1. Giới thiệu vấn đề chung của tâm lý học

Khi nói về khái niệm tâm lý học, đây xuất phát từ tiếng Latinh với “Psyche” là “linh hồn, tinh thần” và “logos” là “khoa học, học thuyết”. Vì thế tâm lý học hay Psychology chính là khoa học về tâm hồn.

Hay chúng ta nói một cách dễ hiểu hơn: Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người gắn liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người.

Kể từ đầu thế kỉ XIX trở đi, nền sản xuất thế giới đã phát triển mạnh, thúc đẩy sự tiến bộ không ngừng của nhiều lĩnh vực khoa học, kĩ thuật phát triển. Chính những thành tựu của các lĩnh vực khoa học này đã tạo điều kiện cho tâm lý học trở thành một ngành khoa học độc lập với các trường phái tâm lý học khác nhau.

Sự kiện lớn nhất tạo nên kết quả đó chính là sự ra đời của Phòng thí nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới do nhà tâm lý người Đức Wilhelm Wundt (1832 – 1920) sáng lập vào năm 1879 tại thành phố Laixic. Vào thời điểm đó, Wilhelm Wundt là người đầu tiên đặt sự quan tâm đặc biệt vào các khối cấu trúc trí tuệ và chuyên tâm nghiên cứu nó. Cũng tại đây ông chính thức định nghĩa cho câu hỏi: “Tâm lý học là gì?”

Theo Wilhelm Wundt, tâm lý học là một bộ môn nghiên cứu kinh nghiệm hữu thức (Conscious experience), thông qua một mô hình nhận thức được mệnh danh là lý thuyết kết cấu.

Theo Wilhelm Wundt, đối tượng của tâm lý học không chỉ là ý thức chủ quan và con đường nghiên cứu ý thức là các phương pháp nội quan và tự quan sát. Mà đối tượng của tâm lý học còn bao hàm cả những ý thức khách quan (hữu thức) mà con người hoàn toàn có thể quan sát, đo đạc được bằng các phương pháp thực nghiệm.

Phát huy những ý tưởng của Wundt, đầu thế kỷ XX các trường phái tâm lý học theo chủ nghĩa khách quan ra đời bao gồm: Nhận thức hành vi; tâm lý học Gestalt và Phân tâm học… Ngoài ra, trong giao đoạn này ngành tâm lý còn phát triển nhiều trường phái khác như nhân văn; nhận thức..

Một bước ngoăt to lớn cho ngành tâm lý đó là sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, khi mà chủ nghĩa Mac-Lenin trở thành kim chỉ nam cho các nhà triết học, nhà khoa học và các trường phái tâm lý học thời kỳ đó.

=> Tâm lý học có đầy đủ các yếu tố của một ngành khoa học thực sự. Ta có thể rút ra một số đặc điểm như sau về tâm lý học:

- Đối tượng nghiên cứucủa Tâm lý học: đối tượng của tâm lý là các hiện tượng tâm lý với tư cách là các hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người, gọi chung là các hoạt động tâm lý.

=> Theo đó, tâm lý học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý con người bao gồm: sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý.

- Hệ thống cơ sở lý luận của tâm lý học: tâm lý có hệ thống cơ sở lý luận đồ sộ bao gồm các khái niệm về các hiện tượng tâm lý, quy luật của chúng cũng như quan điểm và các học thuyết tâm lý khác nhau..

- Hệ thống các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học: Hệ thống các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học khá hoàn chỉnh bao gồm cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng (quan sát, trắc nghiệm; đàm thoại; điều tra; phân tích sản phẩm hoạt động; nghiên cứu tiểu sử; nghiên cứu điển hình cá nhân..)

Các mục dưới đây ta sẽ cùng tìm hiểu về một số trường phái tâm lý học.

 

2. Trường phái tâm lý học hành vi

Tâm lý học hành vi là một trường phái tâm lý học do nhà tâm lý học Mĩ J. Watson (1878 – 1958) sáng lập vào năm 1913; được J.Watson là người định nghĩa tâm lý học hành vi là gì: và cũng được chính ông xuất bản với cái tên “Psychology as the Behaviorist Views It” (Tạm dịch: Tâm lý học qua cái nhìn của nhà hành vi học).

Theo đó, nhà tâm lý học Mĩ J. Watson cho rằng tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể ở con người cũng như ở động vật.

Nhà tâm lý học Mĩ J. Watson cũng tin rằng, các phản ứng của con người đối với kích thích của môi trường chính là cái tạo nên hành vi. Nói một cách dễ hiểu hơn, hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó theo một công thức nhất định.

Công thức:  S – R (Stimulus – Reaction)

Kích thích – Phản ứng = Hành vi

=> Với Công thức này, nhà tâm lý học Mĩ J. Watson đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lý học: coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu được một cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử – sai”. Ngoài ra, Các hành vi này có thể được học tập một cách có hệ thống và có thể quan sát một cách rõ ràng từ bên ngoài, không đi sâu vào diễn biến nội tâm.

Bên cạnh những lời khen về thành tựu của mình thì học thuyết hành vi cũng gây ra nhiều tranh cãi cho các nhà tâm lý bởi quan niệm về hành vi mà J.Watson đưa ra quá cơ học và máy móc làm mất đi tính chủ thể, tính xã hội của tâm lý con người. Nói một cách dễ hiểu hơn đó là sự đồng nhất tâm lý con người với tâm lý động vật. Một số nhà tâm lý cho rằng quan điểm của trường phái này là quan điểm phi lịch sử và thực dụng. Về sau này các đại biểu của chủ nghĩa hành vi mới như: Tonmen, Hulo, Skiner… có đưa vào công thức S – R những “biến số trung gian” bao hàm một số yếu tố như: nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống của con người… hoặc hành vi tạo tác “operant” nhằm đáp lại những kích thích có lợi cho cơ thể, nhưng về cơ bản chủ nghĩa hành vi mới vẫn mang tính máy móc, thực dụng của chủ nghĩa hành vi cổ điển Watson.

 

3. Trường phái tâm lý học cấu trúc (tâm lý học Gestalt)

Song song với học thuyết tâm lý học hành vi của J.Watson ta đã nêu ở mục 2 thì học thuyết tâm lý cấu trúc cũng được ra đời tại Đức vào năm 1913.

Mục đích của tâm lý học cấu trúc (tâm lý học Gestalt) chính là nhằm tấn công vào thuyết yếu tố của Wilhelm Wundt với cái tên Gestalt (Trong tiếng Đức Gestalt là từ dùng để chỉ “hình dáng”, “cấu trúc”).

Học thuyết tâm lý cấu trúc (tâm lý học Gestalt) gắn liền với tên tuổi của nhà tâm lý nổi tiếng thời kỳ đó, cụ thể: Max Wertheimer (1880 – 1943) giảng viên trường đại học Farnkfurt cùng hai cộng sự là các nhà nghiên cứu: Kurt Kohler (1887 – 1967) và Wolfgang Koffka (1886 – 1947).

Theo các nhà tâm lý học Gestalt, là: Max Wertheimer (1880 – 1943) giảng viên trường đại học Farnkfurt cùng hai cộng sự là các nhà nghiên cứu: Kurt Kohler (1887 – 1967) và Wolfgang Koffka (1886 – 1947) thì nhiệm vụ chính của tâm lý là nghiên cứu về các sự vật, sự việc một cách toàn thể chứ không phải là về các thành phần như học thuyết của Wundt. Các nghiên cứu của họ đi sâu vào các quy luật về tính ổn định và tính trọn vẹn của tri giác, quy luật “bừng sáng” của tư duy.

Trên cơ sở các nghiên cứu về tri giác, thực nghiệm các nhà tâm lý Gestalt khẳng định các quy luật của tri giác, tư duy và tâm lý của con người do các cấu trúc tiền đình của não quy định. Với tham vọng xây dựng nên một ngành tâm lý học khách quan theo kiểu mẫu của vật lý học chứ hoàn toàn không liên quan đến tâm lý học liên tưởng cũng như vai trò của kinh nghiêm sống hay kinh nghiệm lịch sử xã hội.

 

4. Trường phái học thuyết phân tâm học

Với “Phân tâm học (Psychoanalysis – phân tích tâm lý)” - đây là trường phái tâm lý học của bác sĩ thần kinh học người Áo Sigmund Freud (1859 – 1939) sau khi can thiệp lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria của mình.

Nội dung của học thuyết học thuyết phân tâm học là tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích để tìm hiểu những mỗi quan hệ vô thức của con người thông qua quá trình liên tưởng.

Học thuyết học thuyết phân tâm học của bác sĩ thần kinh học người Áo Sigmund Freud (1859 – 1939) cũng là tiền đề cho chủ nghĩa hiện sinh, thể hiện quan điểm sinh vật hoá tâm lý con người.

Với Bác sĩ thần kinh học người Áo Sigmund Freud (1859 – 1939) khác với các nhà triết học, xã hội học, tâm lý học cùng thời. Cụ thể, S.Freud đề cao bản năng vô thức của con người. Ông phân chia con người thành ba khối bao gồm: cái ấy (ID); cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego).

Theo đó:

- Cái ấy (ID) là cái bể chứa bí mật bao gồm các bản năng vô thức như: ăn uống, tự vệ, tính dục.. (tính dục (Libido) là yếu tố giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lý và hành vi của con người) mà con người chỉ có thể nhận biết gián tiếp qua giấc mơ, triệu chứng… Cái ấy của tất cả mọi người đều tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi.

- Cái tôi (Ego) là cái không có sẵn lúc con người sinh ra mà nó được phát triển thông qua tương tác từ bên ngoài thông qua các cơ chế phòng vệ. Nói một cách dễ hiểu thì cái tôi chính là vẻ bọc bên ngoài cho cái lõi bên trong là cái ấy (ID).

- Cái siêu tôi (Super Ego) hay còn gọi là cái tôi lý tưởng chính là cái tôi siêu phàm – điều không bao giờ vươn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép gây ra những xung đột nội tâm ở con người.

 

Theo bác sĩ thần kinh học người Áo Sigmund Freud: “tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện tượng vô thức. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tùy theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những quy luật khác hẳn với ý thức”.

 

5. Trường phái tâm lý học nhân văn

Về tâm lý học nhân văn (hay còn được gọi là trường phái tâm lý học lực lượng thứ ba) do Carl. Rogers (1902 – 1987) và Abraham Maxlow (1908 – 1972) sáng lập.

Cụ thể, Abraham Maxlow cho rằng, các nhu cầu của con người được sắp đặt theo 5 thứ bậc thể hiện 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người xét thứ tự từ thấp đến cao bao gồm:

- Nhu cầu sinh lí cơ bản; -

- Nhu cầu an toàn;

- Nhu cầu về quan hệ xã hội;

- Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ; và

- Nhu cầu phát huy bản ngã, thành đạt.

=> Các thứ bậc càng thấp, nhu cầu của con người cơ bản càng giống với loài vật. Các thứ bậc càng cao, chúng càng đặc trưng cho con người. Các nhu cầu này được sắp đặt sao cho khi người ta thỏa mãn một nhu cầu thấp hơn, người ta có thể xử lý một nhu cầu cao hơn. Ví dụ như khi nhu cầu sinh lý của con người đươc thỏa mãn (ăn uống, tính dục) người ta có thể xử lý các nhu cầu về sự an toàn (bảo vệ khỏi các yếu tố vật chất, đau đớn và các nguy hiểm bất ngờ).

Carl. Rogers lại cho cho rằng bản chất con người là lương thiện với những khuynh hướng tiến đến sự phát triển tiềm năng và xã hội hóa mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức và hiện thức hóa tiềm năng đầy đủ. Ngoài ra, Carl. Rogers còn cho rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hóa tiềm năng của mình. Theo đó, việc con người đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng nghe, chờ đợi và không áp đặt các điều kiện về giá trị trên người khác đó chính là cách giúp họ nhìn nhận giá trị của sự tích cực một cách vô điều kiện. Với sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện người ta được yêu mến và kính trọng bởi vì bản chất thực sự của họ trong nhân cách, và chỉ những ai nhìn thấy được sự tích cực vô điều kiện thì mới có thể trở thành một con người có đời sống tinh thần sung mãn.

=> Nhận xét: Ta thấy quan điểm của học thuyết nhân văn chính là đề cao bản chất tốt đẹp và luôn hướng tới những điều tốt đẹp của con người (lòng vị tha, tiềm năng kỳ diệu). Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình lại cho rằng học thuyết tâm lý học nhân văn quá đề cao những điều cảm nghiệm, thể nghiệm chủ quan của bản thân mỗi người, tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong con người, vì thế thiếu vắng con người trong hoạt động thực tiễn.

 

6. Trương phái học thuyết phát triển nhận thức

Với học thuyết phát triển nhận thức được ra đời vào năm 1967 bởi Jean Piaget (1896 – 1980) một nhà tâm lý học người Thụy Sĩ. Theo nhà tâm lý học Jean Piaget thì tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người. Tâm lý có cơ sở tự nhiên và xã hội, được hình thành trong các hoạt động, giao tiếp và các mối quan hệ xã hội. Vì thế tâm lý nhận thức coi hoạt động nhận thức là đối tượng nghiên cứu của mình.

Đặc điểm tiến bộ nổi bật của học thuyết tâm lý này là nghiên cứu tâm lý con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và với não bộ. Nhờ học thuyết người ta phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị trong các vấn đề tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ… làm cho các lĩnh vực nghiên cứu nói trên đạt tới một trình độ mới.

Hạn chế của học thuyết: Học thuyết phát triển nhận thức của nhà tâm lý học Jean Piaget cũng có những hạn chế, họ coi nhận thức của con người như là sự nỗ lực của ý chí để đưa đến sự thay đổi vốn kinh nghiệm, vốn tri thức của chủ thể, nhằm thích nghi, cân bằng với thế giới, chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩa thực tiễn của hoạt động nhận thức.

=> Kết luận: Như vậy, tất cả những học thuyết tâm lý nói trên đều có những đóng góp nhất định cho sự hình thành và phát triển của khoa học tâm lý. Song do những hạn chế lịch sử, họ thiếu một cơ sở phương pháp luận khoa học biện chứng, vì vậy họ vẫn chưa có quan điểm đầy đủ và đúng đắn về con người, về hoạt động tâm lý của con người… Sự ra đời của tâm lý học macxit hay còn gọi là tâm lý học hoạt động đã góp phần đáng kể vào việc khắc phục hạn chế nói trên và tiếp tục đưa tâm lý học lên đỉnh cao của sự phát triển.

 

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).