Hoạt động tập trung kinh tế ít nhiều đều có tầm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, cho dù hoạt động này diễn ra ở các nước phát triển hay đang phát triển. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của hoạt động tập trung kinh tế và nghiên cứu vấn đề kiểm soát hoạt động này là rất cần thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi xu hướng tập trung kinh tế đang diễn ra dưới nhiều góc độ, nhiều hình thức đa dạng.

Trong khoa học kinh tế, tập trung kinh,tế được nhìn nhận là chiến lược tích tụ vốn và tập trung sản xuất hình thành các chủ thể kinh doanh có quy mô lớn nhằm khai thác lợi thế nhờ quy mô. Trong quá trình kinh doanh, các chủ thể kinh doanh có quy mô lớn luôn tìm cách nâng cao áp lực cạnh tranh bụộc các doanh nghiệp nhỏ yếu hơn phải phụ thuộc vào mình. Mặt khác, các doanh nghiệp nhỏ yếu hơn phải sáp nhập vào doanh nghiệp lớn hoặc hợp nhất với nhau nếu muốn tồn tại. Tập trung kinh tế là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi cấu trúc thị trường. Theo đó, tập trung kinh tế dẫn đển việc giảm sổ lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông qua các hành vi sáp nhập hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sàn xuất. Cách hiểu tập trung kinh tể này đã chỉ ra nguyên nhân của tập trung kinh tế (thông qua việc sáp nhập, tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp) và dẫn đến hậu quả là làm giảm các doanh nghiệp trên thị trường. Khái niệm ưên đã coi tập trung kinh tế là kết quả của quá trình tích tụ tư bản.

Trong nền kinh tế thị trường, tập trung kinh tế là hoạt động phổ biến của các doanh nghiệp nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế, tạo ra các doanh nghiệp mới có quy mô lớn hơn trước. Vì vậy, tập trung kinh tế có thể hình thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền. Khi ở vào vị trí này, doanh nghiệp cố xu hướng lạm dụng vị trí của mình thực hiện các hành vi gây ảnh hưởng xẩu cho thị trường, cho doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Do đó, các hành vi tập trung kinh tế phải được pháp luật kiểm soát.

Dưới góc độ pháp luật, tập trung kinh tế được pháp luật của nhiều nước hưởng vào việc xác định các dấu hiệu cũng như hình thức thực hiện tập trung kinh tế mà không đưa ra quy định giải thích tập trung kinh tế là gì?

Theo Bộ luật thương mại của Pháp thì tập trung kinh tế được thực hiện trong các trường hợp:

1. Khi một hoặc nhiều người đã nắm quyền kiểm soát thứ nhất một doanh nghiệp hoặc khi một hoặc nhiều doanh nghiệp có được quyển kiểm soát đối với toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng cách góp vốn mua cỏ phần, giao kết hợp đồng hoặc một hình thức khác;

2. Việc thành lập một doanh nghiệp chung thực hiện một cách ổn định mọi chức năng của một thực thế kinh tế độc lập cấu thành một trường hợp tập trung kinh tế theo quy định của điểu này;

3. Quyền kiểm soát bao gồm các quyền, các hợp đồng hoặc mọi hình thức khác, khả năng thực hiện một sự ảnh hưởng hoặc tác động đến hoạt động của một doanh nghiệp, chủ yếu là:

- Các quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với toàn bộ hoặc một phần tài sản cùa một doanh nghiệp;

- Các quyền, hợp đồng có khả năng tạo ra tác động tương đoi với tổ chức, việc thảo luận và ra quyết định của các cơ quan trong một doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Vị trí thống lĩnh thị trường là gì ? Quy định về vị trí thống lĩnh thị trường

Theo pháp luật của Liên minh châu Âu, một dự án tập trung kinh tế thực hiện khi đáp ứng hai tiêu chí sau:

1) Thực hiện những hoạt động sáp nhập, hợp nhất và các hình thức khác mà qua đó một hoặc nhiều doanh nghiệp làm thay đổi lâu dài cơ cấu quyền kiểm soát của toàn bộ hoặc một sổ phần cùa một hoặc nhiều doanh nghiệp khác;

2) Dự án đó có quy mô cộng đồng châu Âu được đánh giá ttên cơ sở tiêu chí định lượng về doanh sổ.

Theo Luật chống hạn chế cạnh tranh Đức (năm 1957), tập trung kinh tế được thực hiện thông qua các hình thức như mua lại toàn bộ hoặc một phần lớn tài sản của doanh nghiệp khác (mua cổ phần và quyền bỏ phiếu của doanh nghiệp để chiếm 25% tới 50% cổ phần) để có được quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc từng phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác hoặc các hình thức liên kết khác giữa các doanh nghiệp để tạo tạo ra sự chi phối của một hoặc một số doanh nghiệp. Theo luật này, cũng được coi là hình thức tập trung kinh tế khi các doanh nghiệp liên kết mà có ít nhất nửa số thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc trong các doanh nghiệp trùng nhau.

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hình thức tập trung kinh tế. Theo Điều 29 Luật cạnh tranh năm 2018 thì tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp; hợp nhất doanh nghiệp; mua lại doanh nghiệp; liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Theo đó, các hình thức tập trung kinh tế ở Việt Nam nhìn chung giống với các hình thức tập trung kinh tế theo pháp luật các nước trên thế giới và cũng coi là con đường dẫn tới củng cố và gia tăng sức mạnh thị trường.

Trong kinh tế học và khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế tại Việt Nam được xem xét với ba cách tiếp cận cơ bản.
Một là, với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất
Hai là, với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại. Tư bản được hiểu là các giá trị kinh tế trên thị trường được sử dụng để tìm kiếm giá trị thặng dư như vốn, công nghệ, trình độ quản lý..) hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác. Khái niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh tế, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng.
Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế. Theo đó, khoản 3 Điều 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh.

2. Mục đích của tập trung kinh tế

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Tập trung kinh tế ngày càng trở nên thường xuyên và có quy mô ngày càng lớn. Thực tế này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu vì tập trung kinh tế luôn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp. Những mục đích chính của tập trung kinh tế, đó là:

- Tập trung kinh tế giúp cho doanh nghiệp tạo ra mô hình kinh doanh lớn nhằm tăng lợi thế kinh tế nhờ quy mô

- Tự bảo vệ trước nguy cơ bị nắm quyền kiểm soát tài chính bởi một tập đoàn khác mà doanh nghiệp không mong muốn

- Tập hợp các doanh nghiệp phân phối hoặc khách hàng vào một mối để đảm bảo tốt hơn nguồn cung ứng hoặc khả năng tiêu thụ sản phẩm

- Triển khai các chiến lược tập trung vào một số hoạt động hoặc đa dạng hoá hoạt động

- Đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn nước ngoài chiếm được chỗ đứng trên thị trường

-Tạo ra cơ hội xâm nhập vào các thị trường mới

3. Hình thức tập trung kinh tế.

Tập trung kinh tế bao gồm các hình thức sau đây: Sáp nhập doanh nghiệp; Hợp nhất doanh nghiệp; Mua lại doanh nghiệp; Liên doanh giữa các doanh nghiệp; Các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

3.1. Sáp nhập doanh nghiệp

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.

Theo pháp luật cạnh tranh, sáp nhập doanh nghiệp là một hình thức tập trung kinh tế nên bị kiểm soát nhằm ngăn ngừa khả năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường có thể dẫn đến thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh.

3.2. Hợp nhất doanh nghiệp

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.

Như vậy, sau khi đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt tồn tại, doanh nghiệp hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các doanh nghiệp bị hợp nhất.

3.3. Mua lại doanh nghiệp

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại.

Có một số ý kiến cho rằng mua lại toàn bộ doanh là hình thức sáp nhập doanh nghiệp bởi khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản của doanh nghiệp, được hưởng các quyền, nghĩa vụ và tính hợp pháp của doanh nghiệp đó. Về bản chất, việc mua lại không phải là quá trình thống nhất về tổ chức giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại.

3.4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp

Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.

Có thể thấy, hành vi liên doanh có một sự khác biệt cơ bản so với hành vi hợp nhất doanh nghiệp đó là sau khi các doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vu, lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới thì địa vị pháp lý của các doanh nghiệp đó vẫn còn tồn tại.

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ, quyền hạn thủ trưởng, cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ?

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban cạnh tranh quốc gia ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hợp nhất doanh nghiệp theo luật cạnh tranh?

Trả lời:

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.

Câu hỏi: Các hình thức của tập trung kinh tế?

Trả lời:

Tập trung kinh tế bao gồm các hình thức sau đây:

- Sáp nhập doanh nghiệp;

- Hợp nhất doanh nghiệp;

- Mua lại doanh nghiệp;

- Liên doanh giữa các doanh nghiệp;

- Các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luậ

Câu hỏi: Tập trung kinh tế bị cấm khi nào?

Trả lời:

Doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam.