động dương đến khả năng sinh lời, ví dụ trong trường hợp chi phí trả này giúp nâng cao năng suất vốn nhân lực (Molyneux và Thornton, 1992), nói cách khác, việc trả lương cao có thể giúp người lao động có thêm động lực làm việc hiệu quả và nhiều hơn, giúp NHTM tăng lợi nhuận. Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản là tiêu chí tốt nhất đại diện cho chí phí đầu vào ngoài lãi của NHTM (Fries và Taci, 2005), nó thể hiện hiệu quả quản lý NHTM. 
Các nhân tố kinh tế vĩ mô: Kết quả kinh doanh của NHTM thường chịu tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô. Một số nhân tố kinh tế vĩ mô thường được xem xét khi đánh giá tác động của chúng lên khả năng sinh lời của NHTM thường là tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng cung tiền (Athanasoglou, 2008; Caporale và cộng sự, 2017). 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề về Tài sản sinh lãi. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./