1. Quy định về tạm đình chỉ thi hành án dân sự trước đây

Việc tạm đình chỉ thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 27 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án ra quyết định tạm đình chỉ thi nành án khi người phải thi hành án bị Toà án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, trừ việc thi hành các khoản tiền cấp dưỡng, tiền bổi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ. Ngoài ra, người đã kháng nghị bản án quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó. Thời hạn tạm đìn: chỉ thi hành án không quá sáu tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thì hành án. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án khi nhận được quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án hoặc khi có quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị.

2. Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án.

KIểm sát viên phải căn cứ quy định tại Điều 49 Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 để kiểm sát về thẩm quyền,

- Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là: Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; Thủ trưởng Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án.

- Căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong những trường hợp sau đây:

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị. Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án. Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án.

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây: Quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị; Quyết định của Toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

- Thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án phải gửi cho các bên đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp và người ra kháng nghị.

3. Thời hạn tạm đình chỉ thi hành án dân sự hiện nay

Tạm đình chỉ thi hành án dân sự là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định tạm ngừng thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án khi có căn cứ do pháp luật quy định. Việc tạm đình chi thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 49 Luật thi hành án dân sự năm 2014.

- Thời hạn tạm đỉnh chỉ thi hành án dân sự

+ Thời hạn tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp nhận được thông báo của toà án về việc đã thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án theo thời hạn giải qùyết việc tuyên bố phá sản của toà án.

+ Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án, do có kháng nghị người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

+ Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án khi nhận được quyết định rút kháng nghị của người có thẩm quyền hoặc quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của toà án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc quyết định của toà án về việc đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kỉnh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Thời hạn ra quyết định tiếp tục thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được các quyết định này.

4. Thông báo tạm đình chỉ và Quyết định tạm đình chỉ đối với thủ trưởng cơ quan THNDS:

Thủ trưởng cơ quan THADS thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Quy định về vấn đề này phù hợp với các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS) và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (TTHC). Theo khoản 2 Điều 332 BLTTDS thì người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.

Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm (khoản 3 Điều 354 BLTTDS). Khoản 2 Điều 261 Luật TTHC cũng quy định: Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị, cơ quan THADS không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án mà chỉ ra thông báo tạm đình chỉ thi hành án, việc ban hành thông báo được thực hiện ngay sau khi nhận được Quyết định tạm đình chỉ.

Trường hợp bản án, quyết định đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan THADS phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị. Theo Điều 346 BLTTDS, trường hợp bản án, quyết định của tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án

5. Thông báo tạm đình chỉ và Quyết định tạm đình chỉ đối với Thủ trưởng cơ quan THADS

Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án.

Thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án. Việc tạm ngừng thi hành án trong thời điểm này là cần thiết bởi vì khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã… không được thanh toán bất kỳ khoản nợ cho bất kỳ chủ nợ nào, tạo thuận lợi cho tòa án trong việc giải quyết phá sản và cho công tác THADS sau này.

Đồng thời Luật THADS cũng quy định rõ về khoản lãi suất chậm thi hành án, trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.

Tuy nhiên, quy định về tạm đình chỉ thi hành án vẫn còn có những điểm chưa thống nhất với những quy định khác. Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan THADS thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án của người có quyền kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Tuy nhiên, Điều 103 Luật THADS về bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án quy định: “Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan THADS tiếp tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác”.

Như vậy, nếu việc thi hành án thuộc giai đoạn đã bán đấu giá thành và chờ giao tài sản cho người trúng đấu giá mà cơ quan THADS nhận được quyết định tạm đình chỉ thi hành án thì việc thi hành án sẽ bị tạm đình chỉ hay tiếp tục tổ chức giao tài sản cho người trúng đấu giá?

Do đó, đề xuất quy định bổ sung thêm trường hợp ngoại lệ khi tạm đình chỉ thi hành án đối với trường hợp giao tài sản cho người trúng đấu giá theo quy định tại Điều 103 Luật THADS để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của người mua trúng đấu giá tài sản thi hành án.

7. Đình chỉ

Kiểm sát viên kiểm sát việc đình chỉ thi hành án nhằm bảo đảm việc đình chỉ thi hành án đúng thẩm quyền, đúng căn cứ và thời hạn quy định tại Điều 50 Luật THADS, cụ thể:

- Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc thi hành án là Thủ trư­ởng Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án;

- Căn cứ để ra quyết định đình chỉ thi hành án bao gồm:

+ Ngư­ời phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không đ­ược chuyển giao cho ngư­ời thừa kế;

+ Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

+ Đương sự có thoả thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

+ Bản án, quyết định bị hủy một phần hoặc toàn bộ;

+ Người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;

+ Có quyết định miễn hoặc giảm một phần nghĩa vụ thi hành án;

+ Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành án;

+ Người chưa thành niên được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã thành niên.

- Thời hạn ra quyết định đình chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, luật thi hành án dân sự về tạm đình chỉ vụ án dân sự. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê