Thưa luật sư, theo tôi được biết trong tố tụng giải quyết vụ án dân sự có thủ tục tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Vậy khi nào thì cơ quan có thẩm quyền được ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự? Căn cứ để đưa ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? Thẩm quyền thuộc về ai? Hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như thế nào?

Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyệt Tiến - Lạng Sơn

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Quy định về thời điểm tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tại khoản 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.”

Như vậy, với quy định nêu trên thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nếu có một trong các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

 

2. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp nào?

Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà không phụ thuộc có hay không có yêu cầu của đương sự khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi có một trong 08 căn cứ sau đây:

Một là, đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;

Trong đó:

“Trường hợp cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đầy đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó.

“Trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó” là trường hợp chưa xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hai là, đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

Ba là, chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

Trong đó:

“Đại diện hợp pháp của đương sự” bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo uỷ quyền

Bốn là, cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

Trong đó:

“Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án” là trường hợp mà kết quả giải quyết vụ án dân sự, hình sự, hành chính đó, hoặc kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền là cơ sở để:

- Xác định thẩm quyền của Tòa án,

- Xác định quyền khởi kiện đối với vụ án,

- Xác định địa vị pháp lý,

- Xác định người tham gia tố tụng,

- Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc là căn cứ khác để Tòa án giải quyết vụ án này một cách toàn diện, chính xác và đúng pháp luật.

“Vụ án khác có liên quan” đến vụ án mà Tòa án đang giải quyết là vụ việc dân sự, vụ án hình sự, hành chính.

“Sự việc được pháp luật quy định” phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, và nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án là vi phạm pháp luật.

Năm là, cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;

Sáu là, cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

Bảy là, theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản;

Tám là, các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Lưu ý: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho: Đương sự; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; Viện kiểm sát cùng cấp.

 

3. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

- Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

- Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

- Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 214 của Bộ luật tố tụng dân sự thì trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với: Hiến pháp; Luật; Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

 

4. So sánh quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tiêu chí so sánh

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Cơ sở pháp lý

Điều 214, Điều 215, Điều 216, Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Điều 217, Điều 218, Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ ra quyết định

Khoản 1 Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Giai đoạn áp dụng

Thủ tục sơ thẩm:

-Giai đoạn chuẩn bị xét xử: điểm b khoản 3 Điều 203;

-Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm: khoản 2 Điều 219

Thủ tục phúc thẩm:

– Tại phiên tòa phúc thẩm: khoản 6 Điều 308

Áp dụng ở cả giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm

Thủ tục sơ thẩm:

– Giai đoạn chuẩn bị xét xử: điểm c khoản 3 Điều 203.

– Giai đoạn tại phiên tòa sơ thẩm: khoản 2 Điều 219.

Chỉ áp dụng ở giai đoạn sơ thẩm

Thẩm quyền ra quyết định

– Trước khi mở phiên tòa: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định

– Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho:

- Đương sự;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện;

- Viện kiểm sát cùng cấp.

Có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

=> Quyết định chưa có hiệu lực thi hành ngay mà đến khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị thì quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mới có hiệu lực pháp luật

Hậu quả pháp lý

- Không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó.

- Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

- Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

- Xóa tên vụ án dân sự bị đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý; và trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu;

- Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp,trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

-Tiền tạm ứng án phí đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước hoặc được trả lại cho họ (tùy trường hợp sẽ được xử lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 218 BLTTDS).

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp một cách nhanh chóng và chính xác nhât.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê