1. Tài sản thừa kế có phải chia cho con rể không ?

Chào luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi sau khi mất muốn để lại tài sản cho tôi và 2 người con của tôi chứ không muốn bị chia cho cả chồng tôi.
Như vậy có được không? Nếu không muốn chia tài sản cho chồng tôi thì phải làm như thế nào ? Và sau khi ly hôn thì tài sản bố mẹ tôi để lại có bị chia với chồng tôi không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi yêu cầu giải đáp tới bộ phận tư vấn luật của chúng tôi. Nội dung câu hỏi của bạn được chúng tôi nghiên cứu và hướng dẫn như sau.

Thứ nhất, về vấn đề để lại di chúc của bố, mẹ bạn.

Theo Bộ Luật dân sự 2015, tại Điều 624 quy định:

" Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."

Như vậy, người để lại di chúc có quyền chỉ định người được hưởng di sản thừa kế trong di chúc. Việc chỉ định ai là người được thừa kế di sản do người lập di chúc để lại hoàn toàn do ý chí chủ quan của người đó. Đồng thời người để lại di chúc phải đảm bảo điều kiện theo quy định về di chúc hợp pháp như sau:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Do đó, nếu bố, mẹ bạn muốn để lại tài sản cho bạn và con của bạn mà không muốn để lại cho chồng của bạn thì bố, mẹ bạ hoàn toàn có thể lập di chúc trong đó chỉ định người thừa kế là bạn và con của bạn. Đồng thời để di chúc do bố hoặc mẹ bạn lập được công nhận là hợp pháp thì di chúc phải đảm bảo điều kiện của một di chúc hợp pháp và được thể hiện bằng một trong các hình thức của di chúc như sau ( Điều 627, 628, 629 Bộ Luật dân sự năm 2015):

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Ngoài ra tại Điều 644 quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc gồm những người sau:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Như vậy, chồng của bạn, tức con rể của bố, mẹ bạn không thuộc đối tượng được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Do đó, khi bố, mẹ bạn để lại di chúc cho bạn và các con của bạn thì chồng của bạn hoàn toàn không có quyền yêu cầu chia di sản đối với di sản thừa kế do bố, mẹ bạn để lại cho bạn và các cháu.

Thứ hai, vấn đề chia tài sản được thừa kế sau khi ly hôn.

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản riêng của vợ, chồng:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Giải quyết chế độ tài sản của vợ chồng khi ly hôn thực hiện theo quy định tại Điều 59, theo đó tài sản riêng của vợ, chồng được chia như sau:

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Căn cứ các quy định trên, tài sản mà bạn được thừa kế từ bố, mẹ của bạn là tài sản riêng của bạn, do vậy sau khi ly hôn chúng vẫn thuộc sở hữu riêng của bạn mà chồng của bạn không có quyền được chia đối với những tài sản là tài sản riêng của bạn. Để dễ dàng và thuận tiện cho việc chứng minh đó là tài sản riêng, bạn nên lưu giữ các chứng cứ chứng minh tài sản bạn được thừa kế riêng từ bố, mẹ bạn, trong trường hợp này đó là bản di chúc của bố, mẹ bạn.

Như vậy, bố, mẹ bạn muốn để lại tài sản cho bạn và các cháu mà không muốn để lại cho chồng của bạn thì hoàn toàn có thể thực hiện được bằng cách lập di chúc. Và các tài sản bạn được thừa kế từ bố, mẹ bạn là tài sản riêng của bạn nên không bị chia khi ly hôn.

Trên đây là giải đáp của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Xác định tài sản thừa kế và cách phân chia di sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi là chủ sở hữu ngôi nhà 3 tầng và có 3(ba) người con, chị gái tôi, anh trai tôi và tôi. Bố mẹ tôi đã chết (mẹ tôii chết năm 2010, bố tôi chết năm 2014). Trước khi chết bố, mẹ tôi không để lại di chúc, không để lại bất kỳ một nghĩa vụ nào. Ông bà hai bên nội ngoại chết trước bố mẹ tôi. Theo tôi được biết di sản của bố, mẹ tôi để lại là ngôi nhà 3 tầng sẽ được chia đều cho 3(ba) người con theo pháp luật. Nhưng năm 2003 khi đó bố mẹ tôi còn sống, anh tra tôi có gia đình cần tiền muốn mua nhà ra ở riêng. Bố mẹ tôi đã dùng tiền của tôi gửi về (tiền do tôi lao động ở bên nước ngoài gửi về cho bố mẹ giữ hộ) để đưa cho anh trai tôi đủ số tiền mua nhà, có viết giấy biên nhận tiền và cam đoan sau này không tranh chấp với tôi ngôi nhà đấy ( coi như tôi đã mua suất của anh trai tôi), trong đó có chữ ký của cả bố, mẹ và chữ ký của 2(hai) vợ chồng anh trai tôi.
Do bố mẹ không để lại di chúc anh trai tôi lại quay lại đòi 1/3 ngôi nhà ?
Mong luật sư tư vấn để lấy lại sự công bằng. Trân trọng.

Luật sư phân tích:

=> Theo quy định của pháp luật, đối với trường hợp người chết không để lại di chúc thì phần di sản được tiến hành chia theo pháp luật, theo đó, mỗi người ở hàng thừa kế thứ nhất được nhận một phần di sản bằng nhau. Còn đối với trường hợp của bạn, để tiến hành được thủ tục khai nhận di sản thì cần phải có chữ ký của anh của bạn. Nếu anh của bạn không đồng ý trao 1/3 giá trị tài sản căn nhà như hai bên đã thỏa thuận tại thời điểm bạn cho anh trai của bạn vay tiền, thì bạn có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có căn nhà này để yêu cầu giải quyết.

Thưa luật sư, xin hỏi: Người con dâu có được là người làm chứng cho việc lập di chúc khi mà di chúc do bố chồng để lại có phân chia tài sản cho người chồng và con của người con dâu này?

=> Theo quy định tại Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

"Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự."

Như vậy, chỉ thuộc vào trong 3 trường hợp trên thì mới không được làm chứng, còn nếu như bố của chồng bạn không định đoạt lại tài sản cho bạn, cũng như việc để lại di sản riêng cho chồng và cho con thì không được xác định bạn thuộc trường hợp có quyền và nghĩa vụ liên quan tới nội dung di chúc.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Giải đáp về giải quyết tranh chấp về tài sản thừa kế ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Vào năm 2012 Sau khi ba tôi qua đời mẹ kế và em tôi đã chuyển quyền sử dụng đất cho em út tôi đứng tên mà không thông qua 3 anh em đời trước, sau đó tôi đi kiện ra toà và có hoà giải với bên mẹ kế và em đời sau, 3 anh em chúng tôi chấp nhận nhận mỗi người 200tr mà người đại diện trả là em út người đang đứng sổ đỏ. Nhưng đến nay em út tôi vẫn chưa thối trả mà còn tách thửa và sang tên lại cho mẹ mình đứng sổ đỏ 1/2 thửa và bán 1/2 nhưng vẫn không trả tiền.
Vậy xin hỏi luật sư em út tôi có phải có hành vi lừa đảo chiếm đoạn của anh em chúng tôi không, làm sao tôi có thể lấy được tiền trong khi em út tôi không còn tài sản nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Mayumi

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật ?

Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật - Ảnh minh họa

Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

..............

Thủ đoạn gian dối ở đây được hiểu là việc đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, sau khi bố bạn qua đời, mẹ kế và em út của bạn đã chuyển quyền sử dụng đất cho người em út đứng tên mà không thông qua ba anh em đời con bà cả. Như vậy, việc làm của mẹ kế và người em út con bà hai như vậy là trái pháp luật. Theo đó, ba anh em bạn (con bà cả), mẹ kế và người em út con bà hai đều là đồng thừa kế đối với mảnh đất của bố bạn. Chính vì vậy mà tất cả 05 người đều có quyền đối với mảnh đất trên, không ai được chuyển giao, bán mảnh đất trên mà không được sự đồng ý, nhất trí của những người còn lại.

Trở lại vấn đề, để được chuyển quyền sử hữu mảnh đất cho người con trai út, mẹ kế và người em út nhất định đã thực hiện hành vi gian dối nào đó. Hơn nữa, sau khi chuyển quyền sở hữu cho người em út, người em út đã tiến hành tách thửa, sang tên lại cho mẹ mình 1/2 mảnh đất và bán 1/2 mảnh đất còn lại. Như vậy, không những chỉ thực hiện hành vi gian dối mà người em út của bạn còn có hành vi chiếm đoạt mảnh đất trên. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 thì người em út của bạn đã cấu thành hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản.

Trước đó, ba anh em bạn có đi kiện ra tòa và chấp nhận hòa giải với số tiền là 200 triệu đồng/một người, do em út đứng lên trả. Tuy nhiên, cho tới hiện tại đã quá lâu mà vẫn chưa thấy em út thực hiện nghĩa vụ trả cho mỗi anh 200 triệu đồng. Chính vì vậy, anh và hai người em trai của mình có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án yêu cầu người em út của bạn phải thi hành thỏa thuận đã cam kết.

Vấn đề bạn băn khoăn ở đây là người em út đó hiện tại không còn tài sản nào có giá trị thì việc thi hành án sẽ được thực hiện như thế nào? Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần xem xét lại việc người em út chuyển 1/2 mảnh đất cho người mẹ và bán 1/2 mảnh đất là trái quy định của pháp luật. Theo đó, việc chuyển giao đất và hợp đồng mua bán đất sẽ bị vô hiệu. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, khi hợp đồng vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu. Khi đó, nếu người em muốn lấy mảnh đất thì phải hoàn trả cho mỗi đồng thừa kế 200 triệu đồng. Nếu không, mảnh đất này sẽ được bán để chia đều cho các đồng thừa kế.

Trên đây là thư hướng dẫn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Đòi lại tài sản thừa kế như thế nào ?

Thưa Luật sư: Em vừa nhận được tin rằng ba em trước khi chết có lập di chúc để lại căn nhà trị giá 900 triệu cho em. Nhưng em lúc đó chỉ 13 tuổi, mẹ mất sớm trước ba nên ba làm giấy ủy quyền giám hộ cho chú em. Chú em làm giả di chúc ba để lại căn nhà đó cho chú. Em không biết gì cả. Được biết sau này chú bán căn nhà với giá gần 2 tỷ, chú lấy tiền để làm ăn, mở công ty nho nhỏ. Công ty của chú kinh doanh nhờ vào việc bán căn nhà đó, sau chú chuyển sở hữu cho con gái của chú, con gái chú chuyển sở hữu cho chồng cô ta.
Em có thể đòi lại tài sản đó bằng cách nào ạ? Gia đình chú em, con gái và chồng cô bị kết tội gì? Nếu chứng minh được chú em làm giả di chúc, tài sản của chú sẽ bị tịch thu và trả lại cho em phải không ạ?

Xác định tài sản thừa kế theo pháp luật và cách phân chia di sản ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

*Thừa kế tài sản:

Theo thông tin bạn cung cấp, chú bạn đã bán căn nhà gần 2 tỷ

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên, trước hết, di sản thừa kế được chia thừa kế theo di chúc nếu di chúc hợp lệ. Tuy nhiên, bạn không cung cấp thông tin xác định thời điểm mở thừa kế tới hiện nay là bao nhiêu thời gian. Nếu từ thời điểm đó đến nay vẫn chưa hết 30 năm, tức vẫn còn thời hiệu để khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, và khi đó, bạn sẽ được thừa kế di sản mà ba mẹ bạn để lại.

* Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Như vậy, khi đủ chứng cứ để buộc tội chú bạn với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chú bạn phải trả lại tài sản.

* Trả lại tài sản?

Trước hết, xác định việc giao dịch giữa chú của bạn và con thì người con có thuộc trường hợp ngay tình hay không? Nếu không thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình thì bạn kiện đòi tài sản nếu quy định theo điều 168 BLDS năm 2015:

Điều 168. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi có thắc mắc muốn được các luật sư giải đáp : Ông bà tôi có 03 người con gồm 1 trai và 2 gái. Bố tôi là con trai trưởng và dưới là 2 cô.

Căn nhà ông bà tôi và các con ở được chia theo cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1956 về nội thành Hải Phòng. Các giấy tờ quyền sử dụng căn nhà sau khi được chia là do ông tôi đứng tên, đến nay đã được trên 60 năm, các giấy tờ vẫn nguyên vẹn và không có tranh chấp với cá nhân hay tập thể nào.
Cách đây hơn 40 năm các cô tôi lấy chồng và tách khẩu về nhà chồng, ở nhà còn ông bà , bố mẹ tôi cùng các cháu. Đến năm 2004 ông tôi mất, bà tôi là chủ hộ theo hộ khẩu, thì 2 cô tôi tới đòi chia phần căn nhà, tranh chấp đến nay đã được 11 năm. Dù bà tôi muốn để căn nhà cho bố mẹ tôi ở và thờ cúng tổ tiên nhưng 2 cô tôi lăng mạ bố tôi và bà tôi rồi vẫn nhất quyết đòi bà tôi chia phần của 2 cô trong căn nhà. Về tình nghĩa thì đã không còn gì để nói nữa. Hiện nay bố tôi muốn giúp bà tôi làm sổ đỏ để bà tôi là người duy nhất theo pháp luật thành chủ sở hữu quyền sử dụng đất của căn nhà. Để sự phân chia ( hoặc cho ) là do bà tôi quyết định theo đúng pháp luật, chấm dứt sự tranh chấp thiếu đạo đức của 2 cô tôi.

Vậy :

- Bà tôi có thể là người duy nhất theo luật đất đai quy định (sau khi ông tôi mất ) thành chủ sở hữu quyền sử dụng đất không ạ ?

- Nếu có thể bố tôi cần làm những thủ tục gì để giúp bà tôi ?

Mong sớm nhận được trả lời từ các luật sư!

Người hỏi: Đ.A Hoàng

Luật sư tư vấn phân chia tài sản thừa kế

Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung thư, bạn không nêu rõ thời điểm ông bà bạn tiến hành đăng ký kết hôn là thời điểm nào. Tuy nhiên, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem là tài sản chung vợ chồng. Do đó, với trường hợp của bạn, có hai khả năng có thể xảy ra:

Thứ nhất, nếu căn nhà và quyền sử dụng đất và căn nhừ là tài sản riêng của ông bạn: Do ông bạn qua đời mà không để lại di chúc,do đó, tài sản này sẽ được chia theo quy định pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bạn bao gồm những người sau theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015:

"Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

Về nguyên tắc chia, được quy định tại khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

" Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau."

Do đó, căn nhà và quyền sử dụng đất sẽ được chia đều cho: bà, bố và hai cô của bạn.

Thứ hai, nếu căn nhà và quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông và bà bạn: phải tiến hành xác định phần tài sản nào là thuộc quyền sở hữu của ông bạn. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông bạn chính là di sản thừa kế sẽ được tiến hành chia theo pháp luật cho bà, bố và hai cô của bạn.

Phần tài sản còn lại thuộc quyền sở hữu của bà bạn. Bà bạn có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Các cô của bạn không có quyền can thiệp và yêu cầu chia phần tài sản này.

Với những phần tài sản được chia, các bên có thể thực hiện các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Để bà bạn được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì những người thừa kế phải lập hợp đồng tặng cho miếng đất cho bà bạn (hợp đồng này phải có chữ ký của tất cả những người thừa kế)

Cần lưu ý với bạn: ông bạn mất đã 11 năm như vậy thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đã hết

Trên đây là nội dung giải đáp của chúng tôi với câu hỏi của bạn. Chúc bạn thành công!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài