1. Tài sản thừa kế có phải chia cho con rể không ?

Chào luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi sau khi mất muốn để lại tài sản cho tôi và 2 người con của tôi chứ không muốn bị chia cho cả chồng tôi.
Như vậy có được không ? Nếu không muốn chia tài sản cho chồng tôi thì phải làm như thế nào ? Và sau khi ly hôn thì tài sản bố mẹ tôi để lại có bị chia với chồng tôi không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi yêu cầu tư vấn tới bộ phận tư vấn luật của chúng tôi. Nội dung câu hỏi của bạn được chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau.

Thứ nhất, về vấn đề để lại di chúc của bố, mẹ bạn.

Theo Bộ Luật dân sự 2015, tại Điều 624 quy định:

" Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết."

Như vậy, người để lại di chúc có quyền chỉ định người được hưởng di sản thừa kế trong di chúc. Việc chỉ định ai là người được thừa kế di sản do người lập di chúc để lại hoàn toàn do ý chí chủ quan của người đó. Đồng thời người để lại di chúc phải đảm bảo điều kiện theo quy định về di chúc hợp pháp như sau:

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Do đó, nếu bố, mẹ bạn muốn để lại tài sản cho bạn và con của bạn mà không muốn để lại cho chồng của bạn thì bố, mẹ bạ hoàn toàn có thể lập di chúc trong đó chỉ định người thừa kế là bạn và con của bạn. Đồng thời để di chúc do bố hoặc mẹ bạn lập được công nhận là hợp pháp thì di chúc phải đảm bảo điều kiện của một di chúc hợp pháp và được thể hiện bằng một trong các hình thức của di chúc như sau ( Điều 627, 628, 629 Bộ Luật dân sự):

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Ngoài ra tại Điều 644 quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc gồm những người sau:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Như vậy, chồng của bạn, tức con rể của bố, mẹ bạn không thuộc đối tượng được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Do đó, khi bố, mẹ bạn để lại di chúc cho bạn và các con của bạn thì chồng của bạn hoàn toàn không có quyền yêu cầu chia di sản đối với di sản thừa kế do bố, mẹ bạn để lại cho bạn và các cháu.

Thứ hai, vấn đề chia tài sản được thừa kế sau khi ly hôn.

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về tài sản riêng của vợ, chồng:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Giải quyết chế độ tài sản của vợ chồng khi ly hôn thực hiện theo quy định tại Điều 59, theo đó tài sản riêng của vợ, chồng được chia như sau:

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Căn cứ các quy định trên, tài sản mà bạn được thừa kế từ bố, mẹ của bạn là tài sản riêng của bạn, do vậy sau khi ly hôn chúng vẫn thuộc sở hữu riêng của bạn mà chồng của bạn không có quyền được chia đối với những tài sản là tài sản riêng của bạn. Để dễ dàng và thuận tiện cho việc chứng minh đó là tài sản riêng, bạn nên lưu giữ các chứng cứ chứng minh tài sản bạn được thừa kế riêng từ bố, mẹ bạn, trong trường hợp này đó là bản di chúc của bố, mẹ bạn.

Như vậy, bố, mẹ bạn muốn để lại tài sản cho bạn và các cháu mà không muốn để lại cho chồng của bạn thì hoàn toàn có thể thực hiện được bằng cách lập di chúc. Và các tài sản bạn được thừa kế từ bố, mẹ bạn là tài sản riêng của bạn nên không bị chia khi ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Xác định tài sản thừa kế và cách phân chia di sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mẹ tôi là chủ sở hữu ngôi nhà 3 tầng và có 3(ba) người con, chị gái tôi, anh trai tôi và tôi. Bố mẹ tôi đã chết (mẹ tôii chết năm 2010, bố tôi chết năm 2014). Trước khi chết bố, mẹ tôi không để lại di chúc, không để lại bất kỳ một nghĩa vụ nào. Ông bà hai bên nội ngoại chết trước bố mẹ tôi. Theo tôi được biết di sản của bố, mẹ tôi để lại là ngôi nhà 3 tầng sẽ được chia đều cho 3(ba) người con theo pháp luật. Nhưng năm 2003 khi đó bố mẹ tôi còn sống, anh tra tôi có gia đình cần tiền muốn mua nhà ra ở riêng. Bố mẹ tôi đã dùng tiền của tôi gửi về (tiền do tôi lao động ở bên nước ngoài gửi về cho bố mẹ giữ hộ) để đưa cho anh trai tôi đủ số tiền mua nhà, có viết giấy biên nhận tiền và cam đoan sau này không tranh chấp với tôi ngôi nhà đấy ( coi như tôi đã mua suất của anh trai tôi), trong đó có chữ ký của cả bố, mẹ và chữ ký của 2(hai) vợ chồng anh trai tôi.
Do bố mẹ không để lại di chúc anh trai tôi lại quay lại đòi 1/3 ngôi nhà ?
Mong luật sư tư vấn để lấy lại sự công bằng. Trân trọng.

Luật sư phân tích:

=> Theo quy định của pháp luật, đối với trường hợp người chết không để lại di chúc thì phần di sản được tiến hành chia theo pháp luật, theo đó, mỗi người ở hàng thừa kế thứ nhất được nhận một phần di sản bằng nhau. Còn đối với trường hợp của bạn, để tiến hành được thủ tục khai nhận di sản thì cần phải có chữ ký của anh của bạn. Nếu anh của bạn không đồng ý trao 1/3 giá trị tài sản căn nhà như hai bên đã thỏa thuận tại thời điểm bạn cho anh trai của bạn vay tiền, thì bạn có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có căn nhà này để yêu cầu giải quyết.

Thưa luật sư, xin hỏi: Cho e hỏi giải quyết tình huống này ntn đc ạ Ông Trịnh Văn Tùng chung sống với bà Nguyễn Thị Lan từ năm 1980 không có đăng ký kết hôn. Tài sản của hai người là mảnh đất và căn nhà đang sống với tổng trị giá là 3 tỷ, 20 cây vàng trị giá 600 triệu đồng. Hai người có hai người con chung là chị Trịnh Thị Thắm (SN 1985) và anh Trịnh Văn Toàn (SN 1990). Chị Thắm bị bại liệt từ nhỏ, chỉ ngồi một chỗ nên được ông nội là ông Trịnh Văn Tỵ (cha ruột của ông Tùng) đưa về quê nuôi nấng, mẹ ông Tùng đã mất từ lâu. Bà Lan có một người con riêng tên là Phong nhưng Phong không sống cùng ông Tùng và bà Lan. Phong lấy vợ và sinh được một người con là Phương. Năm 2005, Phong bị tai nạn và mất đột ngột. Năm 2006, thấy sức khỏe của mình yếu dần, ông Tùng có ý định lập di chúc. Ông tự tay viết một bản di chúc, ký và điểm chỉ, cất vào trong tủ. Nội dung di chúc ông muốn dành toàn bộ tài sản của mình cho con gái là Thắm. a. Di chúc có hợp pháp hay không? Tại sao? b. Giả sử di chúc hợp pháp, năm 2007, ông Tùng mất. Hãy chia di sản của ông Tùng. c. Năm 2009, bà Lan nhận Hương (SN 2000) làm con nuôi. Năm 2012, bà Lan mất không để lại di chúc. Hãy chia di sản của bà Lan, biết bố mẹ bà Lan đều đã mất.

=> Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội thì:

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này."

Theo đó, di chúc để có hiệu lực pháp luật thì phải tuân theo những quy định của pháp luật như trên. Ông Tùng hoàn toàn có quyền truất quyền hưởng thừa kế, hay định đoạt di sản thừa kế cho bất kỳ ai theo ý nguyện của mình.

Tuy nhiên, nếu ông Tùng không chỉ định để lại tài sản cho bà Lan, thì theo quy định tại Điều 669 thì:

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Như vậy, mặc dù không được nhắc tới trong di chúc thì bà Lan vẫn được hưởng 2/3 suất thừa kế.

b) Chia di sản của ông Tùng:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì:

"2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế."

Vì vậy, di sản của ông Tùng có: 1,5 tỷ, 10 cây vàng (300 triệu). Hàng thừa kế thứ nhất của ông Tùng gồm: bà lan, Thắm và Toàn tương đương 3 suất thừa kế. Theo đó, bà Lan được hưởng 2/3 tài sản của 1 suất. Như vậy, bà Lan được:

2/3 x [(1,5 tỷ + 300) : 3] = 320.000.000 (ba trăm hai mươi triệu đồng), phần giá trị tài sản còn lại được giải quyết cho chị Thắm.

c) Năm 2009 bà Lan chết:

Bà Lan chết không để lại di chúc, thì lúc này hàng thừa kế thứ nhất của bà Lan bao gồm: Thắm, Toàn, Hương. Theo đó, mỗi người được hưởng 1 phần bằng nhau khối di sản của bà Lan để lại, bao gồm: 1,5 tỷ + 10 cây vàng (300 triệu) + 320.000.000 = 2,12 tỷ đồng. Vì vậy, Thắm, Toàn, Hương mỗi người được hưởng 707 triệu đồng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Người con dâu có được là người làm chứng cho việc lập di chúc khi mà di chúc do bố chồng để lại có phân chia tài sản cho người chồng và con của người con dâu này?

=> Theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự thì:

"Điều 654. Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự."

Như vậy, chỉ thuộc vào trong 3 trường hợp trên thì mới không được làm chứng, còn nếu như bố của chồng bạn không định đoạt lại tài sản cho bạn, cũng như việc để lại di sản riêng cho chồng và cho con thì không được xác định bạn thuộc trường hợp có quyền và nghĩa vụ liên quan tới nội dung di chúc.

Luật sư tư vấn dùm em. Ông bà có một căn nhà số 89, trước khi ông bà em mất ko để lại di chúc. Ông bà có 4 người con, 2 người con làm tờ thuận ko lấy di sản mà ông bà để lại cho người cô út, cô đứng tên giấy trước bạ và các giấy tờ khác có lien quan. Nay cô sang nước ngoài sinh sống và giao căn nhà số 89 lại cho người anh trai trong 4 người con để thờ cúng. Vậy bây giờ cha em nên làm các thủ tục gì, mong luật sư hướng dẩn giúp em. Em cám ơn

=> Trong trường hợp này, cô út của bạn có thể lập hợp đồng tặng cho quyền sở hữu căn nhà này sang cho người anh trai, thể hiện mục đích để thờ cúng. Còn nếu cô của bạn không định cư hẳn ở nước ngoài, và không muốn chuyển nhượng hẳn cho người anh trai thì cô bạn có quyền lập văn bản ủy quyền cho anh trai được quyền quản lý tài sản này trong thời gian cô không ở tại Việt Nam. Những loại hợp đồng này phải tiến hành công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố mình mât năm 2003 ông nội mình mất 2005 nhưng do ông nội mình không để lại di chúc lên bây giờ mình muốn sang tên sổ từ ông nội mình sang mẹ mình thì phải làm như thế nào ? Cần những thủ tục gì ? Mình rất mong được nhận phản hồi sớm từ công ty Luật Minh Khuê Xin chân thành cảm ơn! Đã gửi từ iPhone của tôi

=> Theo quy định của pháp luật dân sự, nếu ông nội bạn mất không để lại di chúc thì những di sản ông nội để lại được chia theo quy định của pháp luật.

Theo đó, bạn cần xác định người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông nội gồm những ai? (bà nội, con đẻ, con nuôi hợp pháp của ông nội), theo đó, mỗi người thuộc cùng hàng thừa kế được hưởng một phần bằng nhau (và bạn sẽ được thừa kế thế vị thay cho suất của bố bạn). Nếu ông nội bạn chỉ có bố bạn là con duy nhất, thì hàng thừa kế thứ nhất được xác định không còn lại ai, vì vậy, những người thuộc hàng thừa kế thứ hai được hưởng di sản thừa kế. Theo đó, điểm b khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự quy định: Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tư vấn về giải quyết tranh chấp về tài sản thừa kế ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Vào năm 2012 Sau khi ba tôi qua đời mẹ kế và em tôi đã chuyển quyền sử dụng đất cho em út tôi đứng tên mà không thông qua 3 anh em đời trước, sau đó tôi đi kiện ra toà và có hoà giải với bên mẹ kế và em đời sau, 3 anh em chúng tôi chấp nhận nhận mỗi người 200tr mà người đại diện trả là em út người đang đứng sổ đỏ. Nhưng đến nay em út tôi vẫn chưa thối trả mà còn tách thửa và sang tên lại cho mẹ mình đứng sổ đỏ 1/2 thửa và bán 1/2 nhưng vẫn không trả tiền.
Vậy xin hỏi luật sư em út tôi có phải có hành vi lừa đảo chiếm đoạn của anh em chúng tôi không, làm sao tôi có thể lấy được tiền trong khi em út tôi không còn tài sản nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Mayumi

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật ?

Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế theo luật - Ảnh minh họa

Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999, Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm".

Thủ đoạn gian dối ở đây được hiểu là việc đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, sau khi bố bạn qua đời, mẹ kế và em út của bạn đã chuyển quyền sử dụng đất cho người em út đứng tên mà không thông qua ba anh em đời con bà cả. Như vậy, việc làm của mẹ kế và người em út con bà hai như vậy là trái pháp luật. Theo đó, ba anh em bạn (con bà cả), mẹ kế và người em út con bà hai đều là đồng thừa kế đối với mảnh đất của bố bạn. Chính vì vậy mà tất cả 05 người đều có quyền đối với mảnh đất trên, không ai được chuyển giao, bán mảnh đất trên mà không được sự đồng ý, nhất trí của những người còn lại.

Trở lại vấn đề, để được chuyển quyền sử hữu mảnh đất cho người con trai út, mẹ kế và người em út nhất định đã thực hiện hành vi gian dối nào đó. Hơn nữa, sau khi chuyển quyền sở hữu cho người em út, người em út đã tiến hành tách thửa, sang tên lại cho mẹ mình 1/2 mảnh đất và bán 1/2 mảnh đất còn lại. Như vậy, không những chỉ thực hiện hành vi gian dối mà người em út của bạn còn có hành vi chiếm đoạt mảnh đất trên. Căn cứ theo Khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009 thì người em út của bạn đã cấu thành hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản.

Trước đó, ba anh em bạn có đi kiện ra tòa và chấp nhận hòa giải với số tiền là 200 triệu đồng/một người, do em út đứng lên trả. Tuy nhiên, cho tới hiện tại đã quá lâu mà vẫn chưa thấy em út thực hiện nghĩa vụ trả cho mỗi anh 200 triệu đồng. Chính vì vậy, anh và hai người em trai của mình có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án yêu cầu người em út của bạn phải thi hành thỏa thuận đã cam kết.

Vấn đề bạn băn khoăn ở đây là người em út đó hiện tại không còn tài sản nào có giá trị thì việc thi hành án sẽ được thực hiện như thế nào? Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần xem xét lại việc người em út chuyển 1/2 mảnh đất cho người mẹ và bán 1/2 mảnh đất là trái quy định của pháp luật. Theo đó, việc chuyển giao đất và hợp đồng mua bán đất sẽ bị vô hiệu. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, khi hợp đồng vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, khôi phục lại tình trạng ban đầu. Khi đó, nếu người em muốn lấy mảnh đất thì phải hoàn trả cho mỗi đồng thừa kế 200 triệu đồng. Nếu không, mảnh đất này sẽ được bán để chia đều cho các đồng thừa kế.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Đòi lại tài sản thừa kế như thế nào ?

Thưa Luật sư: Em vừa nhận được tin rằng ba em trước khi chết có lập di chúc để lại căn nhà trị giá 900 triệu cho em. Nhưng em lúc đó chỉ 13 tuổi, mẹ mất sớm trước ba nên ba làm giấy ủy quyền giám hộ cho chú em. Chú em làm giả di chúc ba để lại căn nhà đó cho chú. Em không biết gì cả. Được biết sau này chú bán căn nhà với giá gần 2 tỷ, chú lấy tiền để làm ăn, mở công ty nho nhỏ. Công ty của chú kinh doanh nhờ vào việc bán căn nhà đó, sau chú chuyển sở hữu cho con gái của chú, con gái chú chuyển sở hữu cho chồng cô ta.
Em có thể đòi lại tài sản đó bằng cách nào ạ? Gia đình chú em, con gái và chồng cô bị kết tội gì? Nếu chứng minh được chú em làm giả di chúc, tài sản của chú sẽ bị tịch thu và trả lại cho em phải không ạ?

Xác định tài sản thừa kế theo pháp luật và cách phân chia di sản ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

*Thừa kế tài sản:

Theo thông tin bạn cung cấp, chú bạn đã bán căn nhà gần 2 tỷ

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

Điều 643. Người không được quyền hưởng di sản

"1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc"

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

"Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế...."

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên, trước hết, di sản thừa kế được chia thừa kế theo di chúc nếu di chúc hợp lệ. Tuy nhiên, bạn không cung cấp thông tin xác định thời điểm mở thừa kế tới hiện nay là bao nhiêu thời gian. Nếu từ thời điểm đó đến nay vẫn chưa hết 10 năm, tức vẫn còn thời hiệu để khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, và khi đó, bạn sẽ được thừa kế di sản mà ba mẹ bạn để lại.

* Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bộ luật Hình sự năm 1999; Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"

Điều 41. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1. Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với:
a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.
2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
3. Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước.


Điều 42. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.
2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Như vậy, khi đủ chứng cứ để buộc tội chú bạn với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chú bạn phải trả lại tài sản.

* Trả lại tài sản?

Trước hết, xác định việc giao dịch giữa chú của bạn và con thì người con có thuộc trường hợp ngay tình hay không? Nếu không thuộc trường hợp người thứ ba ngay tình thì bạn kiện đòi tài sản nếu quy định theo điều 258 BLDS 2005:

"Điều 258. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình
Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa"

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản thừa kế ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi có thắc mắc muốn được các luật sư giải đáp : Ông bà tôi có 03 người con gồm 1 trai và 2 gái. Bố tôi là con trai trưởng và dưới là 2 cô.

Căn nhà ông bà tôi và các con ở được chia theo cải cách ruộng đất những năm 1953 - 1956 về nội thành Hải Phòng. Các giấy tờ quyền sử dụng căn nhà sau khi được chia là do ông tôi đứng tên, đến nay đã được trên 60 năm, các giấy tờ vẫn nguyên vẹn và không có tranh chấp với cá nhân hay tập thể nào.
Cách đây hơn 40 năm các cô tôi lấy chồng và tách khẩu về nhà chồng, ở nhà còn ông bà , bố mẹ tôi cùng các cháu. Đến năm 2004 ông tôi mất, bà tôi là chủ hộ theo hộ khẩu, thì 2 cô tôi tới đòi chia phần căn nhà, tranh chấp đến nay đã được 11 năm. Dù bà tôi muốn để căn nhà cho bố mẹ tôi ở và thờ cúng tổ tiên nhưng 2 cô tôi lăng mạ bố tôi và bà tôi rồi vẫn nhất quyết đòi bà tôi chia phần của 2 cô trong căn nhà. Về tình nghĩa thì đã không còn gì để nói nữa. Hiện nay bố tôi muốn giúp bà tôi làm sổ đỏ để bà tôi là người duy nhất theo pháp luật thành chủ sở hữu quyền sử dụng đất của căn nhà. Để sự phân chia ( hoặc cho ) là do bà tôi quyết định theo đúng pháp luật, chấm dứt sự tranh chấp thiếu đạo đức của 2 cô tôi.

Vậy :

- Bà tôi có thể là người duy nhất theo luật đất đai quy định (sau khi ông tôi mất ) thành chủ sở hữu quyền sử dụng đất không ạ ?

- Nếu có thể bố tôi cần làm những thủ tục gì để giúp bà tôi ?

Mong sớm nhận được trả lời từ các luật sư!

Người hỏi: Đ.A Hoàng

Luật sư tư vấn phân chia tài sản thừa kế

Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung thư, bạn không nêu rõ thời điểm ông bà bạn tiến hành đăng ký kết hôn là thời điểm nào. Tuy nhiên, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được xem là tài sản chung vợ chồng. Do đó, với trường hợp của bạn, có hai khả năng có thể xảy ra:

Thứ nhất, nếu căn nhà và quyền sử dụng đất và căn nhừ là tài sản riêng của ông bạn: Do ông bạn qua đời mà không để lại di chúc,do đó, tài sản này sẽ được chia theo quy định pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bạn bao gồm những người sau theo khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005 (Bộ luật Dân sự năm 2015):

"Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;"

Về nguyên tắc chia, được quy định tại khoản 2 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005:

" Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau."

Do đó, căn nhà và quyền sử dụng đất sẽ được chia đều cho: bà, bố và hai cô của bạn.

Thứ hai, nếu căn nhà và quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông và bà bạn: phải tiến hành xác định phần tài sản nào là thuộc quyền sở hữu của ông bạn. Phần tài sản thuộc quyền sở hữu của ông bạn chính là di sản thừa kế sẽ được tiến hành chia theo pháp luật cho bà, bố và hai cô của bạn.

Phần tài sản còn lại thuộc quyền sở hữu của bà bạn. Bà bạn có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Các cô của bạn không có quyền can thiệp và yêu cầu chia phần tài sản này.

Với những phần tài sản được chia, các bên có thể thực hiện các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Để bà bạn được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì những người thừa kế phải lập hợp đồng tặng cho miếng đất cho bà bạn (hợp đồng này phải có chữ ký của tất cả những người thừa kế)

Cần lưu ý với bạn: ông bạn mất đã 11 năm như vậy thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đã hết

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với câu hỏi của bạn. Chúc bạn thành công!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?